RC Celta de Vigo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Celta de Vigo)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Celta Vigo
Club crest
Tên đầy đủReal Club Celta de Vigo, S.A.D.
Biệt danhCélticos (The Celts/Celtics)
Celestes (The Sky Blues)
O Celtiña (The Lovely/Little Celta)
Thành lập23 tháng 8 năm 1923; 97 năm trước (1923-08-23)
Sân vận độngBalaídos
Sức chứa sân29,000[1]
Sân cỏ Tọa độ42°12′42,6″B 8°44′22,9″T / 42,2°B 8,73333°T / 42.20000; -8.73333Tọa độ: 42°12′42,6″B 8°44′22,9″T / 42,2°B 8,73333°T / 42.20000; -8.73333
Chủ sở hữuCarlos Mouriño
PresidentCarlos Mouriño
Head coachÓscar García Junyent
Giải đấuLa Liga
2019–20La Liga, 17th
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Mùa giải hiện nay

Real Club Celta de Vigo (phát âm tiếng Galicia[reˈal ˈkluβ ˈθeltɐ ðɪ ˈβiɣʊ]; Câu lạc bộ Hoàng gia Celta de Vigo), thường được gọi là Celta Vigo hoặc đơn giản là Celta, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Tây Ban Nha có trụ sở tại Vigo, Galicia, hiện đang chơi ở La Liga. CLB này được thành lập vào ngày 23 tháng 8 năm 1923 sau khi sáp nhập Real Vigo Sports và Real Fortuna Football Club. Với biệt danh Os Celestes (The Sky Blues), câu lạc bộ này có những chiếc áo và vớ đấu màu xanh da trời cùng với quần short trắng. Sân vận động của câu lạc bộ là Balaídos, với sức chứa 29.000 khán giả. Tên của Celta bắt nguồn từ người Celts đã từng sinh sống trong khu vực. Đối thủ chính của nó là câu lạc bộ vùng Galicia Deportivo de La Coruña, với các trận derby vùng Galicia.

Celta chưa bao giờ giành được chức vô địch quốc gia cũng như Copa del Rey, mặc dù họ đã lọt vào trận chung kết Copa del Rey ba lần. Thành tích tốt nhất của Câu lạc bộ này ở giải quốc gia là vị trí thứ tư vào các năm 2002 2002, 03, đủ điều kiện tham dự UEFA Champions League 2003-04, tại đó họ bị Arsenal loại ở vòng 16 đội. Tại giải đấu UEFA Europa League 2016, Celta lần đầu tiên lọt vào bán kết, thua Manchester United.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Campo de Coia (1908 Từ1928)
Câu lạc bộ Real Celta de Vigo vs SC Braga năm 1945

RC Celta de Vigo được thành lập nhờ tham vọng của các đội bóng Vigo mong đạt được nhiều thành tích hơn ở cấp quốc gia, nơi các đội bóng xứ Basquebête noire của họ trong Giải vô địch Tây Ban Nha. Ý tưởng là hợp nhất cả hai đội bóng để tạo ra một đội mạnh hơn ở cấp quốc gia. Người mang tiêu chuẩn của phong trào này là Manuel de Castro, được biết đến với cái tên "Handicap", một nhà văn thể thao cho Faro de Vigo, từ năm 1915, bắt đầu viết trong các bài viết của mình về sự cần thiết của một phong trào phi quân sự. Khẩu hiệu của phong trào của ông là "Todo por y para Vigo" ("Tất cả cho và cho Vigo"), cuối cùng đã tìm thấy sự hỗ trợ giữa các nhà quản lý của Real Vigo SportsReal Club Fortuna de Vigo. Nó được ủng hộ nhất trí khi chính de Fidel trình bày chuyển động tại hội nghị của Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban NhaMadrid vào ngày 22 tháng 6 năm 1923.

Vào ngày 12 tháng 7 năm 1923, tại các cuộc họp chung hàng năm (AGM) của Vigo và Fortuna được tổ chức tại Nhà hát Odeon và tại Khách sạn Moderno, việc sáp nhập đã được phê duyệt. Do đó, "Đội Galicia" đã ra đời, vì nó được mệnh danh là. Trong ĐHCĐ cuối cùng của Fortuna và Vigo để phê duyệt việc thành lập một câu lạc bộ mới được tổ chức vào ngày 10 tháng 8 năm 1923, các thành viên đã quyết định tên của đội. Nhiều cái tên khác nhau được đề xuất bao gồm "Real Unión de Vigo", "Club Galicia", "Real Atlántic", "Breogán" và "Real Club Olimpico". Tên thứ hai là phổ biến, nhưng cuối cùng họ đã quyết định chọn tên "Real Club Celta", một chủng tộc liên kết với Galicia (xem Celts). Chủ tịch đầu tiên của Celta là Manuel Bárcena de Andrés, Bá tước Torre Cedeira. Tại ĐHCĐ này, đội hình cũng đã được quyết định, trong đó có tổng số 64 cầu thủ và bao gồm một số cầu thủ đáng chú ý từ cả Fortuna và Vigo, và được quản lý bởi Francis Cuggy.

Vào năm 1947, 1/48, Celta xếp hạng 4 chung cuộc (với 2003) và lọt vào Chung kết Copa del Generalísimo, nơi họ thua 4-1 trước Sevilla FC. Tiền đạo địa phương Pahiño, người đã giành Cúp Pichichi cho 21 bàn sau 22 trận mùa đó, sau đó chuyển đến Real Madrid.[2]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 31 tháng 1 năm 2020[3]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Tây Ban Nha TM Iván Villar
2 Tây Ban Nha HV Hugo Mallo (Đội trưởng)
4 México HV Néstor Araujo
5 Thổ Nhĩ Kỳ TV Okay Yokuşlu
6 Tây Ban Nha TV Denis Súarez
7 Tây Ban Nha Álvaro Vadillo
8 Tây Ban Nha TV Fran Beltrán
9 Tây Ban Nha Nolito
10 Tây Ban Nha Iago Aspas (Đội phó)
11 Thổ Nhĩ Kỳ Emre Mor
13 Tây Ban Nha TM Rubén Blanco
14 Peru TV Renato Tapia
Số áo Vị trí Cầu thủ
15 Uruguay HV Lucas Olaza (cho mượn từ Boca Juniors)
16 Tây Ban Nha HV Jorge (cho mượn từ Valencia)
17 Tây Ban Nha HV David Juncà
18 Ghana HV Joseph Aidoo
19 Uruguay Gabriel Fernández
20 Tây Ban Nha HV Kevin
22 Tây Ban Nha Santi Mina
23 Tây Ban Nha TV Brais Méndez
24 Colombia HV Jeison Murillo (cho mượn từ Sampdoria)
25 Tây Ban Nha TM Sergio (Đội phó thứ 3)
27 Tây Ban Nha TV Miguel Baeza
Tây Ban Nha HV David Costas

Đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
29 Tây Ban Nha HV José Fontán
31 Tây Ban Nha HV Gabri Veiga
Số áo Vị trí Cầu thủ
32 Tây Ban Nha Miguel Rodríguez
35 Tây Ban Nha TM Raúl García

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
Tây Ban Nha TV Jozabed (tại Málaga đến 30 June 2021)
Uruguay Gabriel Fernández (tại Zaragoza đến 30 June 2021)
Số áo Vị trí Cầu thủ
Tây Ban Nha Juan Hernández (tại Sabadell đến 30 June 2021)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Instalaciones”. Real Club Celta de Vigo. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2019. 
  2. ^ “Fallece Pahíño [sic], histórico goleador del fútbol español” [Pahiño, historic goalscorer of Spanish football, dies]. Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ngày 12 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2020. 
  3. ^ “RC Celta » Squad”. Celta de Vigo.