Alberto Gilardino

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Alberto Gilardino
Gilardino Alberto.jpg
Gilardino pictured năm 2008
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Alberto Gilardino[1]
Chiều cao 1,84 m (6 ft 0 in)
Vị trí Tiền đạo
Thông tin câu lạc bộ
CLB hiện tại Genova
Số áo 11
CLB trẻ
Piacenza
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1999–2000 Piacenza 17 (3)
2000–2002 Hellas Verona F.C. 39 (5)
2002–2005 Parma 96 (50)
2005–2008 A.C. Milan 94 (36)
2008–2012 A.C.F. Fiorentina 118 (48)
2012– Genoa C.F.C. 14 (4)
2012–2013 Bologna F.C. 1909 (cho mượn) 35 (13)
Đội tuyển quốc gia
2000–2004 Italy U21 30 (19)
2004– Ý 56 (19)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
cập nhật ngày 10 tháng 3 năm 2013.

† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG và
số bàn thắng được cập nhật
ngày 11:12, 6 tháng 9 năm 2013 (UTC)

Alberto Gilardino, Huân chương danh dự Ý, (sinh ngày 5 tháng 7 năm 1982 tại Biella, Piemonte) là một cầu thủ bóng đá người Ý thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Genoađội tuyển Ý. Gilardino đã cùng đội tuyển Italia vô địch World Cup 2006, tại giải này anh ghi 1 bàn và có 1 đường kiến tạo. Tên thân mật của anh là Gila.

Vào giai đoạn đầu sự nghiệp, Gilardino thường được so sánh với tiền đạo nổi tiếng của Italia bấy giờ là Filippo Inzaghi [2], một tiền đạo khác của đội tuyển Ý là Christian Vieri thì mô tả Gila như một sự pha trộn phong cách giữa anh và Pippo Inzaghi. Gilardino hiện là cầu trẻ thứ hai trong lịch sử Serie A (sau José Alfatini) cán mốc 100 bàn thắng tại giải đấu.[3][4] Với 172 bàn thắng (trong đó có 47 bàn bằng đầu [5]) tính tới thời điểm hiện tại, Gilardino đang nằm trong top 15 chân sút ghi nhiều bàn thắng nhất lịch sử Serie A.

Cùng A.C. Milan Gilardino giành 1 Champions League (2007), 1 Siêu cúp bóng đá châu Âu và 1 chức vô địch thế giới các câu lạc bộ (2007). Ở cấp độ tuyển trẻ, Gilardino là thành viên đội tuyển U-19, U-20 và U-21 Italia giành Huy chương Đồng Olympic 2004 và 1 chức vô địch U21 châu Âu (2004), tại giải đấu này Gila đồng thời là Vua phá lưới và Cầu thủ xuất sắc nhất. Gilardino hiện đang là chân sút xuất sắc nhất lịch sử đội U-21 Italia với 19 bàn sau 30 trận đấu.

Gilardino khoác áo đội tuyển quốc gia lần đầu năm 2004, tới nay anh đã dự 2 kỳ World Cup (2006, 2010) và 2 kỳ Confederations Cup (2009, 2013). Trong 56 trận khoác áo đội tuyển anh đã ghi 19 bàn.

Sự nghiệp cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

"Gila" bắt đầu sự nghiệp của mình tại Piacenza Calcio, anh chơi trận đầu ở Serie A trong trận gặp A.C. Milan. Anh bị bán cho Hellas Verona năm 2001 sau khi chỉ ghi được 2 bàn trong suốt mùa giải, nhưng anh cũng đã thể hiện được tài năng của mình. Sự nghiệp của anh tiến nhanh khi anh chuyển đến chơi cho Parma F.C. năm 2002. Gila ghi 5 bàn trong mùa giải đầu tiên. Nhưng sau đó anh chơi rất thành công và trở thành người ghi bàn nhiều thứ 2 tại Serie A mùa giải 2003-04. Mùa giải 2004-05 anh còn làm được hơn thế khi trở thành vua phá lưới của Serie A khi ghi được 23 bàn thắng. Anh chuyển đến A.C. Milan ngày 17 tháng 7 năm 2005 với giá chuyển nhượng là 24 triệu euro. Tại Milan anh đã chơi khá thành công và đã giành được cúp C1 mùa bóng 2006-2007. Ở trận bán kết mùa bóng này anh đã ghi 2 bàn giúp Milan thắng 3-0 trước Manchester United, sau đó Milan đã giành chiến thắng trước Liverpool F.C. ở trận chung kết.

Ra mắt ở Picenza và Verona[sửa | sửa mã nguồn]

Gilardino bắt đầu chơi bóng cho đội trẻ Cossatese ở quê nhà Biella, sau đó chuyển tới Piacenza, tại đây anh ra mắt Serie A khi mới 17 tuổi trong trận gặp A.C. Milan ngày 6 tháng 1 năm 2000. Kết thúc mùa giải đó Piacenza phải xuống chơi ở Serie B nhưng Gilardino vẫn kịp để lại dấu ấn với 3 bàn thắng sau 17 trận.[6]

Tháng 9 nãm 2000, Gila, lúc này đang được coi như một tài năng trẻ, chuyển từ Picenza tới Verona trong một hợp đồng đồng sở hữu giữa hai câu lạc bộ với giá 7 tỉ lire (3,6 triệu euro).[7] Trong 2 năm thi đấu tại Verona anh thi đấu 39 trận và ghi 5 bàn.

Bùng nổ ở Parma[sửa | sửa mã nguồn]

Hè 2002 Gilardino chuyển tới Parma sau khi câu lạc bộ này mua lại 50% quyền sở hữu anh từ Verona.[8] Lúc này Parma đang được dẫn dắt bởi Cesare Prandelli (người sau này trở thành huấn luyện viên đội tuyển Ý), Gilardino đóng vai trò dự bị cho cặp tiền đạo nổi tiếng Adrian MutuAdriano, nhưng anh cũng kịp có 24 lần ra sân (chủ yếu từ ghế dự bị) và ghi 4 bàn. Mùa giải 2003-2004, với việc Adriano chuyển tới Inter Milan, Gila có cơ hội được đá chính và anh đã thực sự bùng nổ với 23 bàn thắng tại Serie A, trong đó có 17 bàn trong giai đoạn hai. Kết thúc mùa giải đó Gilardino đứng thứ hai trong danh sách vua phá lưới Serie A với 1 bàn kém hơn Andriy Shevchenko, anh cũng đã thừa nhận vai trò to lớn của Prandelli trong việc giúp đỡ anh hoàn thiện những kĩ năng săn bàn và đem đến kết quả ấn tượng.[9]

Trong mùa giải thứ 3 cùng Parma, Gilardino lập lại thành tích ghi 23 bàn của mùa giải trước, nhưng thêm một lần nữa anh lại về nhì trong cuộc đua danh hiệu Vua phá lưới khi kém Cristiano Lucarelli của Livorno vẫn chỉ 1 bàn thắng. Bất chấp 23 bàn thắng của Gilardino, Parma mùa giải này thể hiện phong độ nhạt nhào và phải đá trận play-off tranh suất trụ hạng với Bologna. Gila ghi 1 bàn giúp Parma đánh bại Bologna và trụ hạng thành công. Tại mùa giải 2004-2005 anh còn ghi 1 bàn ở UEFA Cup. Tổng cộng trong 3 giải ở Parma Gilardino ghi 51 bàn thắng sau 97 trận.

Thăng trầm ở A.C. Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 2 mùa giải cuối thi đấu ấn tượng ở Parma, Gilardino nhận được nhiều sự quan tâm từ các đội bóng lớn như Chelsea, Real Madrid hay Juventus, Chủ tịch Parma Luca Baraldi thậm chí còn nói anh "có giá không dưới 50 triệu euro" [10] , nhưng cuối cùng A.C. Milan mới là đội cuối cùng giành được chữ ký của Gilardino. Ngày 17 tháng 7 năm 2005 Gila chính thức chuyển tới đội bóng đỏ đen thành Milan với giá chuyển nhượng 25 triệu euro và bản hợp đồng có thời hạn 5 năm.[11][12][13] Tại đây anh chọn số áo 11 và trở thành 1 trong 4 tiền đạo của Milan bên cạnh Andriy Shevchenko, Filippo InzaghiChristian Vieri. Gila ghi bàn đầu tiên cho Rossoneri trong trận gặp Sampdoria. Kết thúc lượt đi mùa giải 2005-2006, Gilardino ghi 12 bàn cho Milan, cùng với phong độ ấn tượng trước đó, anh giành danh cá nhân cao quý nhất trong sự nghiệp tới thời điểm này, đó là Cầu thủ Italia xuất sắc nhất nămCầu thủ xuất sắc nhất năm của Serie A trong năm 2005. 1 năm trước đó, Gila đã dành danh hiệu Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất Serie A dưới màu áo Parma. Anh kết thúc mùa giải với 17 bàn ở Serie A trong 34 trận, 2 bàn ở Cúp Italia trong 3 trận, nhưng thất bại hoàn toàn trong việc để lại ấn tượng ở Champions League khi không ghi được bàn thắng nào dù được ra sân 12 lần.[14]

Trong mùa giải 2006-2007 tiếp theo, bàn thắng đầu tiên ở Champions League đã tới với Gila khi anh tung cú vô lê ấn định tỉ số 4-1 cho Milan trước Anderlecht. Tuy vậy anh vẫn tiếp tục gây thất vọng ở đấu trường này với việc chỉ được 2 bàn thắng, trong đó bàn thứ hai là bàn ấn định tỉ số 3-0 trong trận bán kết gặp Manchester United ngày 3 tháng 5 năm 2007. Milan vào chung kết và gặp lại Liverpool, dù nhận được nhiều ủng hộ từ các đồng đội, như Andrea PirloAlessandro Nesta, cho một suất đá chính trong trận chung kết,[15] Gilardino chỉ được tung vào sân 2 phút cuối thay Filippo Inzaghi trong chiến thắng chung cuộc 2-1 của Milan. Gilardino là cầu thủ nhiều bàn thắng nhất cho Milan ở Serie A mùa giải đó với 12 bàn. Khi mùa giải kết thúc, trong một buổi phóng vấn Gila đã tiết lộ sự thất vọng vì không được đá chính trong trận chung kết Champions League trước đó, và để ngỏ khả năng rời Milan.[16][17] Cuộc gặp gỡ với ban lãnh đạo đội bóng sau đó đã thuyết phục anh ở lại.[18][19]

Mùa giải tiếp theo ở Milan của Gilardino đã trải qua khá tệ, đặc biệt là sự xuất hiện và phong độ ấn tượng của Alexandre Pato ở giai đoạn hai của mùa bóng khiến anh chỉ là sự lựa chọn thứ 3 trên hàng công 1 người của Milan sau Pato và Pippo Inzaghi và thường xuyên phải ngồi dự bị. Gila sau này mô tả những ngày tháng cuối ở Milan khi đó là những ngày tồi tệ nhất trong sự nghiệp của mình,[20] với những áp lực đến từ việc cạnh tranh vị trí và những nghi ngờ về khả năng chơi bóng trong một đội bóng lớn như Milan.[21] Gilardino kết thúc mùa giải thứ 3 cho Rossoneri với vẻn vẹn 7 bàn thắng ở Serie A và 2 bàn ở Champions League.

Tìm lại mình ở Fiorentina[sửa | sửa mã nguồn]

Genoa[sửa | sửa mã nguồn]

Bologna[sửa | sửa mã nguồn]

Trở lại Genoa[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Gila đã đã chơi cho đội tuyển Ý ở Thế vận hội 2004 tại Athena và giành huy chương đồng. Anh cũng tham gia vào đội U21 tham gia vào giải Euro U21 và giành chức vô địch. Anh cũng là thành viên của đội tuyển Ý vô đich World Cup 2006. Anh chơi 2 trận đầu và ghi được 1 bàn trong trận gặp Mỹ. Sau đó ở trận bán kết gặp Đức anh vào sân thay người và đóng góp vào chiến thắng 2-0 của đội Ý.

Các đội tuyển trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối mùa giải 2003-2004, dù thể hiện phong độ ấn tượng với 23 bàn thắng và nhận được sự ủng hộ của dư luận Italia nhưng Gilardino không được huấn luyện viên đội tuyển Ý khi đó là Giovanni Trapattoni triệu tập vào đội hình tham dự Euro 2004 mùa hè năm đó tại Bồ Đào Nha [22] với lí do anh còn quá trẻ và ông đã có 2 tiền đạo cắm chất lượng khác là Christian VieriBernando Corradi.[23] Italia năm đó bị loại từ vòng bảng bởi phong độ tệ hại của Vieri và Corradi (cả hai đều không ghi được bàn thắng nào), còn Gilardino toả sáng ở Vòng chung kết U-21 châu Âu với chức vô địch cùng đội U-21 Italia cùng hai danh hiệu cá nhân Vua phá lưới và Cầu thủ xuất sắc nhất. Hè năm đó Gilardino cùng đội Olympic Italia dự Thế vận hội Olympic 2004, ghi 5 bàn và giành Huy chương Đồng môn bóng đá nam.

Gilardino hiện là Vua phá lưới đội U-21 Italia với 19 bàn thắng trong 30 trận.

Giai đoạn đầu với Lippi[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Donadoni[sửa | sửa mã nguồn]

Sự trở lại của Lippi[sửa | sửa mã nguồn]

Prandelli[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các bàn thắng của Gilardino cho đội tuyển Ý.[24]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Tỉ số Kết quả Giải đấu
1. 13 October 2004 Parma, Italy  Belarus 4–3 Win Vòng loại World Cup 2006
2. 9 February 2005 Cagliari, Italy  Nga 2–0 Win Giao hữu
3. 17 August 2005 Dublin, Ireland  Ireland 1–2 Win Giao hữu
4. 12 October 2005 Lecce, Italy  Moldova 2–1 Win Vòng loại World Cup 2006
5. 12 November 2005 Amsterdam, Netherlands  Hà Lan 1–3 Win Giao hữu
6. 1 March 2006 Florence, Italy  Đức 4–1 Win Giao hữu
7. 30 April 2006 Geneva, Switzerland  Thụy Sĩ 1–1 Draw Giao hữu
8. 17 June 2006 Kaiserslautern, Germany  Hoa Kỳ 1–1 Draw World Cup 2006
9. 6 September 2006 Saint-Denis, France  Pháp 1–3 Loss Vòng loại Euro 2008
10. 20 August 2008 Nice, France  Áo 2–2 Draw Giao hữu
11. 10 June 2009 Pretoria, South Africa  New Zealand 4–3 Win Giao hữu
12. 10 June 2009 Pretoria, South Africa  New Zealand 4–3 Win Giao hữu
13. 10 October 2009 Dublin, Ireland  Ireland 2–2 Draw Vòng loại World Cup 2010
14. 14 October 2009 Parma, Italy  Síp 1–2 Win Vòng loại World Cup 2010
15. 14 October 2009 Parma, Italy  Síp 2–2 Win Vòng loại World Cup 2010
16. 14 October 2009 Parma, Italy  Síp 3–2 Win Vòng loại World Cup 2010
17. 7 September 2010 Florence, Italy  Quần đảo Faroe 1–0 Win Vòng loại Euro 2012
18. 31 May 2013 Bologna, Italy  San Marino 4–0 Win Giao hữu
19. 6 September 2013 Palermo, Italy  Bungary 1–0 Win Vòng loại World Cup 2014

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “FIFA World Cup South Africa 2010 – List of Players” (PDF). Fédération Internationale de Football Association (FIFA). Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ “Il Verona mette i brividi alla Roma”. Corriere della Sera (bằng Italian). 27 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2010. 
  3. ^ Redazione La Nazione. “Solo Altafini come Gilardino: bomber a 26 anni”. 
  4. ^ Giansandro Mosti. “Gila, numeri da urlo. Più decisivo di Altafini: alla sua età Bati era indietro”. La Nazione. 
  5. ^ “Cây vĩ cầm của Gilardino”. Thể thao & Văn hoá. 16 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2014. 
  6. ^ Fabio Bianchi (17 tháng 10 năm 2003). “Gilardino, il terzo fratello Inzaghi”. Gazzetta dello Sport. 
  7. ^ Carlo Laudisa (28 tháng 9 năm 2000). “Gillet a Bari avvicina Mancini a Napoli. Gilardino a Verona”. La Gazzetta dello Sport (bằng Italian). Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2010. 
  8. ^ “COMPROPRIETA': L'HELLAS RISCATTA MARCO CASSETTI, CLAUDIO FERRARESE RESTA AL CITTADELLA”. Hellas Verona FC (bằng Italian). 26 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2010. 
  9. ^ Giancarla Ghisi (15 tháng 8 năm 2004). “Gilardino, un futuro già scritto con i gol”. Corriere della Sera. 
  10. ^ “Gilardino sẽ có giá không dưới 50 triệu euro”. 
  11. ^ “Gilardino ký hợp đồng mơ ước với Milan”. 
  12. ^ “AC Milan Group 2006 annual report”. AC Milan (bằng Italian). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2011. 
  13. ^ “Gilardino 'honoured' to join Milan”. UEFA.com. 18 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2008. 
  14. ^ “Gilardino gives Milan another year”. UEFA.com. 2 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2008. 
  15. ^ “Cây vĩ cầm của Gilardino”. 
  16. ^ “Gilardino có thể rời Milan”. 
  17. ^ Giovanni Battista Olivero (3 tháng 6 năm 2007). Trong Gazzetta dello Sport. “Gilardino: "Non so se resto. Valuto altre soluzioni"”. 
  18. ^ Giovanni Battista Olivero (9 tháng 6 năm 2007). Trong Gazzetta dello Sport. “Gila-Milan Scoppia la pace”. 
  19. ^ “Galliani:"Milan không muốn lừa dối cổ động viên"”. 
  20. ^ Alessandro Bocci (24 tháng 12 năm 2008). Trong Corriere della Sera. “Sono tornato Gilardino”. 
  21. ^ Giovanni Battista Olivero (7 tháng 7 năm 2008). Trong Gazzetta dello Sport. “Gila: "Tornerò grande un gol dopo l'altro"”. 
  22. ^ “Không có Inzaghi trong đội hình Italia dự Euro 2004” (html). 
  23. ^ {{chú thích web|title=Trapattoni giải thích quyết định loại Inzaghi và Gilardino|url=http://thethao.vnexpress.net/tin-tuc/bong-da-quoc-te/trapattoni-giai-thich-quyet-dinh-loai-inzaghi-va-gilardino-1011013.html
  24. ^ F.I.G.C. Federazione Italiana Giuoco Calcio