Gianluigi Buffon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gianluigi Buffon
Gianluigi Buffon Euro 2012 final 02.jpg
Buffon chơi cho Ý ở chung kết Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Gianluigi Buffon[1]
Ngày sinh 28 tháng 1, 1978 (39 tuổi)
Nơi sinh Carrara, Ý
Chiều cao 1,92 m (6 ft 4 in)[2]
Vị trí Thủ môn
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Juventus F.C.
Số áo 1
CLB trẻ
1991–1995 Parma
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1995–2001 Parma 169 (0)
2001– Juventus F.C. 483 (0)
Đội tuyển quốc gia
1993 U-16 Ý 3 (0)
1994 U-17 Ý 3 (0)
1995 U-18 Ý 3 (0)
1995–1997 U-21 Ý 11 (0)
1997– Ý 168 (0)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào ngày 19 tháng 3 năm 2017.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào ngày 24 tháng 3 năm 2017

Gianluigi Buffon (sinh 28 tháng 1 năm 1978 tại Carrara, Ý), còn có biệt danh Gigi, là cầu thủ bóng đá hiện đang chơi câu lạc bộ Juventus và đội tuyển Ý ở vị trí thủ môn. Anh đã cùng đội tuyển Ý vô địch World Cup 2006. Ngày 15 tháng 11 năm 2008, anh và Peter Schmeichel được IFFHS bầu là 2 thủ môn giỏi nhất trong khoảng 20 năm trở lại (1988 - 2008).[3]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Gianluigi Buffon sinh trong một gia đình theo nghiệp thể thao. Mẹ anh, Maria Stella, là một vận động viên ném dĩa, cha anh, Adriano, là lực sĩ cử tạ, hai chị em gái Veronica và Guendalina chơi bóng chuyền và người bác, Angelo Masocco, là một vận động viên bóng rổ. Anh còn là cháu trai của thủ môn huyền thoại Lorenzo Buffon. Buffon cưới người mẫu Séc Alena Šeredova. Šeredova đã sinh cho anh 1 con vào ngày 28 tháng 12 năm 2007, đặt tên Louis Thomas[4].

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tại câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Buffon ra mắt khán giả Serie A vào ngày 19 tháng 11 năm 1995, ở độ tuổi 17, với màu áo Parma, trong trận mà đội này hòa 0 - 0 với AC Milan. Sau bốn mùa bóng tại đây, anh đã đoạt được Cúp UEFA. Anh được chuyển sang chơi cho Juventus vào năm 2001, với một kỷ lục thế giới về giá chuyển nhượng dành cho một thủ môn: 53 triệu Euro. Năm 2003, anh đoạt danh hiệu cầu thủ giỏi nhất cúp UEFA và thủ môn giỏi nhất, tháng 3 năm sau, anh được vua Pelé ghi tên vào danh sách 125 cầu thủ còn sống vĩ đại nhất. Trong một trận đấu gặp lại Milan vào tháng 8 năm 2005, Buffon va chạm với tiền vệ Kaká của đội bạn trong một pha tranh bóng, khiến anh bị trật khớp vai, phải đi phẫu thuật. Ca mổ thành công, anh trở lại sân bóng vào tháng 11, nhưng chỉ chơi một trận trước khi một chấn thương khác đưa anh ra ngoài đường biên cho đến tận tháng 1 năm sau. Trở lại lần này, anh góp công lớn đưa Juventus giành chức vô địch nước Ý lần thứ 2 liên tiếp, và cũng là lần thứ 4 anh đoạt được danh hiệu này trong màu áo sọc đen trắng.

Vào tháng 5 năm 2006, Buffon và thủ môn trước đó của Juventus là Antonio Chimenti, cùng nhiều cầu thủ nữa, bị tình nghi có liên can đến một vụ dàn xếp tỉ số tại Serie A trong trận gặp Parma. Hôm sau khi nghe tin đó, anh tự ý đến tòa án ở Torino trả lời tra vấn để bảo tồn danh dự cho mình. Anh thừa nhận là mình có tham dự cá cược trong thể thao, nhưng kiên quyết nói không cá cược trong các trận bóng đá Ý. Nhiều người lo ngại rằng chuyện này sẽ làm ảnh hưởng đến cơ hội tham dự World Cup 2006 của anh, nhưng đến ngày 15 tháng 5, lại thấy Buffon có tên trong danh sách tuyển thủ đến nước Đức.

Các cầu thủ dính líu sau đó đều được xóa án vào ngày 27 tháng 6 năm 2007. Tuy vậy, Juventus bị đẩy xuống Serie B từ ngày 14 tháng 6 với âm 30 điểm xuất phát, đó là phán quyết đầu tiên sau vụ điều tra dàn xếp tỉ số nổi tiếng; điểm âm sau đó được giảm bớt, còn 17 rồi 9 điểm, song chức vô địch nước Ý gần đây nhất của Juventus bị xóa khỏi bảng thành tích. Người ta đồn rằng Buffon muốn rời đội vì chuyện này, khiến cho rất nhiều câu lạc bộ rất quan tâm. Song anh vẫn ở lại Juventus sau đó, còn nói rằng: "Serie B là một giải đấu mà tôi chưa từng chiến thắng và tôi muốn thử làm điều đó". Phó chủ tịch Milan lúc này, ông Adriano Galliani lên tiếng chiêu dụ anh từ tháng 4 năm 2007 để thay thế Dida đang xuống phong độ, nhưng sau nhiều tin đồn về sự qua lại, cuối cùng anh lên tiếng bác bỏ[5].

Sau khi Juventus đoạt Cadetti với số điểm cao nhất tại Serie B và trở lại giải đấu Serie A, Buffon ký tiếp một hiệp đồng với câu lạc bộ, có thời hạn cho đến năm 2012.[1].

Tại tuyển Ý[sửa | sửa mã nguồn]

Buffon đá trận đầu cho đội tuyển quốc gia vào tuổi 19, khi một chấn thương đã làm cho thủ môn số một của đội tuyển lúc đó là Angelo Peruzzi bị loại khỏi danh sách dự France 98. Anh được theo đội tuyển đến Pháp mùa hè năm đó, nhưng chỉ là để nhìn thủ môn Pagliuca đứng ở vị trí của mình từ đầu đến cuối giải. Anh từng tham dự nhiều trận tại Olympics Atlanta 1996 tại Mỹ, World Cup 2002Euro 2004. Hồi Euro 2000, anh được xem là lựa chọn tối ưu cho vị trí thủ môn đội Ý, song một chấn thương tay ở trận giao hữu với Na Uy trước đó 9 ngày khiến anh phải nhường chỗ cho Francesco Toldo, người sau đó đã hoàn thành tốt nhiệm vụ thay thế.

Tại vòng chung kết World Cup 2006, anh thể hiện một phong độ xuất sắc: giữ sạch lưới trong 453 phút sau 5 trận đấu. Tính cả giải này anh chỉ bị lọt lưới 2 bàn, 1 là bàn phản lưới nhà của hậu vệ đồng đội Cristian Zaccardo và bàn kia là cú sút phạt đền của Zidane trong trận chung kết. Ở trận chung kết với Pháp, anh cùng Fabien Barthez, thủ môn đội Pháp, đã chơi rất tốt vai trò của mình trong 120 phút chính thức, song không một ai bắt được quả phạt Penalty nào ở loạt sút luân lưu. Và một pha sút hỏng của David Trezeguet đã góp phần đưa Ý lên ngôi vô địch thế giới lần thứ 4. World Cup 2006 tại Đức là một giải đấu thành công nhất trong sự nghiệp của Buffon tính cho tới thời điểm đó. Anh được trao giải thưởng Yashin cho thủ môn giỏi nhất giải này.

Buffon trở thành đội trưởng tuyển quốc gia Ý cho Euro 2008 sau khi Fabio Cannavaro rút tên khỏi đội hình vì chấn thương. Sau trận đấu đầu tiên đầy thất vọng trước các tuyển thủ Hà Lan (Ý bị thua với tỉ số 0 - 3), Ý vượt qua vòng loại trong tình thế cam go. Lúc này, Buffon là người góp công lớn để đưa đội nhà vào vòng 2 của giải đấu, sau khi đỡ được quả phạt đền của Adrian Mutu trong trận gặp Rumani, và giữ sạch lưới trong trận gặp Pháp.

Tại World Cup 2010, đội tuyển Ý bị loại ngay từ vòng bảng với hai trận hòa và một trận thua. Sau giải đấu này, đội trưởng Fabio Cannavaro tuyên bố giải nghệ. Buffon đã tiếp quản chiếc băng thủ quân từ tay của Cannavaro.

Euro 2012 chứng kiến sự trưởng thành vượt bậc của Italia, khi họ vào đến trận chung kết. Nhưng trong trận chung kết, đội trưởng Buffon và các đồng đội đã thất bại trước các nhà ĐKVĐ châu Âu và thế giới Tây Ban Nha với tỉ số 0-4.

Ngày 12/10/2013, trong khuôn khổ Vòng loại World cup 2014 Italia làm khách tại Đan Mạch (hòa 2-2), thủ thành Gianluigi Buffon đã chính thức vượt qua Fabio Cannavaro để trở thành cầu thủ khoác áo đội tuyển Quốc gia Italia với 137 lần [6]

Azzuri đã khởi đầu World Cup 2014 với chiến thắng 2-1 trước đội tuyển Anh. Trận này Buffon không thể ra sân do chấn thương, nhưng thủ thành dự bị Salvatore Sirigu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thay thế. Nhưng trận đấu tiếp theo, họ đã để thua Costa Rica với bàn thắng duy nhất của tiền vệ đội trưởng Bryan Ruiz. Trận đấu tiếp theo, do chỉ cần một trận hòa là đi tiếp nên họ khởi đầu vô cùng chậm chạp. Và chính tư tưởng cầu hòa đó đã giết chết Buffon và các đồng đội, khi họ thất bại 0-1 trước Uruguay, với bàn thắng quyết định của Diego Godín.

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 19 tháng 3 năm 2017[7]
Câu lạc bộ Mùa giải Serie A Coppa Italia Châu Âu Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Parma 1995–96 9 0 1 0 0 0 10 0
1996–97 27 0 1 0 1 0 0 0 29 0
1997–98 32 0 6 0 8 0 46 0
1998–99 34 0 10 0 11 0 55 0
1999–00 33 0 0 0 9 0 1 0 43 0
2000–01 34 0 2 0 7 0 43 0
Tổng cộng 169 0 20 0 36 0 1 0 226 0
Juventus 2001–02 34 0 1 0 10 0 45 0
2002–03 32 0 0 0 15 0 1 0 48 0
2003–04 32 0 0 0 6 0 1 0 39 0
2004–05 37 0 0 0 11 0 48 0
2005–06 18 0 2 0 4 0 0 0 24 0
2006–07 37 0 3 0 40 0
2007–08 34 0 1 0 35 0
2008–09 23 0 2 0 5 0 30 0
2009–10 27 0 1 0 7 0 35 0
2010–11 16 0 1 0 17 0
2011–12 35 0 0 0 35 0
2012–13 32 0 1 0 10 0 1 0 44 0
2013–14 33 0 0 0 14 0 1 0 48 0
2014–15 33 0 0 0 13 0 1 0 47 0
2015–16 34 0 0 0 8 0 0 0 43 0
2016–17 25 0 0 0 7 0 1 0 33 0
Tổng cộng 483 0 12 0 110 0 7 0 612 0
Tổng cộng sự nghiệp 651 0 26 0 146 0 9 0 832 0

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 24 tháng 3 năm 2017[8][9]
Ý
Năm Trận Bàn
1997 1 0
1998 3 0
1999 8 0
2000 4 0
2001 7 0
2002 12 0
2003 7 0
2004 12 0
2005 3 0
2006 15 0
2007 8 0
2008 9 0
2009 11 0
2010 2 0
2011 10 0
2012 12 0
2013 16 0
2014 8 0
2015 8 0
2016 13 0
2017 1 0
Tổng cộng 168 0

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

F.C. Parma[sửa | sửa mã nguồn]

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (3): 2014-2015, 2015-2016.
  • Vô địch (4): 2002, 2003, 2012, 2013, 2015
  • Á quân (1): 2005

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Về nhì: 1997, 1998

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (FIFA) “FIFA World Cup South Africa 2010 – List of Players” (PDF). Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ “Gianluigi Buffon”. Mail Online. Associated Newspapers. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2013. 
  3. ^ Channel4.com
  4. ^ Goal.com - Juventus - Buffon Becomes A Father
  5. ^ “Staying At Juve Was The Best Choice, Says Buffon”. Goal.com. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2007. 
  6. ^ “Thể thao VietNamNet”. VietNamNet. Truy cập 15 tháng 2 năm 2015. 
  7. ^ “Gianluigi Buffon Career Statistics”. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2014. 
  8. ^ “Gianluigi Buffon – Century of International Appearances”. Rsssf.com. Ngày 29 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2013. 
  9. ^ “Nazionale in cifre – FIGC: Buffon, Gianluigi”. http://www.figc.it (bằng tiếng Ý). FIGC. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]