Luis Enrique (cầu thủ bóng đá)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Luis Enrique
2015 UEFA Super Cup 66.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Luis Enrique Martínez García
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)
Vị trí Tiền vệ
CLB trẻ
1981–1988 Sporting Gijón
1984–1988 → La Braña (mượn)
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1988–1990 Sporting B
1989–1991 Sporting Gijón 36 (14)
1991–1996 Real Madrid 157 (15)
1996–2004 Barcelona 207 (73)
Tổng cộng 400 (102)
Đội tuyển quốc gia
1990–1991 U-21 Tây Ban Nha 5 (0)
1991–1992 U-23 Tây Ban Nha 14 (3)
1991–2002 Tây Ban Nha 62 (12)
Huấn luyện
2008–2011 Barcelona B
2011-2012 A.S. Roma
2013-2014 Celta
2014-2017 Barcelona
2018- Việt Nam
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).
Thành tích Huy chương Olympic
Đại diện cho  Tây Ban Nha
Bóng đá nam
Huy chương vàng – vị trí thứ nhất Barcelona 1992 Giải đấu

Luis Enrique, tên đầy đủ Luis Enrique Martínez García, (sinh 8 tháng 5 năm 1970 tại Gijon) là một cựu cầu thủ và huấn lyện viên bóng đá người Tây Ban Nha.

Anh nổi tiếng với sự nhanh nhẹn và có thể chơi được tất cả các vị trí trong sự nghiệp bóng đá của mình, thậm chí là cả trung vệ hay là thủ môn. Tuy nhiên anh chơi tốt hơn cả với vài trò là tiền về trung tâm, và anh đã ghi được nhiều bàn thắng trong sự nghiệp thi đấu của mình. Sau khi khởi đầu sự nghiệp của mình tại Sporting de Gijón năm 1989, anh gắn bó với cả hai câu lạc bộ lớn của Tây Ban Nha, đầu tiên là Real Madrid từ năm 1991-96 và rồi anh chuyển sang FC Barcelona theo kiểu chuyển nhượng tự do. Câu lạc bộ này không mấy tin tưởng vào người mới của mình tuy nhiên anh đã nhanh chóng lấy được niềm tin của họ và chẳng bao lâu sau anh trở thành đội trưởng của Barcelona. Anh thi đấu cho Barca trong 8 năm (1996-2004).

Anh chơi cho đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha ở 3 kỳ World Cup: 1994, 1998, 2002 và kỳ Euro 1996. Anh khoác ao đội tuyển những chú bò tót này 62 lần và ghi được 12 bàn thắng. Anh cũng là thành viên đội tuyển Tây Ban Nha giành huy chương vàng Olympic mùa hè 1992 ở Barcelona.

Ngày 10 tháng 8 năm 2004 anh giải nghệ ở tuổi 34.[1] Vào tháng 3 năm 2004, anh được bầu vào danh sách FIFA 100.[2]

Năm 2008, Enrique là huấn luyện viên đội Barca B và giúp đội bóng này giành 2 Secunda Liga liên tiếp 2009-2010 và 2010-2011. Mối quan hệ thân thiết của ông với người đồng đội cũ, Pep Guardiola - người cũng được bổ nhiệm cùng lúc làm huấn luyện viên F.C. Barcelona vào năm 2008 và đưa đội bóng trở lại hình ảnh số 1 thế giới - giúp cho đội Barca B và lò đào tạo La Masia có được vô cùng nhiều danh tiếng trong việc đào tạo trẻ và đưa họ lên đội hình 1.

Năm 2011, quyết tâm đi tìm thử thách mới, Luis Enrique quyết định làm huấn luyện viên của A.S. Roma. Tháng 7 năm 2013, Enrique là huấn luyện viên của Celta Vigo. Tháng 6 năm 2014, Enrique trở thành huấn luyện viên của FC Barcelona.[3]Năm 2017, ông chia tay đội bóng.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid
  • Vô địch La Liga: 1995[4]
  • Vô địch Cúp nhà vua (Copa del Rey): 1993[5]
  • Vô địch Siêu cúp Tây Ban Nha (Supercopa de Espana): 1993[6]
FC Barcelona
U23 Tây Ban Nha
  • Vô địch thế vận hội mùa hè (Summer Olympics): 1992[13]

Sự nghiệp huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

FC Barcelona[14]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Luis Enrique bows out; BBC Sport, 10 August 2004
  2. ^ Pele's list of the greatest; BBC Sport, 4 March 2004
  3. ^ “Barcelona appoint Luis Enrique as first-team coach”. BBC Sport. 19 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  4. ^ “Un pasillo y muchos bostezos” [Guard of honour and yawns aplenty] (bằng tiếng Spanish). Mundo Deportivo. 11 tháng 6 năm 1995. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015. 
  5. ^ “Una Copa para el consuelo” [Consolation Cup] (bằng tiếng Spanish). Mundo Deportivo. 27 tháng 6 năm 1993. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015. 
  6. ^ “El Barça se estrella contra la mala suerte” [Barça crashes into bad luck] (bằng tiếng Spanish). Mundo Deportivo. 17 tháng 12 năm 1993. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015. 
  7. ^ “Adiós con sonrojo” [Embarrassing goodbye] (bằng tiếng Spanish). Mundo Deportivo. 16 tháng 5 năm 1998. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015. 
  8. ^ “Despedida a lo gran campeón” [Curtain call as a great champion] (bằng tiếng Spanish). Mundo Deportivo. 14 tháng 6 năm 1999. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015. 
  9. ^ “Barça de titanes” [Titanic Barça] (bằng tiếng Spanish). Mundo Deportivo. 29 tháng 6 năm 1997. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015. 
  10. ^ “La Copa más histórica” [The most historical Cup] (PDF) (bằng tiếng Spanish). Mundo Deportivo. 30 tháng 4 năm 1998. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015. 
  11. ^ “Título con súper-susto” [Title with mega-scare] (bằng tiếng Spanish). Mundo Deportivo. 29 tháng 8 năm 1996. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015. 
  12. ^ “1996/97: Ronaldo spot on for Barça. UEFA.com. 14 tháng 5 năm 1997. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015. 
  13. ^ “El triunfo en el fútbol, broche de oro para España en Barcelona 92” [Football win, icing on the cake for Spain in Barcelona 92] (bằng tiếng Spanish). Dame Un Silbidito. Tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015. 
  14. ^ “Luis Enrique”. Soccerway. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]