Antonio Conte

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Antonio Conte
Antonio Conte - Globe Soccer Awards 2013.jpg
Conte nhận giải Huấn luyện viên xuất sắc nhất năm 2013
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Antonio Conte
Ngày sinh 31 tháng 7, 1969 (49 tuổi)
Nơi sinh Lecce, Italy
Chiều cao 1,78 m (5 ft 10 in)[1]
Vị trí Tiền vệ trung tâm
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Inter Milan (huấn luyện viên)
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1985–1991 Lecce 71 (1)
1991–2004 Juventus 296 (29)
Tổng cộng 367 (30)
Đội tuyển quốc gia
1994–2000 Ý 20 (2)
Các đội đã huấn luyện
2006 Arezzo
2007 Arezzo
2007–2009 Bari
2009–2010 Atalanta
2010–2011 Siena
2011–2014 Juventus
2014–2016 Ý
2016–2018 Chelsea
2019– Inter Milan
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia

Antonio Conte (sinh 31 tháng 7 năm 1969) là cựu cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Italia.

Khi còn thi đấu ông đá ở vị trí tiền vệ, Conte bắt đầu sự nghiệp ở đội bóng quê hương U.S. Lecce và trở thành một trong những cầu thủ không thành công và có ảnh hưởng nhất lịch sử Chelsea. Trong suốt sự nghiệp ông được biết đến với sự kiên trì, tinh thần thi đấu và khả năng lãnh đạo, mang băng đội trưởng đội bóng, và giành chức vô địch UEFA Champions League, cũng như 5 chức vô địch Serie A, cùng với đó là các danh hiệu khác.[2] Ông khoác áo đội tuyển Ý và tham dự [[FIFA World Cup 1994| và UEFA Euro 2016, trong cả hai lần Ý đều giành chức á quân.

Sự nghiệp của ông bắt đầu năm 2006, khi dẫn dắt Bari giành chức vô địch Serie B 2008–09, và giúp Siena lên hạng hai năm sau đó. Sau đó ông dẫn dắt Juventus năm 2011, nơi ông áp dụng chiến thuật 3–5–2 và giành 3 chức vô địch Serie A liên tiếp, trước khi dẫn dắt tuyển Ý năm 2014 cho tới khi hoàn thành chiến dịch UEFA Euro 2016.

Ông trở thành huấn luyện viên của Chelsea vào tháng 4 năm 2016 và dẫn họ đến chức vô địch Premier League trong mùa giải đầu tiên của mình, [7] sau đó giành cúp FA trong mùa giải thứ hai của mình với đội. Ông bị sa thải vào tháng 7 năm 2018.

Vào cuối tháng 5 năm 2019, trang chủ Inter Milan công bố Antonio Conte là huấn luyện viên mới của CLB sau khi sa thải HLV Luciano Spalletti.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Conte và vợ Elisabetta có một con gái tên Vittoria.[3] Họ sống với nhau 15 năm trước khi đám cưới vào tháng 6 năm 2013.[4] Conte đã bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với gia đình khi họ đã hỗ trợ động viên ông trong suốt quá trình điều tra vụ dàn xếp tỉ số Scommessopoli: "Tôi có một người phụ nữ tuyệt vời bên cạnh mình, người luôn cố gắng hiểu tôi. Còn với con gái tôi, nó là người phụ nữ khác của cuộc đời tôi. Nó đã bắt đầu hiểu được bố của nó căng thăng khi không giành chiến thắng trong một trận đấu".[5]

Ngoài nói tiếng mẹ đẻ tiếng Ý, Conte còn có thể nói tiếng Anh.[6]

Số liệu thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Các bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng và kết quả của Ý được ghi trước.
# Ngày Địa điểm Đối thủ Ghi bàn Kết quả Giải đấu
1. ngày 27 tháng 3 năm 1999 Sân vận động Parken, Copenhagen, Đan Mạch  Đan Mạch 2–1 2–1 Vòng loại UEFA Euro 2000
2. ngày 11 tháng 6 năm 2000 GelreDome, Arnhem, Hà Lan  Thổ Nhĩ Kỳ 1–0 2–1 UEFA Euro 2000

Số liệu huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tính tới 27 tháng 5 năm 2017.
Đội Quốc gia Từ Tới Kết quả
Tr T H T % thắng
Arezzo Ý tháng 7 năm 2006 31 tháng 10 năm 2006 &0000000000000012.00000012 &0000000000000003.0000003 &0000000000000005.0000005 &0000000000000004.0000004 0&0000000000000025.00000025,00
Arezzo Ý 13 tháng 3 năm 2007 tháng 6 năm 2007 &0000000000000014.00000014 &0000000000000006.0000006 &0000000000000004.0000004 &0000000000000004.0000004 0&0000000000000042.86000042,86
Bari Ý 27 tháng 12 năm 2007 23 tháng 6 năm 2009 &0000000000000067.00000067 &0000000000000032.00000032 &0000000000000020.00000020 &0000000000000015.00000015 0&0000000000000047.76000047,76
Atalanta Ý 21 tháng 9 năm 2009 7 tháng Giêng 2010 &0000000000000014.00000014 &0000000000000003.0000003 &0000000000000004.0000004 &0000000000000007.0000007 0&0000000000000021.43000021,43
Siena Ý 1 tháng 7 năm 2010 21 tháng 5 năm 2011 &0000000000000044.00000044 &0000000000000022.00000022 &0000000000000014.00000014 &0000000000000008.0000008 0&0000000000000050.00000050,00
Juventus Ý 22 tháng 5 năm 2011 15 tháng 7 năm 2014 &0000000000000151.000000151 &0000000000000102.000000102 &0000000000000034.00000034 &0000000000000015.00000015 0&0000000000000067.55000067,55
Ý Ý 14 tháng 8 năm 2014 2 tháng 7 năm 2016 &0000000000000025.00000025 &0000000000000014.00000014 &0000000000000007.0000007 &0000000000000004.0000004 0&0000000000000056.00000056,00
Chelsea Anh 3 tháng 7 năm 2016 31 tháng 7 năm 2018 &0000000000000047.00000047 &0000000000000037.00000037 &0000000000000003.0000003 &0000000000000007.0000007 0&0000000000000078.72000078,72
Tổng &0000000000000373.000000373 &0000000000000218.000000218 &0000000000000091.00000091 &0000000000000064.00000064 0&0000000000000058.45000058,45

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Juventus (1992-2004)

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

ĐT Italia (Ý) (1994-2000)

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Bari (12/2007-6/2009)
Siena (5/2010-6/2011)
Juventus (6/2011-7/2014)

ĐT Italia (8/2014-7/2016)

Tứ Kết Euro: 2016

Chelsea (7/2016-nay)

  • Vô địch Premier League: 2017
  • Á quân FA cup 2017
  • Vô địch FA cup 2018

Các nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Huân chương[sửa | sửa mã nguồn]

Cavaliere OMRI BAR.svg
Hạng 5 / Hiệp sĩ: Cavaliere Ordine al Merito della Repubblica Italiana: 2000[16]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Antonio Conte”. Worldfootball.net. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016. 
  2. ^ “Conte ready to carve out his Italy vision”. FIFA.com. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2014. 
  3. ^ “Conte: "Scommesse? Sono sereno"” [Conte: "Gambling? I'm calm"] (bằng tiếng Ý). La Stampa. 19 tháng 6 năm 2012. 
  4. ^ “Antonio Conte sposa Elisabetta Muscarello: nozze da campioni” (bằng tiếng Ý). Oggi. Ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  5. ^ “Conte: «Resto sereno. La verità verrà a galla»” [Conte: "I remain optimistic. The truth will come out"] (bằng tiếng Ý). Il Corriere dello Sport. Ngày 19 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  6. ^ “Begovic already impressed by Conte”. FourFourTwo. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2016. 
  7. ^ Jacopo Gerna (ngày 18 tháng 2 năm 2013). “Panchina d'oro a Conte Premiata l'impresa con la Juve” (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  8. ^ David Schiavone (ngày 28 tháng 1 năm 2013). “Gran Gala del Calcio 2012 – Winners”. Forza Italian Football. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  9. ^ “Panchina d'Oro, vince Conte, poi Montella e Mazzarri” (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Ngày 3 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2016. 
  10. ^ “Calcio, panchina d'oro ancora a Conte: La mia Juve sarebbe a +20” [Football, golden bench to Conte again: "My Juve would be 20 points ahead"] (bằng tiếng Ý). La Repubblica. Ngày 9 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  11. ^ “Italian players say Pirlo is the best (again)”. FIFPro. Ngày 28 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  12. ^ “Antonio Conte rewarded at the Professional Footballers’ Association (AIC) Gala”. Vivo Azzurro. Ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  13. ^ “Juve scoop two awards at Trofeo Maestrelli ceremony”. juventus.com. Ngày 13 tháng 11 năm 2012. 
  14. ^ “GLOBE SOCCER AWARDS 2013”. Globe Soccer. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  15. ^ “Scolari named among elite coaches”. Goal.com. Ngày 28 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014. 
  16. ^ “ONORIFICENZE”. quirinale.it (bằng tiếng Ý). Ngày 12 tháng 7 năm 2000. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]