Bước tới nội dung

Fabio Grosso

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Fabio Grosso
Grosso dẫn dắt Frosinone năm 2023
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Fabio Grosso
Ngày sinh 28 tháng 11, 1977 (48 tuổi)
Nơi sinh Roma, Ý
Chiều cao 1,90 m (6 ft 3 in)
Vị trí Hậu vệ
Thông tin đội
Đội hiện nay
Sassuolo
(huấn luyện viên trưởng)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1994–1995 Renato Curi
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1995–1999 Renato Curi 125 (55)
1999–2001 Chieti 68 (17)
2001–2004 Perugia 67 (7)
2004–2006 Palermo 90 (2)
2006–2007 Inter Milan 23 (2)
2007–2009 Lyon 53 (2)
2009–2012 Juventus 47 (2)
Tổng cộng 473 (87)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2003–2009 Ý 48 (4)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm Đội
2017–2018 Bari
2018–2019 Hellas Verona
2019 Brescia
2020–2021 Sion
2021–2023 Frosinone
2023 Lyon
2024– Sassuolo
Thành tích huy chương
Bóng đá nam
Đại diện cho  Ý
FIFA World Cup
Vô địch Đức 2006
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Fabio Grosso, Cavaliere Ufficiale OMRI,[1][2] (sinh ngày 28 tháng 11 năm 1977) là cựu cầu thủ bóng đá người Ý hiện đang dẫn dắt câu lạc bộ Sassuolo tại Serie A. Anh là cựu cầu thủ câu lạc bộ Juventustuyển quốc gia Ý. Anh cùng Ý vô địch thế giới năm 2006.

Sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Grosso sinh ở Chieti. Sau một vài mùa giải với Renato Curi (Pescara), một đội bóng nhỏ trong khuôn khổ giải hạng nhất Abruzzo, Grosso trở thành cầu thủ chuyên nghiệp khi gia nhập Chieti chơi ở Serie C2. Lúc này anh là một tiền vệ tấn công, và ghi 17 bàn sau 68 lần xuất hiện. Sau đó anh gia nhập Perugia để chơi ở Serie A vào năm 2001, và lần đầu tiên khoác màu áo thiên thanh vào năm 2003. Tại Perugia anh được huấn luyện viên Serse Cosmi cho chơi ở vị trí hậu vệ cánh trái. Grosso chuyển qua Palermo hồi tháng 1 năm 2004, khi đội này vừa rớt xuống Serie B.

Grosso là một hậu vệ cánh trái, anh cũng có thể chơi tốt ở vị trí hậu vệ công. Anh còn có khả năng sút phạt trực tiếp tốt.

Grosso gia nhập Inter Milan với giá chuyển nhượng 5.5 triệu Euro vào ngày 6 tháng 6 năm 2006.

Tới ngày 8 tháng 7 năm 2007, Grosso ký một hợp đồng thời hạn 4 năm với câu lạc bộ Pháp Olympique Lyonnais sau khi vượt qua một số thủ tục. Lúc này anh khoác áo số 11.[3]

Ngày 01/09/2009, Fabio Grosso đã ký hợp đồng có thời hạn 03 năm với Juventus. Mức phí chuyển nhượng là 2 triệu euro và Juventus sẽ trả thêm 1 triệu euro nữa nếu Fabio Grosso thi đấu thành công. Fabio Grosso được trao cho chiếc áo số 6, số áo của huyền thoại Gaetano Scirea.

Thi đấu quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Grosso khởi đầu sự nghiệp quốc tế vào năm 2003 với Ý. Anh được ông Marcello Lippi, huấn luyện viên của đội cho chơi ở vị trí sở trường tại Palermo là hậu vệ cánh trái, cùng với Gianluca Zambrotta ở cánh phải. Kỳ World Cup 2006 là giải đấu lớn đầu tiên của Grosso kể từ khi gia nhập tuyển quốc gia, năm đó anh 28 tuổi. Anh khoác áo số 3, số áo của huyền thoại Paolo Maldini.

Grosso có 3 lần lập công tại World Cup 2006, cả ba đều là bàn thắng quan trọng: 1 bàn trong trận hoà 1-1 với Scốtlen trên sân Hampden Park tại vòng đấu loại, 1 bàn tại vòng chung kết, trong trận tại vòng bán kết với Đức. Bàn cuối cùng nằm trong loạt Penalty, ấn định chiến thắng cho Ý trước Pháp để lên ngôi vô địch thế giới lần thứ 4. Grosso ghi bàn thứ 3 cho đội tuyển trong trận thắng Georgia 2-0 tại vòng loại EURO 2008 vào ngày 13 tháng 10, 2007.

Grosso là nhân vật nổi bật trong trận đấu vòng 2 World Cup 2006 giữa Ý với Úc tại Kaiserslautern. Anh đã hoàn thành tốt vai trò của mình trong suốt trận đấu và mang lại quả Penalty quyết định cho Ý vào cuối trận. Nhiều ý kiến cho rằng anh đã lao người té vào vòng cấm địa trước khi chân của Lucas Neill chạm tới, và sau pha sút phạt của Francesco Totti, Ý lọt vào tứ kết một cách khá may mắn. Ý khác cho rằng tiếng còi đó là chính xác vì Neily đã níu áo Grosso. Vụ việc này đã được đưa ra thảo luận vài lần, cuối cùng chủ tịch FIFA ông Sepp Blatter đã lên tiếng xin lỗi đội Úc vì cái sự cố nọ.

Tại vòng bán kết, Grosso sút vô lê rất đẹp vào lưới ở phút thứ 119 để giúp Ý đả bại Đức mà lọt vào chung kết. Màn ăn mừng bàn thắng của anh đã khiến các Fan của Azzurri liên tưởng tới huyền thoại Marco Tardelli của đội tuyển. Bàn thắng đã lên dây cót tinh thần cho các cầu thủ Ý và vài phút sau, Alessandro Del Piero chấm dứt giấc mơ của Đức bằng một bàn thắng khác. Sau đó, anh trở thành một trong những người hùng của nước Ý sau khi thực hiện thành công quả Penalty thứ 5, cũng là quả quyết định để chiến thắng Pháp trong trận chung kết, đưa Ý trở thành đội bóng châu Âu có kết quả tốt nhất trong lịch sử FIFA World Cup.

Mùa hè năm 2008, anh được gọi vào đội tuyển để tham dự Euro 2008, và chơi tốt trong những lần xuất hiện. Tuy nhiên, ở trận tứ kết với Tây Ban Nha, Ý đã để thua trong loạt sút luân lưu 11m và chấm dứt giải đấu.

Thống kê sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 3 tháng 9 năm 2005 Hampden Park, Glasgow, Scotland  Scotland 1–1 1–1 Vòng loại World Cup 2006
2. 4 tháng 7 năm 2006 Westfalenstadion, Dortmund, Đức  Đức 1–0 2–0 World Cup 2006
3. 13 tháng 10 năm 2007 Sân vận động Luigi Ferraris, Genova, Ý  Gruzia 2–0 2–0 Vòng loại Euro 2008
4. 9 tháng 9 năm 2009 Sân vận động Olympic Torino, Torino, Ý  Bulgaria 1–0 2–0 Vòng loại World Cup 2010

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Perugia

Inter Milan[5]

Lyon[5]

Juventus[5]

Ý[5]

Huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Frosinone

Sassuolo

Cá nhân

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ FIFA.com[liên kết hỏng]
  2. ^ "AscotSportal.com". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2008.
  3. ^ OLWEB.fr | Site officiel de l'Olympique Lyonnais
  4. ^ "Wolfsburg 0-2 Perugia (Aggregate: 0 - 3)". UEFA. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2020.
  5. ^ a b c d "F. Grosso". Soccerway. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2015.
  6. ^ "Sassuolo Calcio wins the Serie B championship". MAPEI. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2025.
  7. ^ "Luciano Spalletti wins the Panchina d'Oro 2022/23". Federazione Italiana Giuoco Calcio (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2024.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]