Nakamura Shunsuke

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nakamura Shunshuke
中村 俊輔
Shunsuke2 20080622.png
Nakamura Shunsuke trong màu áo đội tuyển Nhật Bản thi đấu vào năm 2008
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Nakamura Shunshuke
Ngày sinh 24 tháng 6, 1978 (44 tuổi)
Nơi sinh Yokohama, Nhật Bản
Chiều cao 1,78 m (5 ft 10 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Yokohama FC
Số áo 46
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1986–1995 Yokohama F. Marinos
1991-1993 Tokyo Gakuen High School
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1997-2002 Yokohama F. Marinos 148 (33)
2002–2005 Reggina 81 (11)
2005–2009 Celtic 128 (29)
2009–2010 Espanyol 13 (0)
2010–2016 Yokohama F. Marinos 190 (35)
2017–2019 Júbilo Iwata 48 (5)
2019- Yokohama FC 36 (1)
Tổng cộng 613 (113)
Đội tuyển quốc gia
1997 U-20 Nhật Bản 5 (1)
2000 U-23 Nhật Bản 4 (0)
2001–2010[1] Nhật Bản 98 (24)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến ngày 17 tháng 7 năm 2016

Nakamura Shunsuke (中村 (なかむら) 俊輔 (しゅんすけ) (Trung Thôn Tuấn Phụ)?) (sinh ngày 24 tháng 6 năm 1978 tại Yokohama) là một cầu thủ bóng đá nổi tiếng của Nhật Bản bên cạnh đàn anh Nakata Hidetoshi.

Nakamura Shunsuke đang thi đấu cho câu lạc bộ Yokohama FC tại giải J1 League với vai trò là một tiền vệ tấn công. Anh là người đầu tiên và cũng là duy nhất được hơn một lần vinh danh cho giải thưởng cầu thủ xuất sắc nhất J.League vào các năm 2000 và 2013.[2] Anh được biết đến với khả năng quan sát, chạm bóng, sút bóng xoáy và những quả đá phạt trực tiếp đã làm nên thương hiệu của mình. Steve Perryman từng nhận xét rằng Nakamura "có thể mở một hộp đậu bằng cái chân trái của mình".[3]

Nakamura bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp của mình vào năm 1997 với việc đầu quân cho câu lạc bộ Yokohama Marinos ở giải J1 League,[4][note 1], và đây cũng là câu lạc bộ anh khoác áo nhiều nhất với 338 mùa ra sân với hơn 12 mùa giải, tính cả lần anh quay trở lại khoác áo đội bóng này vào năm 2010.[5] Ở giữa những lần ra đi và tái hợp với Marinos đó, Nakamura đã khoác áo ba câu lạc bộ ở châu Âu gồm Espanyol, CelticReggina. Trong khoảng thời gian chơi cho Celtic, anh trở thành một trong những cầu thủ châu Á hay nhất từng chơi ở châu Âu và nằm trong danh sách đề cử cho danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu 2007,[6]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên người ta biết đến Nakamura khi anh học lớp năm. Khi đó, đội tuyển "all star" của học sinh lớp 6 thành phố Yokohama được thành lập để đi du đấu tại Liên Xô, nhưng để tăng cường sức mạnh họ đã phải vời đến chú bé lớp dưới với chiếc chân trái rất đặc biệt. Năm 1994 anh từ chối nhiều lời mời từ các câu lạc bộ chuyên nghiệp để bước vào ngưỡng cửa trường trung học Toko Gakuen ở Kawasaki. Giải vô địch bóng đá trung học Nhật Bản chính là nơi Nakamura chứng tỏ tài năng đặc biệt của mình. Năm 1995 anh là cầu thủ xuất sắc nhất giải, để một năm sau dẫn dắt các đồng đội đi đến trận chung kết.

Anh bắt đầu thi đấu chuyên nghiệp vào năm 1997 khi gia nhập đội bóng Yokohama Marinos, từ đó tài năng của anh được phát hiện và anh gia nhập đội tuyển Olympic quốc gia ít lâu sau đó.

Anh chuyển sang thi đấu tại châu Âu vào năm 2002 và đã gặt hái được nhiều thành công cho đội bóng Reggina Calcio, giúp cho đội bóng này trụ hạng thành công. Đã nhiều năm trôi qua kể từ ngày Nakamura bước chân vào làng bóng đá chuyên nghiệp. Anh đã trải qua những năm tháng đầy thành công ở trong nước, quảng thời gian 3 năm chìm trong chấn thương tại Serie A khắc nghiệt, để rồi cập bến Celtic, đội bóng hàng đầu của Scotland.

Trước khi đến với Celtic, Nakamura đã khước từ nhiều lời mời từ Tây Ban Nha. Các chuyên gia bóng đá Nhật Bản đã tỏ ra rất lo ngại việc một cầu thủ có thể hình nhỏ bé, cùng lối chơi kỹ thuật như anh đã chọn Scotland, giải đấu mà sân bóng được ví như "chiến trường", nơi những gã to xác thường là người thắng thế. Nhưng Nakamura vẫn trụ vững, hay chính xác hơn là tỏa sáng. Nakamura bắt đầu chính phục người hâm mộ xứ Scotland với cái chân trái điệu nghệ, và đặc biệt là tài đá phạt xuất chúng.

Ở cấp độ đội tuyển quốc gia, anh cũng đã gặt hái nhiều thành công cho đội tuyển:

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia [1][sửa | sửa mã nguồn]

ĐTQG Nhật Bản
Năm Số trận Bàn thắng
2000 16 3
2001 1 0
2002 6 2
2003 8 4
2004 15 3
2005 11 3
2006 6 1
2007 10 4
2008 9 2
2009 11 2
2010 5 0
Tổng cộng 98 24
Danh sách các bàn thắng quốc tế của Shunsuke Nakamura[7]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 16 tháng 2 năm 2000 Ma Cao  Brunei 9–0 Vòng loại Asian Cup 2000
2 11 tháng 6 năm 2000 Sân vận động Miyagi, Rifu, Nhật Bản  Slovakia 1–1 Cúp Kirin
3 16 tháng 8 năm 2000 Hiroshima Big Arch, Hiroshima, Nhật Bản  UAE 3–1 Giao hữu
4 2 tháng 5 năm 2002 Sân vận động Kobe Wing, Kobe, Nhật Bản  Honduras 3–3 Cúp Kirin
5
7 18 tháng 6 năm 2003 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  New Zealand 3–0 FIFA Confederations Cup 2003
8
9 20 tháng 6 năm 2003 Sân vận động Geoffroy-Guichard, Saint-Étienne, Pháp  Pháp 1–2
10 9 tháng 6 năm 2004 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Ấn Độ 7–0 Vòng loại World Cup 2006
11 20 tháng 7 năm 2004 Trung tâm Thể thao Olympic Trùng Khánh, Trùng Khánh, Trung Quốc  Oman 1–0 Asian Cup 2004
12 24 tháng 7 năm 2004  Thái Lan 4–1
13 22 tháng 6 năm 2005 Sân vận động RheinEnergie, Köln, Đức  Brasil 2–2 FIFA Confederations Cup 2005
14 7 tháng 9 năm 2005 Sân vận động Miyagi, Rifu, Nhật Bản  Honduras 5–4 Giao hữu
15 8 tháng 10 năm 2005 Riga, Latvia  Latvia 2–2
16 12 tháng 6 năm 2006 Sân vận động Fritz Walter, Kaiserslautern, Đức  Úc 1–3 World Cup 2006
17 13 tháng 7 năm 2007 Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Việt Nam  UAE 3–1 Asian Cup 2007
18 16 tháng 7 năm 2007  Việt Nam 4–1
19 11 tháng 9 năm 2007 Sân vận động Wörthersee, Klagenfurt, Áo  Thụy Sĩ 4–3 Giao hữu
20
21 2 tháng 6 năm 2008 Sân vận động Quốc tế Yokohama, Yokohama, Nhật Bản  Oman 3–0 Vòng loại World Cup 2010
22 6 tháng 9 năm 2008 Sân vận động Quốc gia Bahrain, Manama, Bahrain  Bahrain 3–2
23 28 tháng 3 năm 2009 Sân vận động Saitama, Saitama, Nhật Bản  Bahrain 1–0
24 18 tháng 11 năm 2009 Sân vận động Hồng Kông, Hồng Kông  Hồng Kông 4–0 Vòng loại Asian Cup 2011

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Celtic

Yokohama F. Marinos

  • J.League Cup: 2001
  • Emperor's Cup: 2013

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ xuất sắc nhất J.League: 2000, 2013
  • Đội hình tiêu biểu J.League: 1999, 2000, 2013
  • Cầu thủ Nhật Bản xuất sắc nhất năm: 2000, 2013
  • Cầu thủ xuất sắc nhất AFC Asian Cup: 2004
  • SPFA Players' Player of the Year: 2006–07
  • SFWA Footballer of the Year: 2006–07
  • Cầu thủ Celtic xuất sắc nhất mùa giải: 2006–07
  • Cầu thủ xuất sắc nhất mùa của Celtic do fan bình chọn: 2006–07
  • Scottish PFA's Team of the Season: 2006–07
  • Scottish PFA's Goal of the Season: 2006–07

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b “NAKAMURA Shunsuke”. Japan National Football Team Database.
  2. ^ “11/12/2013 Marinos midfielder Nakamura named J. League MVP”. Japanese Football Association.
  3. ^ “Shunsuke Nakamura: Japan star player at World Cup 2010”. The Telegraph.
  4. ^ Greig 2008, tr. 128.
  5. ^ “Nakamura leaves Marinos to join Jubilo”. The Japan Times. 8 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2017.
  6. ^ “Ballon d'Or nominees”. Sky Sports. ngày 22 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2014.
  7. ^ Shunsuke Nakamura - International Appearances Lưu trữ 2015-02-15 tại Wayback Machine.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “note”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="note"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu