Morimoto Takayuki

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Morimoto. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Morimoto Takayuki
Morimoto UDI-CAT 4-2.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Morimoto Takayuki
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Vị trí Tiền đạo/Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
JEF United Chiba
Số áo 30
CLB trẻ
1995–1998 Tsudayama
1998–2004 Tokyo Verdy
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2004–2006 Tokyo Verdy 46 (5)
2006–2011 Catania 81 (15)
2011– Novara 0 (0)
2012–2013 Catania 5 (0)
2013 Al Nasr (cho mượn) 13 (6)
2013– JEF United Chiba 73 (17)
Đội tuyển quốc gia
2004–2005 U-20 Nhật Bản (2)
2008 U-23 Nhật Bản 2 (0)
2009–2012 Nhật Bản 17 (4)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải vô địch quốc gia và cập nhật lúc 23 tháng 11, 2015.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 23 tháng 5, 2012

Morimoto Takayuki (森本 貴幸? Sâm Bản Quý Hạnh) (sinh ngày 7 tháng 5, 1988 tại Kawasaki, Kanagawa) là cầu thủ bóng đá người Nhật Bản đang thi đấu ở vị trí tiền đạo cho JEF United Chiba tại Giải bóng đá Hạng nhì Nhật BảnĐội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản.

Morimoto hiện đang giữ kỷ lục là cầu thủ trẻ nhất ra sân và ghi bàn tại J. League. Anh được so sánh với tiền đạo người Brasil Ronaldo hồi trẻ do giống nhau về vóc dáng, sức khỏe và tốc độ nên còn có biệt danh là "Ronaldo của Nhật Bản".[1][2]

Sự nghiệp thi đấu tại câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Morimoto được đào tạo ở câu lạc bộ Tsudayama năm 1995, trước khi chuyển đến Verdy Junior năm 1998. Sau 3 năm, Morimoto bắt đầu thi đấu cho Đội trẻ Verdy Junior năm 2001, và ở lại đây cho đến năm 2004 khi anh được bán cho Tokyo Verdy 1969.

FC Tokyo Verdy[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 13 tháng 3 năm 2004, Morimoto có trận đấu đầu tiên tại J. League khi vào sân trong trận đấu giữa Tokyo Verdy 1969 và Júbilo Iwata khi mới 15 tuổi, 10 tháng, 6 ngày để trở thành cầu thủ trẻ nhất ra sân tại J. League.[3] Anh ghi bàn thắng đầu tiên vào ngày 5 tháng 5 cùng năm vào lưới JEF United Ichihara, hai ngày trước sinh nhật lần thứ 16, giúp anh nắm giữ thêm kỷ lục là cầu thủ trẻ nhất ghi bàn tại J.League.[4] Anh đoạt danh hiệu Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất J. League mùa giải 2004.[5] Ngày 23 tháng 7 năm 2006, Tokyo Verdy 1969 thông báo đã thỏa thuận với Calcio Catania cho Morimoto đến Serie A thi đấu theo bản hợp đồng cho mượn có thời hạn 1 năm.[6]

Calcio Catania[sửa | sửa mã nguồn]

Morimoto có trận đấu đầu tiên tại Serie A vào ngày 28 tháng 1 năm 2007 trong trận đấu với Atalanta.[7] Anh vào sân ở phút 83 và ghi bàn gỡ hòa chỉ 5 phút sau đó.[8] Bàn thắng đầu tiên này cho Catania của Morimoto được đánh giá cỡ 1 triệu euro (tức 135 triệu Yên) ở Nhật Bản theo dự báo của 47% trong tổng số 70 chuyên gia kinh tế và quảng cáo được hỏi trong một cuộc nghiên cứu thị trường vì bàn thắng ở Serie A của Morimoto rất có ý nghĩa trong lĩnh vực truyền thông và hình ảnh.[9] Ngày 13 tháng 3 năm 2007, Morimoto mắc phải chấn thương dây chằng ở chân trái và khiến anh phải nghỉ thi đấu 6 tháng, tức là toàn bộ giai đoạn còn lại của mùa giải 2006–07.[3] Mặc dù Morimoto gặp phải chấn thương nghiêm trọng như vậy, Catania vẫn quyết định ký hợp đồng chính thức với anh vào tháng 6 năm 2007

Ngày 14 tháng 12 năm 2008, Morimoto gia hạn hợp đồng hợp đồng với Catania thêm ba năm, đến 2011.[10] Ngày 21 tháng 12, tại vòng 17 Serie A, anh lập được cú đúp trong chiến thắng 3-2 trước AS Roma[11] và được Goal.com bầu chọn vào đội hình tiêu biểu của vòng đấu.[12]

Mùa giải 2008–09, Morimoto ghi được 10 bàn thắng trong 25 trận thi đấu cũng như có nhiều đường chuền thành bàn. Tiền đạo người Brasil Alexandre Pato đã nói với báo Corriere Dello Sport rằng anh đánh giá Morimoto là cầu thủ trẻ xuất sắc nhất tại Serie A và so sánh Morimoto với Ronaldo.[13] Tuy nhiên đến mùa giải 2010-11, Morimoto chỉ ghi được một bàn thắng do không thể cạnh tranh nổi vị trí chính thức trong đội hình.

Novara Calcio[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 7 năm 2011, Catania chính thức xác nhận đã bán Morimoto cho câu lạc bộ vừa thăng hạng Serie A Novara theo một hợp đồng chia sẻ quyền sở hữu.[14] Chấn thương đã khiến Morimoto chỉ ra sân được 18 lần và ghi được 4 bàn. Cuối mùa giải 2011-12, Novara xuống hạng Serie B còn Morimoto trở về Catania ngày 21 tháng 6 năm 2012.

Ngày 7 tháng 1 năm 2013, Morimoto được đem cho câu lạc bộ Al Nasr, được dẫn dắt bởi cựu huấn luyện viên Catania là Walter Zenga, mượn cho đến ngày 30 tháng 6 năm 2013.

JEF United[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 8 năm 2013, Morimoto đã ký hợp đồng với JEF United Chiba tại Giải bóng đá Hạng nhì Nhật Bản, với phí chuyển nhượng không được tiết lộ.[15]

Sự nghiệp thi đấu tại đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Morimoto đã từng cùng đội tuyển U-20 Nhật Bản tham dự Giải U-20 châu Á 2004 và Giải U-20 Thế giới 2005.[16] Năm 2008, anh là thành viên của đội tuyển Olympic Nhật Bản tham dự Thế vận hội Mùa hè 2008 tại Bắc Kinh[17], nơi mà đội tuyển của anh đã rời giải với 3 trận thua và chỉ ghi được 1 bàn thắng.

Ngày 10 tháng 10 năm 2009, anh có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển Nhật Bản trong trận giao hữu thắng Scotland 2-0 khi vào sân thay cho tiền đạo Maeda Ryoichi.[18] 4 ngày sau đó, anh có bàn thắng đầu tiên trong màu áo đội tuyển trong chiến thắng 5-0 trước Togo.[19]

Ngày 10 tháng 5 năm 2010, anh có tên trong danh sách 23 cầu thủ Nhật Bản tham dự World Cup 2010 tại Nam Phi do huấn luyện viên Okada Takeshi công bố[20] nhưng không được ra sân trong cả 4 trận của đội tuyển tại giải này. Ngày 7 tháng 9, anh lập cú đúp trong chiến thắng 2-0 trước Guatemala.[21]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tokyo Verdy 1969

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê tính đến ngày 1 tháng 1, 2015.[22]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia1 Cúp liên đoàn2 Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Tokyo Verdy 1969 2004 22 4 - 2 0 24 4
2005 18 1 1 0 2 2 21 3
2006 6 0 - - 6 0
Tổng cộng 46 5 1 0 4 2 51 7
Catania 2006–07 5 1 - - 5 1
2007–08 14 1 3 1 - 17 2
2008–09 23 7 1 2 - 24 9
2009–10 27 5 4 1 - 31 6
2010–11 12 1 1 1 - 13 2
Tổng cộng 81 15 9 5 - 90 20
Novara 2011–12 18 4 1 0 - 19 4
Tổng cộng 18 4 1 0 - 19 4
Catania 2012–13 5 0 3 0 - 8 0
Tổng cộng 5 0 3 0 - 8 0
Al-Nasr 2012–13 13 6 3 1 6 3 22 10
Tổng cộng 13 6 3 1 6 3 22 10
JEF United 2013 12 2 2 0 - 14 2
2014 34 10 2 2 - 36 12
2015 27 5 3 0 - 30 5
Tổng cộng 73 17 7 2 - 80 19
Tổng cộng sự nghiệp 236 47 24 8 10 5 270 60

1Bao gồm Emperor's Cup, Coppa ItaliaUAE President's Cup.

2Bao gồm J. League CupAFC Champions League.

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 14 tháng 10, 2009 Rifu, Nhật Bản  Togo 5–0 Thắng Giao hữu
2. 7 tháng 9, 2010 Osaka, Nhật Bản  Guatemala 2–1 Thắng Giao hữu
3. 7 tháng 9, 2010 Osaka, Nhật Bản  Guatemala 2–1 Thắng Giao hữu

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Walker, Jeremy (ngày 8 tháng 4 năm 2004). “A view from a Brit: Mboma gives fatherly advice to Morimoto”. FC Japan. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2006. 
  2. ^ “10 cầu thủ châu Á hay nhất Italia”. Bongda.com.vn. Xa Lộ Tn Tức. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  3. ^ a ă L.Q (ngày 22 tháng 12 năm 2008). “Takayuki Morimoto - Hoa anh đào nở trên đất Ý”. Bongda24h. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  4. ^ “Morimoto, 15, breaks J-League record”. ESPNsoccernet. Ngày 5 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2006. 
  5. ^ “Japan – J-League Awards”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2006. 
  6. ^ “Japanese teen Morimoto seals loan move to Italy”. Reuters. Ngày 23 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2006. 
  7. ^ “Tactical Formation”. Football-Lineups.com. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2007. 
  8. ^ Gazzetta dello Sport (ngày 27 tháng 1 năm 2007). “Morimoto, favola di Catania” (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2007. 
  9. ^ “Thông tin”. Sài Gòn Giải Phóng Online. Xa Lộ Tin Tức. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  10. ^ “Takayuki Morimoto signs new Catania deal”. tribalfootball.com. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008. 
  11. ^ Zoro - Tân Thành (ngày 21 tháng 12 năm 2008). “Video clip trận Catania - Roma: Bất ngờ”. 24h.com.vn. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  12. ^ “Đội hình tiêu biểu vòng 17 Serie A”. Bongdaso. Webthethao. Ngày 23 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  13. ^ “Morimoto Meglio Di Balotelli”. goal.com. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2009. 
  14. ^ Salvatore Landolina (ngày 11 tháng 7 năm 2011). “Official: Takayuki Morimoto leaves Catania for Novara”. Calcio Catania. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2011. 
  15. ^ “Catania confirm Morimoto exit”. Yahoo! Eurosport UK. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  16. ^ Tom Adams. “Catania clinch Japanese deal”. Sky Sports. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  17. ^ Goal.com (ngày 14 tháng 7 năm 2008). “Japan Name Olympic Squad”. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008. 
  18. ^ “Morimoto impresses on Japan debut”. FIFA.com. Ngày 11 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  19. ^ “Young gun Morimoto opens account”. FIFA.com. Ngày 15 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  20. ^ Nhật Bản công bố danh sách 23 cầu thủ dự World Cup
  21. ^ Nguyên Chính (ngày 9 tháng 8 năm 2010). "Quái vật ngoài hành tinh" hạ Guatemala”. Thanh Nien Online. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2010. 
  22. ^ Japan – Takayuki Morimoto – Profile with news, career statistics and history – Soccerway

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]