Daniele De Rossi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Daniele De Rossi
De rossi in Nazionale.jpg
De Rossi chơi cho Ý năm 2011
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Daniele De Rossi[1]
Ngày sinh 24 tháng 7, 1983 (35 tuổi)
Nơi sinh Roma, Ý
Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
A.S. Roma
Số áo 16
CLB trẻ
1997–2000 Ostia Mare
2000–2001 A.S. Roma
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2001– A.S. Roma 421 (41)
Đội tuyển quốc gia
2001 U-19 Ý 3 (2)
2002 U-20 Ý 4 (0)
2003–2004 Ý U-21 16 (3)
2004–2017 Ý 117 (21)

* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào ngày 2 tháng 9 năm 2017.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Daniele De Rossi (sinh ngày 24 tháng 7 năm 1983) là cầu thủ bóng đá người Ý thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ A.S. Roma tại Serie A. Anh là đội phó của đội, có biệt danh là Capitan Futuro (Tiếng Việt: Đội trưởng tương lai) vì khả năng lãnh đạo của anh không kém gì Francesco Totti.

Anh được công nhận là một Tiền vệ đa năng bởi khả năng phòng ngự, chuyền bóng và sút bóng rất tốt. Anh có thể chơi cả tiền vệ phòng ngự lẫn tiền vệ tấn công, tại đội tuyển quốc gia Italia anh có thể chơi cả vị trí trung vệ rất xuất sắc.

Anh đã chơi cho đội U-19,U-20,U-21 và cả Đội tuyển Ý. Anh là một nhân tố quan trọng giúp cho đội tuyển Ý giành ngôi vô địch World Cup 2006 tại Đức. Anh cũng xuất hiện tại Euro 2008, Confed Cup 2009, World Cup 2010, Euro 2012, Confed Cup 2013, World Cup 2014Euro 2016.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

De Rossi sinh tại Roma và anh là sản phẩm của lò đào tạo cầu thủ trẻ AS Roma. Cha anh, Alberto De Rossi là huấn luyện viên bóng đá.

De Rossi thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm. Anh có trận đầu tiên cho AS Roma vào ngày 10 tháng 10 năm 2001 tại UEFA Champions League trong trận gặp Anderlecht. Anh có trận đầu tiên tại Serie A vào ngày 3 tháng 5 năm 2003 và có bàn thắng đầu tiên sau đó một tuần trong trận gặp Torino Calcio.

Vai trò của anh tại AS Roma ngày càng trở nên quan trọng. Từ mùa giải 2001/2002 đến 2007/2008, anh đã ra sân 225 lần và ghi 25 bàn cho AS Roma. Đầu mùa giải 2007/2008, De Rossi ghi bàn thắng từ chấm phạt đền giúp AS Roma giành siêu cúp nước Ý.[2] Đến cuối mùa giải anh lại cùng câu lạc bộ này giành cúp quốc gia. Tuy nhiên tại UEFA Champion League, trong trận lượt về tại Old Trafford gặp Manchester United, De Rossia bỏ lỡ một quả phạt đền và chung cuộc Roma thua 3-0 sau 2 lượt đi về. Rossi được nhiều câu lạc bộ hàng đầu như Inter MilanReal Madrid theo đuổi nhưng anh vẫn tuyên bố gắn bó với Roma.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

De Rossi từng thi đấu cho U-21 Ý và vào năm 2004, anh cùng đội tuyển Ý giành huy chương đồng Olympic 2004 tại Athens. Anh được gọi vào đội tuyển Ý chuẩn bị cho vòng loại World Cup 2006. Ngay trong trận đấu đầu tiên khoác áo đội tuyển quốc gia vào ngày 4 tháng 9 năm 2004, anh đã có bàn thắng vào lưới Na Uy. Bàn thắng thứ hai của anh tại vòng loại đến trong trận thắng Belarus 4-3.[3]

Tại World Cup 2006, trong trận gặp đội tuyển Mỹ tại vòng loại, De Rossi đã đánh nguội vào mặt Brian McBride và lãnh thẻ đỏ trực tiếp. Với hành động trên, anh đã phải nhận án phạt bị treo giò 4 trận và tiền phạt 10.000 Franc Thụy Sĩ.[4] Vì án phạt nên Rossi chỉ được ra sân trong trận chung kết gặp đội tuyển Pháp khi anh vào sân thay thế đồng đội ở AS Roma Francesco Totti ở phút 61. Trong loạt sút luân lưu quyết định đội vô địch, De Rossi thực hiện thành công quả pelnaty thứ ba và cú đá hỏng của David Trezeguet đã đem lại danh hiệu vô địch World Cup 2006 cho Ý.[5]

Tại vòng loại Euro 2008, Rossi ghi được một bàn thắng trong chiến thắng 3-1 của Ý trước Georgia.[6] Trước khi bước vào giải, anh được huấn luyện viên Roberto Donadoni trao cho chiếc áo số 10. Bước vào vòng đấu bảng Euro 2008, De Rossi được ra sân chính thức trong hai trận gặp Romania và Pháp. Trong trận gặp Pháp, Rossi nâng tỉ số trận đấu lên 2-0 sau một pha sút phạt sấm sét và cuối trận anh nhận luôn danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.

Rossi có được cú đúp đầu tiên cho đội tuyển quốc gia trong chiến thắng 2-0 của Ý trước Georgia tại vòng loại World Cup 2010.[7] Trong trận đấu đầu tiên của đội tuyển Ý tại FIFA Confederations Cup 2009 với Mỹ, Rossi đã ghi bàn ấn định chiến thắng 3-1 với cú volley rất đẹp mắt ngay trong vòng cấm sau đường trả bóng thông minh của Andrea Pirlo.[8]

Tại World Cup 2010, Rossi ghi bàn ấn định tỉ số 1-1 trong trận đấu đầu tiên tại vòng bảng với Paraguay từ sai lầm của thủ môn Justo Villar, giúp đương kim vô địch Ý tránh khỏi thất bại ngay trong ngày ra quân.[9] Ở trận đấu thứ hai hoà New Zealand 1-1, Rossi đã đem về quả phạt đền giúp Ý cân bằng tỉ số.[10] Anh được FIFA chọn làm Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.[11] Tuy nhiên, sau đó tuyển Ý đã bị loại ngay vòng bảng với chỉ 2 điểm sau ba trận.

Sau khi đội tuyển Ý thất bại trước Thụy Điển với tổng tỉ số 0-1 ở lượt trận play-off World Cup 2018 khu vực châu Âu, Daniele De Rossi tuyên bố chia tay đội tuyển Ý sau 13 năm gắn bó, tổng cộng anh đã thi đấu 117 trận và ghi được 21 bàn thắng.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

De Rossi kết hôn với Tamara Pisnoli, một cựu vũ công của Mediaset, Sarabanda vào ngày 18 tháng 5 năm 2006. Họ đã có một con gái là Gaia.[12] Cha vợ của anh, ông Massimiliano Pisnoli, đã bị bắn chết tại Roma vào tháng 8 năm 2008. Hai người đã chia tay vào đầu năm 2009.

De Rossi đã được chọn làm cầu thủ quảng bá cho trò chơi FIFA 09 của EA Sports ở phiên bản tiếng Ý.[13]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

AS Roma[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất trong năm của Serie A: 2006
  • Đứng thứ nhì trong cuộc bầu chọn Cầu thủ Ý xuất sắc nhất trong năm: 2007

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 2 tháng 9 năm 2017[14]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp Châu Âu Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Roma 2001–02 0 0 3 0 1[a] 0 0 0 4 0
2002–03 4 2 3 0 0 0 7 2
2003–04 17 0 4 0 6[b] 1 27 1
2004–05 30 2 5 1 3[a] 1 38 4
2005–06 34 6 4 0 7[b] 0 45 6
2006–07 36 2 8 2 10[a] 2 1[c] 0 55 6
2007–08 34 5 6 0 10[a] 0 1[c] 1 51 6
2008–09 33 3 2 0 7[a] 0 1[c] 1 43 4
2009–10 33 7 4 1 12[d] 3 49 11
2010–11 28 2 4 0 7[a] 1 1[c] 0 40 3
2011–12 32 4 0 0 0 0 32 4
2012–13 25 0 4 0 29 0
2013–14 32 1 4 0 36 1
2014–15 26 2 1 1 7[e] 0 34 3
2015–16 24 1 1 0 6 2 31 3
2016–17 31 4 1 0 8 1 40 5
2017–18 2 0 0 0 0 0 2 0
Tổng cộng 421 41 54 5 84 11 4 2 563 59
Tổng cộng sự nghiệp 421 41 54 5 84 11 4 2 563 59
  1. ^ a ă â b c d Tất cả các trận đấu ở UEFA Champions League
  2. ^ a ă UEFA Cup
  3. ^ a ă â b Supercoppa Italiana
  4. ^ Europa League
  5. ^ Ba trận UEFA Champions League, bốn tận Europa League

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 11 tháng 10 năm 2017[15]
Ý
Năm Trận Bàn
2004 4 2
2005 10 0
2006 11 2
2007 6 0
2008 11 3
2009 9 1
2010 11 2
2011 8 0
2012 12 3
2013 11 2
2014 7 1
2015 1 1
2016 9 2
2017 7 2
Tổng cộng 117 21

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 4 tháng 9 năm 2004 Sân vận động Renzo Barbera, Palermo, Ý  Na Uy
1–1
2–1
Vòng loại World Cup 2006
2. 13 tháng 10 năm 2004 Sân vận động Ennio Tardini, Parma, Ý  Belarus
2–0
4–3
Vòng loại World Cup 2006
3. 1 tháng 3 năm 2006 Sân vận động Artemio Franchi, Florence, Ý  Đức
3–0
4–1
Giao hữu
4. 11 tháng 10 năm 2006 Sân vận động Boris Paichadze, Tbilisi, Gruzia  Gruzia
0–1
1–3
Vòng loại Euro 2008
5. 17 tháng 6 năm 2008 Sân vận động Letzigrund, Zürich, Thụy Sĩ  Pháp
0–2
0–2
Euro 2008
6. 10 tháng 9 năm 2008 Sân vận động Friuli, Udine, Ý  Gruzia
1–0
2–0
Vòng loại World Cup 2010
7.
2–0
8. 15 tháng 6 năm 2009 Sân vận động Loftus Versfeld, Pretoria, Nam Phi  Hoa Kỳ
1–2
1–3
Confed Cup 2009
9. 14 tháng 6 năm 2010 Sân vận động Cape Town, Cape Town, Nam Phi  Paraguay
1–1
1–1
World Cup 2010
10. 7 tháng 9 năm 2010 Sân vận động Artemio Franchi, Florence, Ý  Quần đảo Faroe
2–0
5–0
Vòng loại Euro 2012
11. 15 tháng 8 năm 2012 Sân vận động Suisse Wankdorf, Bern, Thụy Sĩ  Anh
1–0
1–2
Giao hữu
12. 12 tháng 10 năm 2012 Sân vận động Hrazdan, Yerevan, Armenia  Armenia
2–1
3–1
Vòng loại World Cup 2014
13. 16 tháng 10 năm 2012 Sân vận động San Siro, Milan, Ý  Đan Mạch
2–0
3–1
Vòng loại World Cup 2014
14. 21 tháng 3 năm 2013 Stade de Genève, Genève, Thụy Sĩ  Brasil
1–2
2–2
Giao hữu
15. 19 tháng 6 năm 2013 Arena Pernambuco, Recife, Brasil  Nhật Bản
1–2
4–3
Confed Cup 2013
16. 4 tháng 9 năm 2014 Sân vận động San Nicola, Bari, Ý  Hà Lan
2–0
2–0
Giao hữu
17. 6 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Renzo Barbera, Palermo, Ý  Bulgaria
1–0
1–0
Vòng loại Euro 2016
18. 6 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Marc'Antonio Bentegodi, Verona, Ý  Phần Lan
2–0
2–0
Giao hữu
19. 6 tháng 10 năm 2016 Sân vận động Juventus, Torino, Ý  Tây Ban Nha
1–1
1–1
Vòng loại World Cup 2018
20. 24 tháng 3 năm 2017 Sân vận động Renzo Barbera, Palermo, Ý  Albania
1–1
1–1
Vòng loại World Cup 2018
21. 7 tháng 6 năm 2017 Allianz Riviera, Nice, Pháp  Uruguay
3–0
3–0
Giao hữu

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]