Pelé

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Pelé
Pele200802FabioRodriguesPozzebomAgenciaBrasil.jpg
Pelé năm 2008
Sinh Edson Arantes do Nascimento[1]
23 tháng 10, 1940 (78 tuổi)[1]
Três Corações, Brasil
Nghề nghiệp cầu thủ bóng đá (về hưu),
nhà hoạt động nhân quyền
Chiều cao 1,73 m (5 ft 8 in)
Phối ngẫu Rosemeri dos Reis Cholbi (k. 1966–1982)
Assíria Lemos Seixas (k. 1994)
Người tình Xuxa (1981–86)
Con cái
Cha mẹ Dondinho, Dona Celeste Arantes
Website www.pele10.com

Hiệp hội bóng đá nghề nghiệp
Vị trí Tiền đạo[2][3][4][5]
Tiền vệ công[6][7][8][9][10]
CLB trẻ
1953–1956 Bauru
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1956–1974 Santos 638 (619)
1975–1977 New York Cosmos[11] 56 (31)
Tổng cộng 694 (650)
Đội tuyển quốc gia
1957–1971 Brazil 92 (77)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Edson Arantes do Nascimento, được biết đến nhiều với tên Pelé, là một cựu cầu thủ bóng đá nổi tiếng người Brazil. Ông được xem là cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất mọi thời đại. Vào năm 1999, ông được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỉ 20 bởi hiệp hội IFFHS. Cũng trong năm đó, ông được IOC bầu chọn là Vận động viên của thế kỉ và được tạp chí TIME đưa vào danh sách 100 người có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Vào năm 2013, ông được FIFA trao tặng giải thưởng Quả bóng vàng danh dự (Ballon d'Or Prix d'Honneur).

Được phát hiện từ khi còn rất trẻ, Pelé bắt đầu chơi ở Santos Futebol Clube khi mới 15 tuổi, ở đội tuyển quốc gia khi 16 tuổi và lần đầu đoạt Cúp Thế giới khi mới ở tuổi 17. Trong sự nghiệp quốc tế của mình, ông đã giành được ba Cúp thế giới của FIFA vào các năm 1958, 19621970, và là cầu thủ duy nhất từng làm như vậy. Pelé là cầu thủ ghi bàn hàng đầu mọi thời đại của Brazil với 77 bàn thắng trong 92 trận đấu. Ở cấp câu lạc bộ, ông là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho Santos, và đưa đội bóng đến chức vô địch Copa Libertadores năm 1962 và 1963. "Cách chơi bùng nổ và thiên hướng ghi bàn ngoạn mục" của Pelé đã biến ông thành một ngôi sao trên khắp thế giới, và các đội của ông đã lưu diễn quốc tế để tận dụng lợi thế của sự nổi tiếng của ông. Kể từ khi nghỉ hưu năm 1977, Pelé đã là một đại sứ trên toàn thế giới về bóng đá và đã có nhiều liên doanh về diễn xuất và thương mại. Năm 2010, ông được bổ nhiệm làm Chủ tịch danh dự của New York Cosmos.

Pelé cũng đã được biết đến với việc kết nối cụm từ "The Beautiful Game" với bóng đá. Một cầu thủ ghi bàn phong phú, Pelé đã được biết đến với khả năng thực hiện những cú sút mạnh mẽ và chính xác với cả hai chân cùng với việc dự đoán di chuyển của đối thủ trên sân. Trong phần đầu sự nghiệp của mình, Pelé chơi bóng trong hàng loạt các sơ đồ tấn công và sử dụng kỹ năng lừa bóng của mình để đi qua đối thủ. Sau này, ông đóng vai trò kiến thiết bóng phía sau tiền đạo tấn công. Ở Brazil, Pelé được ca ngợi là một anh hùng dân tộc vì những thành tựu của mình trong bóng đá và sự hỗ trợ thẳng thắn của ông về các chính sách cải thiện điều kiện xã hội của người nghèo. Trong suốt sự nghiệp của mình và trong thời gian nghỉ hưu, Pelé đã nhận được nhiều giải thưởng cá nhân và nhóm cho màn trình diễn của ông trong bóng đá, cho những thành tích kỷ lục và cho di sản của ông trong môn thể thao này.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Pele được sinh ra tại Três Corações, Minas Gerais, Brazil, con trai của cầu thủ bóng đá Fluminense Dondinho (tên khai sinh: João Ramos do Nascimento) và Celeste Arantes. Ông là anh lớn của hai anh em ruột.[12] Ông được đặt tên theo nhà phát minh người Mỹ Thomas Edison.[13] Cha mẹ ông đã quyết định bỏ đi chữ "i" và gọi ông là "Edson", nhưng có một lỗi trên giấy khai sinh, nên nhiều tài liệu đã đưa tên ông như là "Edison" chứ không phải "Edson".[14] Ban đầu ông có biệt danh Dico do gia đình đặt cho.[15] Ông đã nhận được biệt danh là "Pelé" trong những ngày đi học, theo kể lại ông đã có biệt danh như vậy vì tên của cầu thủ ưa thích của ông, thủ môn của đội Vasco da Gama Bilé, đã bị ông phát âm sai thành Pelé nhưng khi ông càng thanh minh thì càng bị gọi như vậy. Trong cuốn tự truyện của mình, Pele tuyên bố ông và bạn bè ông lúc đó không biết biệt danh đó có nghĩa gì. Ngoài việc phát âm nhầm như trên, và Pelé trong tiếng Hebrew có nghĩa là "phép lạ" (פֶּ֫לֶא), từ này không có ý nghĩa gì nổi bật trong tiếng Bồ Đào Nha.[16]

Pelé lớn lên trong đói nghèo ở Baurubang São Paulo. Ông kiếm tiền bằng cách làm việc trong các cửa hàng chè như một người phục vụ. Được cha dạy đá bóng, nhưng anh không có được một quả bóng đá phù hợp và thường chơi bóng với một cái túi nhồi báo được buộc chặt.[17] Khi còn nhỏ ông chơi cho một số đội nghiệp dư: Sete de Setembro, Canto do Rio, São Paulinho, và Amériquinha.[18][19] Pelé đã cùng với Bauru Athletic Club juniors (huấn luyện viên Waldemar de Brito) giành ba chức vô địch toàn bang São Paulo liên tiếp từ năm 1954 đến năm 1956.[20] Ông cũng thống trị các cuộc thi đấu bóng bầu dục ở Futebol de Salão trong khu vực và giành được nhiều chức vô địch với đội địa phương Radium.[20]

Theo Pelé, bóng đá trong nhà có những thách thức khó khăn; ông nói nó nhanh hơn rất nhiều so với bóng đá trên sân cỏ và người chơi phải suy nghĩ nhanh hơn vì mọi người ở khoảng cách gần hơn. Pelé công nhận bóng đá trong nhà đã giúp ông suy nghĩ tại chỗ tốt hơn. Ngoài ra, bóng đá trong nhà cho phép ông chơi với người lớn khi ông mới khoảng 14 tuổi. Trong một trong các giải đấu mà Pelé được tham gia, ban đầu ông được coi là quá trẻ để chơi, nhưng cuối cùng Pelé đã kết thúc giải với tư cách cầu thủ ghi bàn hàng đầu với mười bốn hoặc mười lăm bàn thắng. "Điều đó đã cho tôi rất nhiều tự tin", Pelé nói, "Tôi biết sau đó tôi sẽ không sợ bất cứ điều gì có thể đến".[21]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Santos[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1956, de Brito đưa Pelé đến Santos, một thành phố cảng công nghiệp nằm gần São Paulo, để thử đá chuyên nghiệp với câu lạc bộ chuyên nghiệp Santos FC. Ông nói với các giám đốc ở Santos rằng cầu thủ 15 tuổi này sẽ là "cầu thủ bóng đá vĩ đại nhất thế giới. ”[22] Pelé đã gây ấn tượng với HLV Santos Lula trong thời gian thử việc tại Estádio Vila Belmiro, và ông đã ký hợp đồng chuyên nghiệp với câu lạc bộ vào tháng 6 năm 1956.[23] Pelé được quảng cáo rất mạnh trong các phương tiện truyền thông địa phương như một siêu sao trong tương lai. Ông đã ra mắt đội hình chính thức vào ngày 7 tháng 9 năm 1956 ở tuổi 15 với Corinthians Santo Andre và có một màn trình diễn ấn tượng hôm đó trong chiến thắng 7–1 của đội bóng, ghi bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp sung mãn của mình.[24][25]

Khi mùa giải 1957 bắt đầu, Pelé đã được trao một vị trí xuất phát trong đội hình chính và ở tuổi 16, trở thành cầu thủ ghi bàn hàng đầu trong giải đấu. Mười tháng sau khi ký hợp đồng chuyên nghiệp, ông được gọi lên đội tuyển quốc gia Brazil. Sau World Cup 1962, các câu lạc bộ châu Âu giàu có như Real Madrid, JuventusManchester United đã cố gắng để ký được hợp đồng với ông, nhưng chính phủ Brazil dưới quyền Tổng thống Jânio Quadros đã tuyên bố Pelé là "kho báu quốc gia chính thức" vào năm trước đó để ngăn chặn việc chuyển nhượng Pelé ra khỏi đất nước này.[17][26]

Pelé trong đội hình Santos tại Hà Lan, tháng 10 năm 1962

Pelé giành danh hiệu lớn đầu tiên của mình với Santos vào năm 1958 khi đội giành được Campeonato Paulista; Pelé kết thúc giải đấu với tư cách là cầu thủ ghi bàn hàng đầu với 58 bàn thắng,[27] một kỷ lục đứng vững cho tới ngày nay. Một năm sau, ông giúp đội giành chiến thắng đầu tiên tại Torneio Rio-São Paulo với tỷ số 3-0 trước Vasco da Gama.[28] Tuy nhiên, Santos không thể giữ lại danh hiệu Paulista. Năm 1960, Pelé ghi 33 bàn thắng để giúp đội của mình giành lại danh hiệu Campeonato Paulista nhưng đã thua trong giải đấu Rio-São Paulo sau khi kết thúc ở vị trí thứ 8.[29] Trong mùa giải 1960, Pelé ghi được 47 bàn và giúp Santos tiếp tục vô địch Campeonato Paulista. Câu lạc bộ tiếp tục chiến thắng Taça Brasil cùng năm đó, đánh bại Bahia trong trận chung kết; Pelé trở thành cầu thủ ghi bàn hàng đầu của giải đấu với 9 bàn thắng. Chiến thắng này cho phép Santos tham gia Copa Libertadores, giải đấu câu lạc bộ uy tín nhất ở Tây bán cầu.[30]

"Tôi đến với hy vọng để ngăn chặn một người vĩ đại, nhưng sau đó tôi đã được thuyết phục rằng đã được tôi đã đối đầu với một người không được sinh ra trên cùng một hành tinh như phần còn lại của chúng ta."

—Thủ môn đội Benfica Costa Pereira phát biểu sau trận thua Santos năm 1962.[31]

Mùa Copa Libertadores thành công nhất của Santos bắt đầu vào năm 1962,[32] đội được làm đội hạt giống trong bảng 1 cùng với Cerro PorteñoDeportivo Municipal Bolivia. Santos chiến thắng mọi trận đấu trong nhóm của họ trừ một trận hòa 1–1 lượt đi với Cerro. Santos đánh bại Universidad Católica ở bán kết và gặp nhà đương kim vô địch Peñarol trong trận chung kết. Pelé ghi hai bàn trong trận playoff và giành danh hiệu vô địch Copa Libertadores đầu tiên cho một câu lạc bộ Brasil.[33] Pelé trở thành cầu thủ ghi bàn thứ hai của giải với bốn bàn thắng. Cùng năm đó, Santos đã thành công trong việc bảo vệ Campeonato Brasileiro (với 37 bàn thắng của Pelé) và Taça Brasil (Pelé ghi được 4 bàn trong loạt trận chung kết gặp Botafogo). Santos cũng giành được Intercontinental Cup năm 1962 khi thắng Benfica.[34] Mặc chiếc áo số 10, Pelé đã tạo ra một trong những màn trình diễn xuất sắc nhất trong sự nghiệp của anh, ghi được một hat-trick tại Lisbon với tỷ số chung cuộc Santos thắng 5-2.[35][36]

Là nhà vô địch, Santos được tự động đưa thẳng vào vòng bán kết của Copa Libertadores năm 1963. Ballet blanco, biệt danh được Santos trao cho Pelé, nỗ lực giữ lại danh hiệu sau khi chiến thắng các đội Botafogo và Boca Juniors. Pelé đã giúp Santos vượt qua một đội bóng Botafogo có nhiều cầu thủ huyền thoại người Brazil như Garrincha và Jairzinho với bàn thắng vào phút chót ở lượt đi bán kết, gỡ hòa 1–1. Ở lượt về, Pelé ghi được một hat-trick tại Estádio do Maracanã và Santos thắng 0–4 lượt về. Santos bắt đầu loạt chung kết cuối cùng bằng chiến thắng, 3–2 ở lượt đi và đánh bại Boca Juniors 1–2 tại La Bombonera. Đó là một kỳ tích hiếm hoi trong các cuộc thi chính thức, với một bàn thắng khác của Pelé.[37] Santos trở thành đội Brazil đầu tiên (và đến nay) nâng cúp Libertadores trên đất Argentina. Pelé kết thúc giải đấu với 5 bàn thắng. Santos đánh bại Campeonato Paulista sau khi kết thúc ở vị trí thứ ba nhưng tiếp tục giành chiến thắng trong giải đấu Rio-São Paulo sau chiến thắng 0-3 trước Flamengo trong trận chung kết, với Pelé ghi được một bàn thắng. Pelé cũng giúp Santos tiếp tục vô địch Intercontinental Cup và Taça Brasil với các chiến thắng trước Milan và Bahia.[34]

Pelé là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất cho Santos.

Tại Copa Libertadores năm 1964, Santos bị Independiente đánh bại ở cả hai lượt trận bán kết. Câu lạc bộ đã giành được Campeonato Paulista, với Pelé ghi 34 bàn thắng. Santos cũng chia sẻ danh hiệu Rio-São Paulo cùng với Botafogo và thắng giải Taça Brasil trong năm thứ tư liên tiếp. Vào Copa Libertadores năm 1965, Santos tiến đến bán kết và gặp Peñarol trong trận chung kết, lặp lại chung kết năm 1962. Sau hai trận đấu, tỷ số vẫn hòa và cần một trận playoff.[38] Không giống như năm 1962, Peñarol vượt lên đánh bại Santos 2–1.[38] Tuy vậy Pelé kết thúc với tư cách cầu thủ ghi nhiều bàn nhất của giải đấu với 8 bàn thắng.[39] Điều này đã khởi đầu của sự thoái trào khi Santos không thể tiếp tục vô địch giải Torneio Rio-São Paulo. Năm 1966, Pelé và Santos cũng thất bại trong việc bảo vệ chức vô địch Taça Brasil vì các bàn thắng của Pelé là không đủ để ngăn chặn thất bại 9-4 trước Cruzeiro (do Tostão dẫn đội) trong loạt đấu cuối cùng. Tuy vậy Santos cũng giành chiến thắng giải Campeonato Paulista năm 1967, 1968 và 1969. Vào ngày 19 tháng 11 năm 1969, Pelé ghi bàn thắng thứ 1000 của mình trong tất cả các giải đấu, và đây một thời điểm được mong đợi ở Brazil. Bàn thắng, được gọi là O Milésimo (Thứ 1000), xảy ra trong một trận đấu với Vasco da Gama, khi Pelé ghi bàn từ một quả phạt đền, tại sân vận động Maracanã.[40]

New York Cosmos[sửa | sửa mã nguồn]

Pelé ký vào bóng để tặng Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon tại Nhà Trắng năm 1973, hai năm trước khi gia nhập New York Cosmos

Sau mùa giải 1974 (mùa thứ 19 với Santos), Pelé đã nghỉ đá mặc dù ông tiếp tục chơi cho Santos trong các trận đấu chính thức. Hai năm sau, ông tiếp tục đá với hợp đồng với New York Cosmos của Giải bóng đá Bắc Mỹ(NASL) cho mùa giải năm 1975. Mặc dù đã qua thời kỳ đỉnh cao, Pelé được ghi nhận với việc làm gia tăng đáng kể nhận thức của công chúng và sự quan tâm của môn thể thao này ở Hoa Kỳ. Hy vọng sẽ thúc đẩy nhận thức về bóng đá tại Cộng hòa Dominica, anh và đội Cosmos chơi một trận đấu trình diễn với đội bóng Haiti Violette AC, tại Estadio Olímpico Félix Sánchez vào ngày 3 tháng 6 năm 1976, với hơn 25.000 người hâm mộ đã chứng kiến Pelé ghi bàn thắng trong những giây cuối của trận đấu, giúp Cosmos chiến thắng với tỷ số 2–1.[41] Pelé đưa câu lạc bộ này đến chức vô địch năm 1977 trong giải đấu thứ ba và cuối cùng của mình với câu lạc bộ.[42]

Pelé (trái) với Eusébio (phải) trước một trận đấu tại North American Soccer League vào tháng 4 năm 1977

Vào ngày 1 tháng 10 năm 1977, Pelé kết thúc sự nghiệp của mình trong một trận đấu biểu diễn giữa Cosmos và Santos. Santos đến New York sau khi đánh bại Seattle SoundersNew Jersey, 2–0. Trận đấu đã bán hết vé tại Sân vận động Giants và được truyền hình tại Hoa Kỳ trên kênh ABC cũng như trên khắp thế giới. Cha và vợ của Pelé đều tham dự trận đấu, cũng như Muhammad AliBobby Moore.[43]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Pelé (quỳ, thứ hai từ phải sang) và đội tuyển Brasil tại 1959 Copa America

Trận đấu quốc tế đầu tiên của Pelé là trận thua 2–1 trước Argentina vào ngày 7 tháng 7 năm 1957 tại Maracanã.[44][45] Trong trận đấu đó, ông đã ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Brazil khi mới 16 tuổi 9 tháng để trở thành cầu thủ trẻ nhất ghi bàn trong bóng đá quốc tế.[46]

Cúp Thế giới 1958[sửa | sửa mã nguồn]

Pelé đến Thụy Điển với thương tích ở đầu gối, nhưng khi ông quay trở về từ phòng điều trị, các đồng đội của ông đã đồng lòng và khăng khăng lựa chọn ông vào đội hình thi đấu.[47] Trận đấu đầu tiên của ông là trận đấu với Liên Xô trong trận đấu thứ ba của vòng bảng của Giải bóng đá vô địch thế giới 1958, và Pelé đã hỗ trợ cho bàn thắng thứ hai của Vavá.[48] Ông là cầu thủ trẻ nhất của giải đấu đó, và vào thời điểm đó là cầu thủ trẻ nhất từng chơi tại World Cup[note 1][45]. Trong trận bán kết, Brazil đã dẫn 2–1 tại giờ nghỉ giải lao, và rồi Pelé ghi hat-trick, trở thành người trẻ nhất trong lịch sử World Cup từng thực hiện điều này.[50]

Pelé (khi đó mới 17 tuổi) khóc trên vai thủ môn Gilmar sau khi Brasil vô địch 1958 World Cup.

Vào ngày 29 tháng 6 năm 1958, Pelé trở thành cầu thủ trẻ nhất chơi trong trận chung kết World Cup với 17 tuổi và 249 ngày. Anh ghi hai bàn thắng trong trận chung kết đó khi Brazil đánh bại Thụy Điển 5–2 tại thủ đô Stockholm. Bàn thắng đầu tiên của anh khi anh vẩy bóng qua một hậu vệ trước khi chuyền bóng vào lưới, đã được chọn là một trong những bàn thắng đẹp nhất trong lịch sử World Cup. Sau bàn thắng thứ hai của Pelé, cầu thủ Thụy Điển Sigvard Parling sau đó đã bình luận; "Khi Pelé ghi bàn thắng thứ năm trong trận chung kết đó, tôi phải trung thực nói rằng tôi muốn vỗ tay hoan hô".[51] Khi trận đấu kết thúc, Pelé đã ngất đi ngay trên sân và được Garrincha làm hồi tỉnh lại.[52] Sau đó anh hồi phục, và đã bật khóc vì chiến thắng khi anh được đồng đội chúc mừng. Anh đã kết thúc giải đấu với sáu bàn thắng trong bốn trận đấu được vào sân, đồng vị trí thứ hai, sau cầu thủ phá kỷ lục Just Fontaine, và được mệnh danh là cầu thủ trẻ xuất sắc nhất của giải đấu.[53]

Chính tại giải vô địch thế giới năm 1958 mà Pelé bắt đầu mặc một chiếc áo số 10. Việc này là kết quả của sự tổ chức kém: các nhà lãnh đạo của bóng đá Brazil đã không gửi số áo của các cầu thủ và FIFA đã chọn số 10 cho Pelé, người vào sân thay thế.[54] Báo chí tuyên bố Pelé là khám phá vĩ đại nhất của World Cup 1958, và ông cũng giành Quả bóng bạc, với tư cách cầu thủ hay thứ hai của giải đấu, sau Didi.[51]

Cúp Thế giới 1962[sửa | sửa mã nguồn]

Pelé tranh bóng với thủ môn đội Thụy Điển Kalle Svensson trong trận chung kết năm 1958

Khi Cúp Thế giới 1962 bắt đầu, Pelé là cầu thủ hay nhất trên thế giới vào thời điểm đó.[55]] Trong trận đấu đầu tiên của Cúp Thế giới 1962 ở Chile, đối đầu với Mexico, Pelé đã hỗ trợ trong bàn thắng đầu tiên và sau đó ghi bàn thắng thứ hai, sau khi vượt qua bốn hậu vệ, để nâng tỷ số lên 2–0.[56] Ông đã bị chấn thương trong trận đấu tiếp theo trong khi cố gắng thực hiện một cú sút tầm xa khi đấu với đội Tiệp Khắc.[57] Chấn thương này đã bắt Pelé phải ngồi ngoài sân suốt phần còn lại của giải đấu, và buộc huấn luyện viên Aymoré Moreira thực hiện thay đổi đội hình duy nhất trong toàn giải. Người thay thế Pelé là Amarildo, đã thi đấu tốt trong các trận còn lại của giải đấu. Tuy nhiên, Garrincha mới là người đã đóng vai trò dẫn đầu đội bóng và đưa Brazil đến danh hiệu Cup Thế giới thứ hai của họ, sau khi đánh bại Tiệp Khắc tại trận chung kết ở Santiago.[58]

Cúp Thế giới 1966[sửa | sửa mã nguồn]

Pelé là cầu thủ bóng đá nổi tiếng nhất thế giới tại Cúp Thế giới 1966 ở Anh, và Brazil đã đưa đến Anh hàng loạt cầu thủ vô địch thế giới 4 năm trước đó như Garrincha, GilmarDjalma Santos với sự bổ sung của các ngôi sao khác như Jairzinho, TostãoGérson.[59] Brazil bị loại ở ngay vòng đầu tiên, chỉ chơi có 3 trận.[59] Cúp Thế giới 1966 đã được ghi nhận có nhiều điều đáng nói, trong đó có việc phạm lỗi đối với Pelé khiến ông bị chấn thương do các hậu vệ người Bulgaria và Bồ Đào Nha chơi xấu.[60]

Pelé đã ghi bàn thắng đầu tiên từ một cú đá phạt vào lưới Bulgaria, trở thành cầu thủ đầu tiên ghi bàn trong ba Cúp Thế giới liên tiếp, nhưng do chấn thương vì bị các hậu vệ Bulgaria phạm lỗi, anh đã bỏ lỡ trận đấu thứ hai với Hungary. [55] Brazil thua trận này và Pelé, mặc dù vẫn đang trong thời gian phục hồi, đã được huấn luyện viên người Brazil Vicente Feola đưa ra sân cho trận đấu quyết định cuối cùng với Bồ Đào Nha tại Goodison ParkLiverpool. Feola đã thay đổi toàn bộ hàng phòng thủ, bao gồm cả thủ môn, trong khi ở hàng tiền vệ, Pelé trở lại với đội hình đầu tiên. Trong trận đấu này, hậu vệ người Bồ Đào Nha João Morais phạm lỗi với Pelé, nhưng không bị trọng tài George McCabe đuổi khỏi sân.[61] Pelé phải đi khập khiễng trên sân trong thời gian còn lại của cả trận đấu, vì việc thay thế cầu thủ không được phép vào lúc đó.[61] Sau trận đấu này, Pelé thề rằng ông sẽ không bao giờ chơi ở Cúp Thế giới nữa, nhưng sau đó ông đã đổi ý.[55]

Cúp Thế giới 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Pelé, thứ hai từ bên phải, hàng trước, chụp trước khi trận đấu với Peru.
Mário Zagallo (HLV của Brazil năm 1970 với Pelé năm 2008). Zagallo nói về Pelé: "Một đứa trẻ tại Thụy Điển [Cúp thế giới 1958] bộc lộ dấu hiệu của một thiên tài, và tại Mexico [Cúp thế giới 1970] anh ấy đã giữ lời hứa và đóng cuốn sách lại với một chiếc chìa khóa vàng. Và tôi có vinh dự được quan sát cận cảnh cả quá trình trên."[62]

Pelé được gọi vào đội tuyển quốc gia đầu năm 1969, lúc đầu anh từ chối, nhưng sau đó được chấp nhận và chơi trong sáu trận đấu vòng loại World Cup, ghi được sáu bàn thắng.[63] Cúp Thế giới ở Mexico được kỳ vọng là giải vô địch thế giới cuối cùng của Pelé. Đội hình của Brazil cho giải đấu có những thay đổi lớn so với đội hình năm 1966. Những cầu thủ như Garrincha, Nilton Santos, Valdir Pereira, Djalma SantosGilmar đã giải nghệ. Tuy nhiên, đội hình World Cup 1970 của Brazil, bao gồm các cầu thủ như Pelé, Rivelino, Jairzinho, Gérson, Carlos Alberto Torres, TostãoClodoaldo, thường được coi là đội bóng hay nhất trong lịch sử.[64][65]

Năm người Jairzinho, Pelé, Gerson, TostãoRivelino ở tuyến trên cùng nhau tạo ra một động lực tấn công, với Pelé đóng vai trò trung tâm trong bước tiến của Brazil đến trận chung kết.[66] Tất cả các trận đấu của Brazil trong giải đấu (ngoại trừ trận chung kết) đều được chơi ở Guadalajara, và trong trận đấu đầu tiên với Tiệp Khắc, Pelé đã đưa Brazil dẫn trước 2-1, bằng cách kiểm soát đường chuyền dài của Gerson bằng ngực và sau đó ghi bàn. Trong trận đấu này, Pelé đã cố gắng đánh bại thủ thành Ivo Viktor từ đường chuyền nửa chừng, suýt ghi bàn thắng vào lưới Tiệp Khắc.[67] Brazil tiếp tục giành chiến thắng trong trận đấu này với tỷ số 4–1. Trong nửa đầu của trận đấu với đội tuyển Anh, Pelé gần như ghi bàn bằng cú đánh đầu nhưng thủ môn Anh Gordon Banks đã phá được.[68] Trong hiệp hai, anh kiểm soát một đường chuyền từ Tostão trước khi chuyền bóng cho Jairzinho ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu.[69]

Trong trận gặp Romania, Pelé ghi hai bàn thắng, với Brazil đi tiếp với tỉ số 3-2. Trong trận tứ kết gặp Peru, Brazil thắng 4-2, với Pelé giúp Tostão ghi bàn thứ ba của Brazil. Trong trận bán kết, Brazil gặp Uruguay lần đầu tiên kể từ trận chung kết World Cup 1950. Jairzinho đưa Brazil lên dẫn trước 2–1, và Pelé đã hỗ trợ Rivelino ấn định tỷ số 3–1. Trong trận đấu đó, Pelé đã thực hiện một trong những cú đi bóng nổi tiếng nhất của anh.[67] Tostão chuyền bóng cho Pelé, thủ môn của Uruguay là Ladislao Mazurkiewicz đã nhận ra và chạy ra khỏi khung thành của mình để đón bóng trước Pelé. Tuy nhiên, Pelé đã tới trước và lừa Mazurkiewicz bằng cách không chạm vào bóng khiến nó lăn qua phía trái Mazurkiewicz, trong khi Pelé chạy vòng qua bên phải. Pelé chạy vòng quanh Mazurkiewicz để lấy lại bóng và thực hiện một cú sút trong khi quay người về phía khung thành, nhưng anh đã quay quá mức khi sút, và quả bóng sạt cột góc xa ra ngoài.[70]

Brazil gặp Ý trong trận chung kết tại sân vận động AztecaMexico City.[71] Pelé ghi bàn mở tỉ số bằng một cú đánh đầu đánh bại hậu vệ người Ý Tarcisio Burgnich. Sau đó anh hỗ trợ cho bàn thắng thứ ba của Brazil của Jairzinho, và bàn thắng thứ tư của Carlos Alberto. Bàn thắng cuối cùng của trận đấu này thường được coi là bàn thắng tập thể hay nhất mọi thời đại bởi vì nó được tất cả các cầu thủ của đội Brazil tham gia trừ hai cầu thủ đang ở ngoài sân của đội. Trận đấu lên đến đỉnh điểm sau khi Pelé chuyền bóng ngẫu nhiên đi vào đúng đà chạy của Carlos Alberto. Alberto chạy vượt lên và ghi bàn.[72] Brazil giành chiến thắng 4–1, được giữ cúp Jules Rimet vĩnh viễn, và Pelé nhận được Quả bóng Vàng - cầu thủ xuất sắc nhất của giải đấu.[51][73] Burgnich, người đã kèm Pelé trong trận chung kết, được trích dẫn nói rằng "Tôi đã tự nhủ trước trận đấu, anh ấy cũng là da thịt giống như mọi người khác - nhưng tôi đã sai".[74]

Trận đấu quốc tế cuối cùng của Pelé diễn ra vào ngày 18 tháng 7 năm 1971 với Nam Tư ở Rio de Janeiro. Với Pelé trên sân, kỷ lục của Brazil là 67 trận thắng, 14 trận hòa và 11 trận thua.[63] Brazil không bao giờ thua khi có cả Pelé và Garrincha trong đội hình.[75]

Phong cách chơi bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Pelé lừa bóng qua một hậu vệ khi chơi trong màu áo đội Brazil, tháng 5 năm 1960.

Pelé cũng đã được biết đến với việc kết nối cụm từ "The Beautiful Game" với bóng đá.[76] Là một cầu thủ ghi bàn thành công, anh được biết đến với khả năng dự đoán vị trí của đối thủ trong khu vực và kết thúc cơ hội bằng một cú sút chính xác và mạnh mẽ bằng một trong hai chân.[77][78][79] Pelé cũng là một cầu thủ làm việc chăm chỉ, với tầm nhìn và trí thông minh đặc biệt, được công nhận vì các cú chuyền chính xác, và khả năng liên kết với các đồng đội và hỗ trợ họ.[80][81][82]

Đón nhận và di sản của Brazil[sửa | sửa mã nguồn]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Các mối quan hệ và con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Con của Pelé
  • Với Anizia Machado
    • Sandra (1964–2006)
  • Với Lenita Kurtz
    • Flávia (sinh năm 1968)
  • Với Rosemeri dos Reis Cholbi
    • Kelly Cristina (sinh năm 1967)
    • Edson (sinh năm 1970)
    • Jennifer (sinh năm 1978)
  • Với Assíria Lemos Seixas
    • Joshua (sinh năm 1996)
    • Celeste (sinh năm 1996)
Pelé tặng chiếc áo đâucos chữ ký cho Giáo hoàng Francis.[83]

Pelé đã kết hôn ba lần, và đã có một vài lần ngoại tình, với vài đứa con riêng. Ngày 21 tháng 2 năm 1966, Pelé kết hôn với Rosemeri dos Reis Cholbi.[84] Họ có hai con gái và một con trai: Kelly Cristina (sinh ngày 13 tháng 1 năm 1967), kết hôn với Tiến sĩ Arthur DeLuca, Jennifer (sinh năm 1978) và con trai Edson ("Edinho", ngày 27 tháng 8 năm 1970). Cặp đôi này đã ly dị vào năm 1982.[85] Từ năm 1981 đến năm 1986, Pelé quan hệ tình cảm với người dẫn chương trình truyền hình Xuxa, và tạo ảnh hưởng lớn trong sự nghiệp của cô. Xuxa chỉ mới 17 tuổi khi họ bắt đầu hẹn hò.[86] Vào tháng 4 năm 1994, Pelé kết hôn với nhà tâm lý học và ca sĩ phúc âm Assíria Lemos Seixas. Ngày 28 tháng 9 năm 1996, hai người có cặp sinh đôi Joshua và Celeste thông qua phương pháp điều trị sinh sản. Cặp đôi này đã ly dị vào năm 2008.[87]

Pelé có ít nhất hai đứa con nữa từ các tình cũ. Sandra Machado, đứa trẻ được sinh ra từ một mối tình Pelé có vào năm 1964 với một người giúp việc gia đình, Anizia Machado, đã chiến đấu trong nhiều năm để đứa con này được Pelé công nhận, dù cho Pelé đã từ chối đệ trình xét nghiệm DNA.[88][89][90] Mặc dù Sandra Machado được tòa án công nhận là con gái sinh học của Pelé dựa trên bằng chứng DNA vào năm 1993, Pelé không bao giờ thừa nhận cô con gái cả này ngay cả sau khi cô qua đời vào năm 2006, cũng như hai đứa con của cô, Octavio và Gabriel.[89][90] Pelé cũng có một cô con gái khác, Flávia Kurtz, trong một vụ ngoại tình vào năm 1968 với nhà báo Lenita Kurtz. Flávia đã được ông công nhận là con gái của ông.[88]

Ở tuổi 73, Pelé tuyên bố ý định kết hôn với Marcia Aoki, 41 tuổi, một nhà nhập khẩu thiết bị y tế của Nhật Bản-Brazil từ Penápolis, São Paulo, người mà ông đã hẹn hò từ năm 2010. Họ gặp nhau lần đầu vào giữa những năm 1980 ở New York, trước khi gặp lại vào năm 2008.[91] Họ kết hôn vào tháng 7 năm 2016.[92]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1970, Pelé bị chế độ độc tài quân sự Brazil điều tra vì nghi ngờ ủng hộ cánh tả. Các tài liệu được giải mật cho thấy Pelé đã bị điều tra sau khi được trao một tuyên ngôn kêu gọi thả các tù nhân chính trị. Bản thân Pelé đã không tham gia sâu vào các cuộc đấu tranh chính trị trong nước.[93]

Vào tháng 6 năm 2013, ông bị dư luận chỉ trích vì có quan điểm bảo thủ.[94][95] Trong các cuộc biểu tình ở Brazil năm 2013, Pelé yêu cầu mọi người "quên các cuộc biểu tình đi" và hãy ủng hộ đội tuyển quốc gia Brazil.[96]

Sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giải nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1994, Pelé được bổ nhiệm làm Đại sứ thiện chí của UNESCO.[97] Vào năm 1995, Tổng thống Brazil Fernando Henrique Cardoso đã bổ nhiệm Pelé vào chức vụ Bộ trưởng Thể thao đặc biệt. Trong thời gian này, ông đã đề xuất luật để giảm tham nhũng trong bóng đá Brazil, được gọi là "luật Pelé."[98] Pelé rời vị trí của mình vào năm 2001 sau khi bị buộc tội tham gia vào vụ bê bối tham nhũng đã lấy cắp 700.000 đô la từ UNICEF. Người ta cho rằng số tiền được trao cho công ty của Pelé cho một trận đấu từ thiện, không được trả lại sau khi nó bị hủy bỏ, mặc dù không có gì được chứng minh, và UNICEF đã phủ nhận việc này.[99][100] Năm 1997, ông nhận chức danh Hiệp sĩ danh dự từ Nữ hoàng Elizabeth II tại một buổi lễ ở Cung điện Buckingham.[101] Pelé cũng đã giúp khai mạc trận chung kết FIFA World Cup 2006, cùng với siêu mẫu Claudia Schiffer.[65]

Pelé, Brazil's Extraordinary Minister for Sport, with US President Bill Clinton in Rio de Janeiro, 15 October 1997

Năm 1993, Pelé công khai cáo buộc nhà quản trị bóng đá Brazil Ricardo Teixeira tham nhũng sau khi công ty truyền hình của Pelé bị từ chối trong một cuộc đua giành bản quyền trong nước của Brazil tại World Cup 1994.[102] Lời buộc tội của Pelé dẫn đến một mối thù tám năm giữa hai người.[103] Kết quả của vụ việc, Chủ tịch FIFA, João Havelange đã cấm Pelé không được rút thăm cho World Cup 1994 tại Las Vegas. Những lời chỉ trích về lệnh cấm này được cho là đã ảnh hưởng tiêu cực đến cơ hội tái đắc cử của Havelange với tư cách là chủ tịch FIFA năm 1994.[102]

Pelé đã xuất bản nhiều cuốn tự truyện, đóng vai chính trong phim tài liệu, và sáng tác các bản nhạc, bao gồm cả nhạc nền cho bộ phim Pelé năm 1977.[104] Ông xuất hiện trong bộ phim Escape to Victory năm 1981, về một trận đấu bóng đá trong thế chiến II giữa các tù binh Đồng Minh và một đội tuyển Đức. Pelé đóng vai chính bên cạnh những cầu thủ bóng đá khác trong những năm 1960 và 1970, với các diễn viên Michael CaineSylvester Stallone.[105] Năm 1969, Pelé đóng vai chính trong một telenovela gọi là Os Estranhos, về việc tiếp xúc đầu tiên với người ngoài hành tinh. Phim này được sản xuất để thu hút sự chú ý của công chúng vào các sứ mệnh Apollo.[106] Năm 2001, ông đóng một vai cameo trong bộ phim châm biếm, Mike Bassett: England Manager.[107]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Santos FC (1956-1971)[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã ghi được 643 bàn thắng sau 656 lần ra sân cho câu lạc bộ.

Tại New York Cosmos (1971-1977)[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng thống kê bàn thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Mùa bóng Thành tích tại cup quốc gia Domestic League
Sub-total
Domestic Cup Thành tích quốc tế Official
Total[108]
Total inc.
Friendlies
SPS[109] RSPS[109] T. de Prata Camp. Brasil.[109] T. Brasil Copa Libertadores Intercontinental Cup
Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng Xuất hiện Bàn thắng
Santos 1956 0* 0* 0* 0* 2* 2*[110] 2* 2*
1957 14+15* 19+17*[111] 9 5 38* 41* 29* 16* 67* 57*
1958 38 58 8 8 46 66 14* 14* 60* 80*
1959 32 45 7 6 39 51 4* 2* 40* 47* 83* 100*
1960 30 33 3 0 33 33 0 0 0 0 0 0 34* 26* 67* 59*
1961 26 47 7 8 33 55 5* 7 0 0 0 0 36* 48* 74* 110*
1962 26 37 0 0 26 37 5* 2* 4* 4* 2 5 13* 14* 50* 62*
1963 19 22 8 14 27 36 4* 8 4* 5* 1 2 16 16* 52* 67*
1964 21 34 4 3 25 37 6* 7 0* 0* 0 0 16* 13* 47* 57*
1965 30 49 7 5 37 54 4* 2* 7* 8 0 0 18* 33* 66* 97*
1966 14 13 0* 0* 14* 13* 5* 2* 0 0 0 0 19* 16* 38* 31*
1967 18 17 14* 9* 32* 26* 0 0 0 0 0 0 32* 26* 65* 56*
1968 21 17 17* 11* 38* 28* 0 0 0 0 0 0 38* 28* 73* 55*
1969 25 26 12* 12* 37* 38* 0 0 0 0 37* 38* 61* 57*
1970 15 7 13* 4* 28* 11* 0 0 0 0 28* 11* 54* 47*
1971 19 8 21 1 40 9 0 0 0 0 40 9 72* 29*
1972 20 9 16 5 36 14 0 0 0 0 36 14 74* 50*
1973 19 11 30 19 49 30 0 0 0 0 49 30 66* 52*
1974 10 1 17 9 27 10 0 0 0 0 27 10 49* 19*
Tổng cộng 412 470 53 49 56* 36* 84 34 605* 589* 33 30 15 17[112] 3 7 656 643 1120 1087

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Official forename and birth date, as written on his birth certificate, are "Edison" and "ngày 21 tháng 10 năm 1940":

    CERTIDÃO DE NASCIMENTO


    CERTIFICO que sob o n° 7.095 às fls. 123 do livro n° 21-A de Registro de Nascimento consta o assento de Edison Arantes do Nascimento nascido aos vinte e um (21) outubro de mil novecentos e quarenta (1940) às 03 horas e --- minutos em esta Cidade de Três Corações sexo masculino filho de João Ramos do Nascimento e de Celeste Arantes


    However, Pelé has always maintained that those are mistakes, that he was actually named Edson and that he was born on ngày 23 tháng 10 năm 1940.

    Pelé; Orlando Duarte; Alex Bellos (2006). Pelé: the autobiography. London: Simon & Schuster UK Ltd. tr. 14. ISBN 978-0-7432-7582-8. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. Shortly before I came along, there was another arrival in Três Corações: electricity. In order to celebrate this great improvement to our daily lives, Dondinho named me Edson, a tribute to Thomas Edison, the inventor of the lightbulb. In fact, on my birth certificate I am actually called Edison with an 'i', a mistake that persists to this day. I'm Edson with no 'i', but to my eternal annoyance quite often the 'i' appears on official or personal documents and time after time I have to explain why. As if that wasn't confusing enough, they got the date wrong on my birth certificate as well – it says 21 October. I'm not sure how this came about; probably because in Brazil we're not so fussy about accuracy. This is another mistake that carries on to this day. When I took out my first passport, the date was put in as 21 October and each time I have renewed it the date has stayed the same. 

  2. ^ "Pelé and Maradona - two very different number tens". FIFA.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2012
  3. ^ Arantes, Edson (2007). My Life and the Beautiful Game: The Autobiography of Pele. Skyhorse Publishing. tr. 108,. ISBN 1602391963. 
  4. ^ "The Great Creators". FIFA.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2012
  5. ^ "Pele edges Eusebio as Santos defend title". FIFA.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2012
  6. ^ Pelé: The Autobiography. London: Simon & Schuster UK Ltd. 2006. tr. 41,. ISBN 978-1416511212. 
  7. ^ "Santos profile: Pele" . Santos Futbol Clube. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2012
  8. ^ "Attacking midfielder/‘Hole’ player" . Talk Football. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2012
  9. ^ Pele: Xavi. FIFA.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2012
  10. ^ Quand Pelé rêvait d'être Xavi . L'equipe. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2012
  11. ^ “NASL Player Profile – Pele”. Nasljerseys.com. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2010. 
  12. ^ Robert L. Fish; Pelé (1977). My Life and The Beautiful Game: The Autobiography of Pelé, Chapter 2. Doubleday & Company, Inc., Garden City, New York. ISBN 0-385-12185-7
  13. ^ Anibal Massaini Neto (Director/Producer), (2004). Pelé Eterno [Documentary film]. Brazil: Anima Produções Audiovisuais Ltda. International: Universal Studios Home Video.
  14. ^ “Un siglo, diez historias” (bằng tiếng Spanish). BBC. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  15. ^ “From Edson to Pelé: my changing identity”. Article by The Guardian (London). Ngày 13 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2006. 
  16. ^ Winterman, Denise (ngày 4 tháng 1 năm 2006). “Taking the Pelé”. Article by BBC Online. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. word had no meaning in Portuguese so he presumed it was an insult, but recently he has found out that it means miracle in Hebrew. 
  17. ^ a ă “Pelé”. Biography.com, via A&E Television Networks. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. 
  18. ^ Pelé; Orlando Duarte; Alex Bellos (2006). Pelé: the autobiography. London: Simon & Schuster UK Ltd. ISBN 978-0-7432-7582-8. 
  19. ^ “Pelé”. Vivendo Bauru. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2012. 
  20. ^ a ă Joe Marcus (1976). The world of Pele. New York: Mason/Charter. ISBN 978-0-88405-366-8. 
  21. ^ “Pele Speaks of Benefits of Futebol de Salão”. International Confederation of Futebol de Salão. 24 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2016. 
  22. ^ Massarela, Louis (7 tháng 9 năm 2016). “Exclusive interview: Pele on his Santos years”. FourFourTwo. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2017. 
  23. ^ Marcus 1976, tr. 20.
  24. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên dayinhistory
  25. ^ Da Mata, Alessandro (26 tháng 10 năm 2007). “Mesário da estréia de Pelé lembra atrapalhada” (bằng tiếng Portuguese). Sâo Paulo: LANCE!. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2008. 
  26. ^ Chelala, Cesar (2014). “Pele, Maradona and Messi: soccer's holy trinity”. Japan Times. 
  27. ^ “Campeonato Paulista: Artilheiros da história – 2”. Folha Online (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 17 tháng 1 năm 2008. 
  28. ^ Unzelte, Celso; Varanda, Pedro; Cammarota, Giuseppe; Barreto Berwanger, Alexandre Magno (2011). “Fichas Técnicas De Jogos Que Decidiram O Torneio Rio-Sâo Paulo” (bằng tiếng Portuguese). Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. 
  29. ^ Matta, Fernando; Varanda, Pedro; Barreto Berwanger, Alexandre Magno; Unzelte, Celso; Leme de Arruda, Marcelo (2009). “Torneio Rio-São Paulo 1960” (bằng tiếng Portuguese). Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2009. 
  30. ^ “Santos revive spirit of Pele”. BBC Sport. 16 tháng 2 năm 2003. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  31. ^ "What they said about Pele" FIFA. 23 Oct 2010.
  32. ^ Dunmore 2015, tr. 290.
  33. ^ Pierrend, José Luis; Beuker, John; Ciullini, Pablo; Gorgazzi, Osvaldo. “Copa Libertadores de América 1962”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2016. 
  34. ^ a ă "Intercontinental Cups 1962 and 1963". FIFA. 15 January 2015
  35. ^ “Extraordinary Pele crowns Santos in Lisbon”. FIFA. 11 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2012. 
  36. ^ Vickery, Tim (23 tháng 12 năm 2009). “Will South Africa 2010 produce a new Pele?”. BBC Sport. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  37. ^ “1963: With an amazing Pele, Brazil's Santos wins their second Copa Libertadores Tournament”. CONMEBOL. 12 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016. 
  38. ^ a ă Bassorelli, Gerardo. “En los años sesenta, Peñarol y Santos protagonizaron inolvidables batallas por la Libertadores, generando una rivalidad que transformó a este duelo en el primer clásico que tuvo la Copa.”. LaRed21. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017. 
  39. ^ Andrés, Juan Pablo; Ballesteros, Frank; Di Maggio, Robert. “Copa Libertadores - Topscorers”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2015. 
  40. ^ “Pele scores 1,000th goal”. History.com. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2017. 
  41. ^ “Pelé's Hail Mary In Santo Domingo”. Life. 2015. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2015. 
  42. ^ Dunmore 2011, tr. 198.
  43. ^ Freedman 2014, tr. 165.
  44. ^ “Seven the number for Pele”. FIFA. 2007. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  45. ^ a ă Williams, Bob (28 tháng 10 năm 2008). “Top 10: Young sporting champions”. The Daily Telegraph (UK). Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  46. ^ Morrison, Neil; Gandini, Luca; Villante, Eric. “Oldest and Youngest Players and Goal-scorers in International Football”. Rec. Sport.Soccer Statistics Foundation. 
  47. ^ “Simply the best ever”. ABC News (Australia). 25 tháng 4 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2003. 
  48. ^ “Copa 1958”. Terra Networks (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 2006. 
  49. ^ Gault, Matt (9 tháng 7 năm 2015). “Norman Whiteside: world beater at 17, retired by 26”. These Football Times. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2017. 
  50. ^ Hawkes, Will (26 tháng 5 năm 2010). “Flashback No 6. Sweden 1958: Pele's genius propels Brazil to first title”. The Independent. 
  51. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Quotes
  52. ^ Pelé (13 tháng 5 năm 2006). “How a teenager took the world by wizardry”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2017. 
  53. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên fifa.com
  54. ^ Spencer, Jamie (7 tháng 9 năm 2015). “The Fascinating Stories Behind 13 Famous Shirt Numbers”. 90 Min. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2017. 
  55. ^ a ă “PELE – International Football Hall of Fame”. ifhof.com. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2016. 
  56. ^ Kunti, Samindra (23 tháng 10 năm 2015). “A Look Back at Pelé's Legendary Takedown of Mexico's Defense at the 1962 World Cup”. Remezcla. 
  57. ^ Downie, Andrew (6 tháng 7 năm 2014). “Brazilians look to Pele and 1962 for Cup-winning omen”. Reuters. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2017. 
  58. ^ Moore, Glenn (3 tháng 6 năm 2006). “Pele: The Greatest”. The Independent. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  59. ^ a ă "1966 FIFA World Cup England: Group 3". FIFA. Retrieved 16 January 2015
  60. ^ Haydon, John. “Player of the Century? Why, Pele, of course.”. Soccer Times. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2017. 
  61. ^ a ă Collins, Nick (9 tháng 7 năm 2010). “World Cup final: 10 top World Cup refereeing errors”. The Telegraph. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2011. 
  62. ^ Vickery, Tim (4 tháng 4 năm 2017). “Zagallo and Tostao”. The Blizzard. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  63. ^ a ă Mamrud, Roberto. “Edson Arantes do Nascimento "Pelé" – Goals in International Matches”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2011. 
  64. ^ Bell, Jack (11 tháng 7 năm 2007). “1970 Brazilian Soccer Team Voted Best Ever”. The New York Times. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  65. ^ a ă Joseph, Paul (9 tháng 4 năm 2008). “The boys from Brazil: On the trail of football's dream team”. The Independent. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2011. 
  66. ^ “Mexico in thrall to Brazilians' beautiful game”. FIFA. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2017. 
  67. ^ a ă Hughes, Rob (29 tháng 12 năm 1999). “The Greatest? For Century, Pele Eclipses Muhammad Ali”. New York Times. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  68. ^ Hattenstone, Simon (30 tháng 6 năm 2003). “And God created Pelé”. The Guardian (London). Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  69. ^ “Jairzinho and Banks reunited”. BBC. 2 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2003. 
  70. ^ Joyce, Stephen (12 tháng 1 năm 2010). “Mexico 1970: Brazilians show all how beautiful game should be played”. Sky Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  71. ^ "World Championship – Jules Rimet Cup 1970 Final". FIFA. Retrieved 17 December 2014
  72. ^ Benson, Andrew (2 June 2006) "The perfect goal". BBC Sport. Retrieved 6 May 2011.
  73. ^ "Brazil's heroes of 1970 relive their days of glory". FIFA. 10 tháng 6 năm 2000. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011. 
  74. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên wrong
  75. ^ Stevenson, Jonathan (20 tháng 1 năm 2008). “Remembering the genius of Garrincha”. BBC. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2013. 
  76. ^ “The World Cup will show why football is still a beautiful game” (12 June 2014). The Telegraph. 
  77. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên britannica
  78. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên perfect player
  79. ^ Bate, Adam (19 tháng 3 năm 2015). “Messi? Ronaldo? Pele? Maradona? Who is the greatest of all-time?”. Sky Sports. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  80. ^ Massarella, Louis (5 tháng 11 năm 2015). “Pele or Puskas? Maradona or Messi? Just who is the best No.10 of all-time?”. FourFourTwo. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016. 
  81. ^ Miller, David (12 tháng 12 năm 2000). “Maradona's genius cannot eclipse Brazilian master”. The Telegraph. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  82. ^ Adams, Tom (9 tháng 11 năm 2015). “Mesut Ozil's assists at Arsenal make a compelling case for player of the year”. ESPN FC. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  83. ^ Morrissey, Paul (27 tháng 4 năm 2013). “Romario trolls Pele on Twitter, says he's a phony Catholic and talks nothing but shit”. 101greatgoals.com. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2014. 
  84. ^ “Brazil's greatest Pele turns 75”. Daily Express. 23 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2016. 
  85. ^ “Pelé Scores A Marriage Hat Trick”. Latin Times. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2016. 
  86. ^ Simón, Yara (28 tháng 8 năm 2015). “A Look Back at Xuxa and Pelé's Controversial Relationship”. Remezcla. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2017. 
  87. ^ “Brazilian Soccer Legend Pelé Scores A Marriage Hat Trick [VIDEO]”. Latin Times. 9 tháng 3 năm 2018. 
  88. ^ a ă “Pele's daughter dies of cancer at 42”. ESPN. 17 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  89. ^ a ă "Pele misses funeral of "daughter he never wanted". People. 18 October 2006. Retrieved 3 February 2014
  90. ^ a ă "Daughter who sued Pele dies of cancer at 42". ESPN. 17 October 2006. Retrieved 3 February 2014.
  91. ^ 'Minha primeira paixão foi uma japonesa e a última também vai ser', afirma Pelé” ['My first love was a Japanese and will also be the last,' says Pele] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Brasil Online. 11 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  92. ^ “Football legend Pele marries 'definitive love'. BelfastTelegraph.co.uk (bằng tiếng en-GB). ISSN 0307-1235. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  93. ^ “Pelé foi investigado pela ditadura na década de 1970” (bằng tiếng Portuguese). Folha Online. 1 tháng 1 năm 1970. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014. 
  94. ^ “Estranho, conservador, desastroso e 'de outro planeta'; comentaristas analisam declarações de Pelé” (bằng tiếng Portuguese). ESPN UOL. 19 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014. 
  95. ^ Romero, Simon; Neuman, William (21 tháng 6 năm 2013). “How Angry Is Brazil? Pelé Now Has Feet of Clay”. The New York Times. 
  96. ^ “Estátua de Pelé é "amordaçada" na cidade natal do jogador” (bằng tiếng Portuguese). Terra Networks. 21 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014. 
  97. ^ “World Sport Humanitarian Hall of Fame Inductees – Pelé”. Sports Humanitarian. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  98. ^ “Pele Law on sports introduced in Brazil”. BBC News. 25 tháng 3 năm 1998. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2017. 
  99. ^ “UNICEF denies Pele corruption reports”. SportBusiness.com. Reuters. 23 tháng 11 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2016. 
  100. ^ Pelé slips from Brazil pedestal, The Observer, 25 November 2001.
  101. ^ “Education: Sir Pele lends his support”. The Independent. 3 tháng 12 năm 1997. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2011. 
  102. ^ a ă Darby 2002, tr. 110.
  103. ^ Bellos 2003, tr. 114.
  104. ^ Pelé trên AllMusic
  105. ^ “Escape to Victory remake: who should follow in Pelé's footsteps?”. The Guardian. 27 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2016. 
  106. ^ “Estranhos extraterrestres chegavam na tela da Excelsior para fazer contato com Pelé” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Cartâo de Visita. 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2016. 
  107. ^ “Mike Bassett: England Manager (2001)”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2016. 
  108. ^ As friendly matches are not counted in official statistics, this is what Pelé's goal total should be after friendly matches are disregarded.
  109. ^ a ă â All statistics relating to Pele's goalscoring record between 1957 and 1974 in the SPS, RSPS, and Campeonato Brasileiro are taken from http://soccer-europe.com/Biographies/Pele.html. Soccer Europe compiled this list from http://www.rsssf.com (The Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation). For a full list of Pele's goals see http://rivelino.caltech.edu/~pelesl/pele/english/pele_statistics.html.
  110. ^ Pele's first two matches for Santos are assumed here to be friendlies. No record of them exists in any of the tournaments listed at rsssf.com.
  111. ^ In 1957 the Sao Paulo championship was split into two halves, Série Azul and Série Branca. In the first half Pelé scored 19 goals in 14 games, and then in Série Azul he scored 17 goals in 15 games See http://paginas.terra.com.br/esporte/rsssfbrasil/tables/sp1957.htm
  112. ^ Totalised statistics relating to Pele's record between 1957 and 1974 in the Taça de Prata, Taça Brasil and Copa Libertadores are taken from http://soccer-europe.com/Biographies/Pele.html. Soccer Europe compiled this list from http://www.rsssf.com (The Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation), but do not give a season-by-season breakdown. For a full list of Pele's goals see http://rivelino.caltech.edu/~pelesl/pele/english/pele_statistics.html.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “note”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="note"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu