Arsène Wenger

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arsène Wenger
Arsene-Wenger.jpg
Thông tin cá nhân
Chiều cao 6 ft 3 in (1,91 m) [1]
Vị trí Hậu vệ quét[a]
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Arsenal (huấn luyện viên)
CLB trẻ
1963–1969 FC Duttlenheim
1969–1973 Mutzig
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1969–1973 Mutzig
1973–1975 Mulhouse 56 (4)
1975–1978 ASPV Strasbourg
1978–1981 RC Strasbourg 11 (0)
Tổng cộng 67 (4)
Huấn luyện
1984–1987 Nancy-Lorraine
1987–1994 AS Monaco
1995–1996 Nagoya Grampus Eight
1996– Arsenal
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Arsène Wenger, OBE (Phát âm tiếng Pháp: [aʁsɛn vɛŋ(ɡ)ɛʁ]; sinh ngày 22 tháng 10 năm 1949) là huấn luyện viên bóng đá người Pháp, hiện là huấn luyện viên của câu lạc bộ bóng đá Arsenal tại giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Ông là huấn luyện viên tại vị lâu nhất trong lịch sử câu lạc bộ, và đã dẫn dắt Arsenal đến 11 danh hiệu kể từ năm 1996, và ông cũng là huấn luyện viên thành công nhất của Arsenal trong việc giành được danh hiệu lớn. Các chuyên gia bóng đá đều đã ca ngợi Wenger vì những đóng góp của ông cho cuộc cách mạng bóng đá Anh cuối những năm 1990 thông qua sự giới thiệu của những thay đổi trong việc đào tạo và chế độ ăn uống của mỗi cầu thủ.

Wenger được sinh ra tại Strassbourg và lớn lên tại Duttlenheim. Ông được giới thiệu với bóng đá từ cha mình, huấn luyện viên câu lạc bộ địa phương. Sau một thời gian chơi khiêm tốn, trong đó ông đã xuất hiện trong nhiều câu lạc bộ nghiệp dư, Wenger được bằng tốt nghiệp của một huấn luyện viên trong năm 1981. Sau một thời gian không thành công tại Nancy lên đến cực điểm là câu lạc bộ đã thỏa thuận để ông rời khỏi câu lạc bộ năm 1987, Wenger đã làm huấn luyện cho AS Monaco, câu lạc bộ giành chức vô địch Pháp vào năm 1988. Năm 1991, ông dẫn dắt Monaco đến chức vô địch Cúp bóng đá Pháp, nhưng không giành được chức vô địch quốc gia trong mùa giải tiếp theo, và ông đã rời câu lạc bộ vào năm 1994. Ông huấn luyện một thời gian ngắn tại câu lạc bộ ở giải bóng đá vô địch quốc gia Nhật Bản, Nagoya Grampus Eight, đã giành được Cúp quốc gia và Siêu cúp Nhật Bản.

Năm 1996, ông trở thành huấn luyện viên của Arsenal và hai năm sau đó đã giành chức vô địch giải Ngoại hạng và FA Cup. Ông dẫn dắt Arsenal vào đến trận chung kết UEFA Cup 2000 và Chung kết FA Cup năm 2001. Năm 2002, ông giúp Arsenal giành ngôi á quân Premier League và vô địch FA Cup. Arsenal đã bảo vệ thành công chức vô địch FA Cup 2003 và năm sau đó đã giành chức vô địch giải bóng đá Ngoại hạng Anh, và trở thành câu lạc bộ đầu tiên trải qua một mùa giải bất bại sau Preston North End, 115 năm trước. Đội bóng sau đó đã làm lu mờ kỷ lục của giải Ngoại hạng, 42 trận bất bại của Nottingham Forest, và trải qua thêm bảy trận bất bại nữa mới phải nhận thất bại. Ông đã đưa Arsenal lần đầu tiên vào đến Chung kết Champions League, đó là vào năm 2006, mặc dù cho Arsenal thua Barcelona. Năm 2012, câu lạc bộ trải qua mùa giải thứ 15 liên tiếp, mặc dù họ có khởi đầu tồi tệ nhất sau 58 năm. Trong nhiệm kỳ của ông, Arsenal đã chuyển đến sân vận động Emirates thay cho sân Highbury vào năm 2006.

Biệt danh "Giáo sư"[2][3][4] được sử dụng bởi người hâm mộ và giới truyền thông Anh phản ánh thái độ hiếu học của Wenger.[3] Cách tiếp cận của ông vào trận đấu nhấn mạnh tâm lý tấn công, với mục đích là bóng đá có tính giải trí trên sân. Arsenal của Wenger thường bị chỉ trích là có tính vô kỷ luật, cầu thủ của ông đã nhận được 80 thẻ đỏ trong tháng 9 năm 1996 và đến tháng 10 năm 2010, mặc dù đội bóng đã giành được giải thưởng dành cho thể thao, Fair Play. Tại Monaco, Wenger giành được một danh tiếng cho việc tìm kiếm tài năng trẻ, và ông vẫn tập trung vào việc phát triển một hệ thống tài năng trẻ thanh thiếu niên, câu lạc bộ của ông phát triển cầu thủ trẻ thay vì mua những cầu thủ đắt tiền, những người có kinh nghiệm. Ông đã bị chỉ trích vì gắn bó chặt chẽ với các nguyên tắc của mình, và các chuyên gia bóng đá đã đặt câu hỏi về tham vọng của ông để giành danh hiệu trong những năm gần đây.

Đầu đời và sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Wenger sinh ngày 22 tháng 10 năm 1949, tại Strasbourg, Alsace, với cha là Alphonse và mẹ là Louise Wenger. Ông lớn lên ở làng Duttlenheim, cách 13 dặm về phía tây nơi sinh của ông, cùng với chị gái và em trai.[5] Alphonse, như nhiều người Alsace, đã nhập ngũ vào quân đội Đức bởi việc kết hợp chặt chẽ các lực tấn công (tuyển dụng bằng vũ lực) sau sự sáp nhập của Alsace-Lorraine trong Chiến tranh thế giới thứ hai.[6]

Mặc dù mang quốc tịch Pháp, nhưng Wenger lại không nói tiếng Pháp cho đến năm 7 tuổi, ông dùng phương ngữ Alsace của tiếng Đức Hạ Alemanni.[7] Gia đình ông sở hữu một kinh doanh phụ tùng ô tô và một quán rượu nhỏ có tên La Croix d'Or.[5] Wenger coi thời thơ ấu của mình như là "như được lớn lên trong một khu định cư" vì tất cả mọi người chăm sóc trẻ em trong làng.[7] Ông suy nghĩ về giáo dục trong một địa chỉ để Hiệp hội huấn luyện viên của giải đấu năm 2009, Wenger nói:

Không có giáo dục về tâm lý tốt hơn so với việc lớn lên trong một quán rượu bởi vì khi bạn là năm hay sáu tuổi, bạn đáp ứng tất cả những người khác nhau và nghe cách tàn nhẫn của họ có thể được với nhau. Từ khi còn nhỏ bạn đã có được một nền giáo dục tâm lý thực tế để có thể vào tâm trí của mọi người. Nó không phải là cậu bé năm, sáu là luôn luôn sống chung với người lớn trong một ngôi làng nhỏ. Tôi đã học được về chiến thuật và lựa chọn cách chơi từ những người nói về bóng đá trong quán rượu, đang chơi ở bên cánh trái và những người bên cánh phải ở trong đội.[8]

Theo cha ông, huấn luyện viên của đội bóng đá làng, Wenger được giới thiệu về bóng đá khoảng 6 tuổi.[9] Ông được đưa tới thi đấu ở Đức, nơi ông tổ chức đã có tình cảm đối với Borussia Mönchengladbach.[10] Vùng Alsace được coi là một khu vực ngập tràn trong tôn giáo, nên ông và các chàng trai trong làng thường cần thiết tìm kiếm sự cho phép từ linh mục Công giáo không đọc kinh chiều (lời cầu nguyện buổi tối) để chơi bóng đá.[11] Bởi vì dân số của Duttlenheim ít, nó trở nên khó khăn cho việc đến trường của 11 cầu thủ trang lứa, Wenger đã không chơi cho FC Duttlenheim cho đến khi 12 tuổi [12]

Wenger được tuyển vào câu lạc bộ hạng ba Mutzig ở tuổi 18[12] Câu lạc bộ này nổi danh vì "chơi bóng đá nghiệp dư" trong vùng Alsace, do Max Hild làm quản lý, ông này sau trở thành cố vấn cho Wenger.[5] Sự nghiệp cầu thủ của Wenger có phần khiêm tốn, chưa rõ vị trí ông chơi thế nào.[a], nhưng ông được mô tả bởi Marcel Brandner, chủ tịch của FC Duttlenheim: "cậu ấy một khả năng để bảo vệ bóng, cậu ấy dường như có một tầm nhìn xa và cậu ấy chắc chắn có ảnh hưởng giữa các đồng đội."[6]

Ông gia nhập Mulhouse vào năm 1973, nơi ông đã dành thời gian nghiên cứu cân đối tại Khoa Kinh tế và Quản lý Khoa học, Đại học Strasbourg, ông đạt được một tấm bằng kinh tế[b] vào năm 1974.[20] Wenger đã nhận thức được rằng, tầm quan trọng và lợi ích của việc nói tiếng Anh trong nghiên cứu của mình và ghi danh vào một khóa học tiếng Anh ba tuần tại đại học Cambridge.[21] Sau hai mùa giải tại Mulhouse, trong thời gian đó ông đã 56 lần ra sân trong giải đấu,[22] ông tái gia nhập Hild và ký hợp đồng với câu lạc bộ nghiệp dư ASPV Strasbourg vào năm 1975.[12]

Năm 1978, ông gia nhập RC Strasbourg và ra sân lần đầu tiên trong trận đấu với Monaco.[23] Ông đã ra sân 12 lần cho đội bóng, giúp Strasbourg đoạt chức vô địch Ligue 1.[23] Wenger cũng đã 1 trận tại UEFA Cup.[22] Năm 1981, ông nhận được tấm bằng huấn luyện viên và huấn luyện cho đội trẻ Strasbourg.[24]

Sự nghiệp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Nancy và Monaco (1984-1994)[sửa | sửa mã nguồn]

Wenger làm trợ lý huấn luyện viên cho câu lạc bộ AS Cannes tại giải Ligue 2 năm 1983.[25] Một năm sau đó, thông qua sự giới thiệu của Aldo Platini (cha của Michel Platini), ông trở thành huấn luyện viên của Nancy tại Ligue 1.[25] Đến hết mùa bóng 1984-85, mùa giải đầu tiên của ông trên cương vị huấn luyện viên, Nancy đứng ở vị trí thứ 12 tại Ligue 1, cao hơn các mùa giải trước đó 3 bậc.[26] Tuy nhiên, mùa 1985-86 câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ 18, đồng nghĩa với việc phải thắng trận play-off mới có cơ hội trụ hạng.[25] Trong mùa giải cuối cùng của Wenger phụ trách, Nancy chỉ đứng thứ 19 và bị xuống hạng Ligue 2.[25] Aldo, người bổ nhiệm Wenger vào chiếc ghế huấn luyện viên trưởng, nói: "Đó không phải lỗi do anh ấy. Anh ấy không có tiền để chi tiêu".[25]

Trong thời gian ở Nancy, Wenger đã thu hút sự quan tâm của các câu lạc bộ tại Ligue 1, đặc biệt là câu lạc bộ AS Monaco.[25] Trong việc tìm kiếm thách thức mới ở phía nam, ông đề nghị từ chức trước mùa 1986-87, tuy nhiên chủ tịch Nancy, ông Jacques Rousselot đã phản đối.[27] Phải đến hết mùa giải 1986-87, khi Nancy xuống hạng, Wenger đã được phép rời khỏi câu lạc bộ theo thoả thuận chung và gia nhập Monaco.[25]

Wenger xác định sẽ mua một vài cầu thủ để xây dựng đội bóng của mình mong muốn.[27] Tiền vệ của Tottenham Hotspur, Glenn Hoddle, cầu thủ chuyển nhượng tự do, Patrick Battiston, hết hợp đồng tại Bordeaux, đã ký hợp đồng với Monaco.[27] Tiền đạo Mark Hateley rời Milan để gia nhập Monaco và đã được khuyến khích chơi cùng Hoddle.[28] Monaco giành chức vô địch trong mùa giải đầu tiên của Wenger, hơn sáu điểm trước á quân Bordeaux.[29] Mặc dù đội ghi nhiều bàn thắng hơn trong 1988-1989 do đã mua tiền đạo người Liberia George Weah nhưng đã không thể bảo vệ chức vô địch khi về thứ ba chỉ sau MarseilleParis Saint-Germain.[30] Câu lạc bộ vào đến chung kết của cúp quốc gia Pháp nhưng thua 4-3 trước Marseille.[31]

Monaco một lần nữa đứng thứ 3 trong mùa bóng 1989-90. Tiền đạo Ramón Díaz đã ghi 15 bàn trong mùa giải đầu tiên của mình tại câu lạc bộ[32][33] Câu lạc bộ đánh bại Marseille trong trận chung kết Cúp quốc gia vào năm 1991, với bàn thắng ở phút bù giờ thứ nhất của cầu thủ vào sân thay người Gérald Passi[31] Mùa bóng 1991-92, Monaco đứng ở vị trí thứ nhì và thua trong trận chung kết European Cup Winners' Cup 1992 với tỷ số 0-2 trước Werder Bremen.[34] Mặc dù Monaco có được sự phục vụ của tiền đạo người Đức Jurgen Klinsmann, câu lạc bộ có thể không giữ lại chức vô địch và kết thúc các mùa tiếp theo ở vị trí thứ ba và thứ chín.[35][36] Monaco đã lọt vào bán kết của Champions League vào tháng 4 năm 1994, nhưng đã để thua đội vô địch mùa bóng đó là Milan.[37] Như một kết quả của công việc tại Monaco, Wenger sau khi tìm được câu lạc bộ Đức Bayern München, những người muốn ông là huấn luyện viên tiếp theo của họ.[38] Monaco đã từ chối và Wenger quyết định ở lại, nhưng một sự khởi đầu nghèo nàn trong mùa giải 1994-95, ông đã bị sa thải khi Monaco chỉ đứng vị trí thứ 17.[39] Năm 2001, Wenger nói rằng tác động của hối lộtham nhũng đã ảnh hưởng đến quyết định của ông rời khỏi nước Pháp, như Marseille đã bị phát hiện có tội trong một trận đấu vào năm 1994.[40]

Nagoya Grampus Eight (1995-1996)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 1995, ông trở thành huấn luyện viên câu lạc bộ Nhật Bản Nagoya Grampus Eight.[41] Ông đã thuê cựu huấn luyện viên Valenciennes Boro Primorac, người mà ông đã kết bạn với năm 1993, là trợ lý của ông.[42] Wenger hỗ trợ đầy đủ các huấn luyện viên đến từ Nam Tư khi ông đưa ra bằng chứng trước Marseille trong trận đấu ấn định.[42] Primorac vẫn là cánh tay phải của Wenger trong những năm sau đó và cho đến năm 2012 vẫn giữ vị trí này.

Wenger được hưởng một thời gian thành công 18 tháng với câu lạc bộ, khi Nagoya Grampus đã giành chức vô địch Cúp quốc gia, Cúp Nhà Vua Nhật Bản, trong mùa giải đầu tiên của mình và ông đã nhận được giải Huấn luyện viên J.League của năm vào năm 1995.[43] Trong mùa cuối cùng của ông, Nagoya Grampus đã hoàn thành mùa giải ở vị trí á quân trong bảng xếp hạng. Đây là vị trí tốt nhất của đội bóng đến năm 2010, khi cựu học trò của ông Dragan Stojkovic Wenger dẫn dắt câu lạc bộ tới danh hiệu đầu tiên của họ.[37]

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

1996-2003[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1996, Arsenal sa thải huấn luyên viên Bruce Rioch.[44] Mặc dù cựu cầu thủ của Barcelona, Johan Cruyff muốn ngồi vào chiếc ghế nóng, nhưng Arsenal lại bổ nhiệm Wenger làm huấn luyện viên trưởng ngày 30 tháng 9 năm 1996.[45] Ông chính thức đảm nhận vị trí này vào ngày hôm sau.[46] Wenger là một người bạn thân của phó Chủ tịch câu lạc bộ Arsenal David Dein, người mà ông gặp nhau lần đầu trong trận đấu giữa Arsenal và Queen Park Rangers vào năm 1988.[47] Mặc dù trước đó ông đã được chào mời như là một giám đốc kỹ thuật của Liên đoàn bóng đá,[48] nhưng Wenger lúc đó vẫn chưa am hiểu lắm về bóng đá Anh, tờ Evening Standard đã có một cuộc hẹn với ông mang tiêu đề "Arsène Who?".[49]

Lúc đầu, tôi nghĩ rằng: Những gì người Pháp này biết về bóng đá? Ông đeo kính và trông giống như một giáo viên. Ông sẽ không được tốt như George [Graham]. Ông ấy ấy thậm chí còn nói tiếng Anh đúng cách?

Đội trưởng gắn bó 3 thập niên khác nhau với Arsenal, Tony Adams.[50]

Một tháng trước khi chính thức trở thành huấn luyện viên của đội bóng, Wenger thông báo câu lạc bộ đã ký hợp đồng với tiền vệ người Pháp Patrick VieiraRémi Garde.[51] Trận đấu đầu tiên của ông là chiến thắng 2-0 trước Blackburn vào ngày 12 tháng 10 năm 1996,[52] nhưng ông đã đề nghị "một hoặc hai thay đổi" để Rat Rice làm huấn luyện viên tạm trong thất bại của đội Borussia Mönchengladbach, tại UEFA Cup vào ngày 25 tháng 9 năm 1996.[53] Arsenal đứng thứ ba trong mùa giải đầu tiên của Wenger và bỏ lỡ Champions League (vị trí thứ hai thuộc về Newcastle) vì hiệu số bàn thắng bại - được sử dụng để xác định sự khác biệt giữa số bàn thắng của cả hai câu lạc bộ đã ghi bàn và để thủng lưới.[54]

Trong mùa giải thứ hai, Arsenal giành được Premier League và FA Cup để hoàn thành cú đúp trong lịch sử của câu lạc bộ.[55] Đội bóng đá tạo ra khoảng cách 12 điểm với Manchester United trong vài tuần cuối cùng của mùa giải.[56] Thành công của Arsenal dựa trên một hàng phòng thủ kiên cố, vững chắc do người huấn luyện viên cũ George Graham để lại, bao gồm Tony Adams, Steve Bould, Nigel Winterburn, Lee DixonMartin Keown. Các hậu vệ đã góp một phần vào tám trận giữ sạch lưới liên tiếp từ giữa tháng 1 đến tháng 3 năm 1998.[57] Wenger coi tiền đạo Dennis Bergkamp là "điểm nhấn" cho phong độ tốt của đội bóng vào cuối mùa giải.[58] Bản hợp đồng mới, Petit như một đối tác cho Vieira, cầu thủ chạy cánh Marc Overmars và tiền đạo Nicolas Anelka cũng hưởng lợi từ những huấn luyện viên thông minh trong việc quản lý.[59]

Mùa bóng sau là một mùa bóng không thành công, bằng một loạt danh hiệu bị bỏ lỡ. Mùa 1998-99, đội bóng không bảo vệ thành công chức vô địch, chỉ đứng thứ hai sau Man Utd.[60] Man Utd cũng đã loại Arsenal tại bán kết Cúp FA, với bàn thắng được ghi bởi Ryan Giggs, sau trận đấu Wenger đã nói, "đó không phải là đêm của chúng tôi và chúng tôi đã không may mắn".[61] Mùa bóng 1999-2000 Arsenal lọt đến chung kết UEFA Cup nhưng thua trước Galatasaray trên chấm penalty với tỷ số 5-4.[62] Năm 2001, Arsenal lọt đến chung kết FA Cup nhưng đã thua Liverpool, mặc dù họ chiếm ưu thế trong phần lớn thời gian trận đấu.[63] Trong thời gian không có danh hiệu, Overmars và Petit đã gia nhập Barcelona và Wenger đã liên kết với một động thái huấn luyện ở đó.[64] Nhưng thay vào đó ông ký hợp đồng mới có thời hạn thêm bốn năm với câu lạc bộ trong tháng 7 năm 2001.[65] Arsenal thực hiện một số bản hợp đồng trong mùa hè, đặc biệt là sự xuất hiện gây tranh cãi của hậu vệ Sol Campbell, theo dạng chuyển nhượng tự do, từ đối thủ cùng thành phố Tottenham Hotspur[66] và tiền vệ Giovanni van Bronckhorst từ Rangers.[67] Fredrik Ljungberg, Thierry HenryRobert Pirès, những cầu thủ được mua từ mùa trước, đưa đưa lên đội hình 1.[68][69]

Wenger huấn luyện các cầu thủ Arsenal

Arsenal lại giành cú đúp danh hiệu một lần nữa trong mùa giải 2001-02.[70] Những khoảnh khắc tột đỉnh là chiến thắng trước Manchester United tại Old Trafford trong trận đấu áp chót của mùa giải.[70] Tiền đạo Sylvain Wiltord ghi bàn thắng để giúp câu lạc bộ giành chức vô địch thứ, bốn ngày trước đó, Arsenal đánh bại Chelsea 2-0 trong trận chung kết FA Cup 2002.[71] Đội bóng đã ghi bàn trong tất cả các trận đấu của giải đấu, và bất bại trên sân khách.[71]

Mùa bóng 2002-03 là một mùa bóng tốt của Arsenal. Họ đã vượt qua các kỷ lục 22 trận bất bại của Nottingham Forest và 29 trận bất bại của Man Utd.[72] Wenger nhận định rằng nếu thi đấu tốt họ sẽ có một mùa giải bất bại.[c] Thế nhưng chuỗi trận bất bại của Arsenal đã bị chặn đứng, khi họ thua 2-1 trước Everton bởi bàn thắng của cầu thủ trẻ Wayne Rooney.[74][75] tuy nhiên hơn tám điểm với Man Utd trong tháng 3 năm 2003.[76] Tuy nhiên trong những tuần cuối cùng của mùa bóng, Manchester United đã vượt qua Arsenal, do đội bóng hòa 2-2 với Bolton và thua trên sân nhà trước Leeds United.[76] Tuy nhiên họ lại được bù đắp bởi chức vô địch FA Cup năm 2003 sau chiến thắng trước Southampton với tỷ số 1-0.[77] Wenger bác bỏ ý kiến cho rằng đó là một mùa giải bất bại và cho biết:

Tất nhiên là chúng tôi muốn giành chiến thắng trong tất cả các giải đấu, nhưng tôi nghĩ rằng điều khó khăn nhất cho câu lạc bộ là phải được đoàn kết và chúng tôi đã được đáng kể công việc trên. Chúng tôi bị mất các giải đấu về tay một đội bóng [Manchester United], họ dành số tiền trên 50% mỗi năm - năm cuối cùng họ đã mua một cầu thủ với giá 30 triệu Bảng Anh. Và khi họ bị mất chức vô địch thì họ sẽ quyét tâm đòi lại trong mùa tiếp theo, và chúng tôi đã phải chiến đấu với họ.[78]

2003- nay[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2003-2004 là một mùa giải đại thành công với Wenger. Họ trở thành đội bóng đầu tiên không thua một trận nào tại giải ngoại hạng Anh[79] (nếu tính cả giải hạng nhất trước 1992 thì họ là đội bóng thứ hai sau Preston North End 115 năm trước có được thành tích này) và Wenger cũng trở thành huấn luyện viên duy nhất có được thành tích này trong lịch sử giải bóng đá Ngoại hạng Anh.[80][81] Wenger, người đã nói đến các đề xuất Arsenal bất bại, phản ảnh rằng ông nói "hơi quá sớm".[82] Arsenal tiếp tục làm kỷ lục 49 trận bất bại cho đến khi thua trước Man Utd vào ngày 24 tháng 10 năm 2004.[83] Arsenal thi đấu tương đối tốt ở mùa bóng 2004-05, về nhì sau Chelsea, khi đội bóng Tây London hơn Arsenal 12 điểm.[84] Tuy nhiên họ cũng có danh hiệu FA Cup, khi đánh bại Man Utd trên loạt sút luân lưu trong trận chung kết không bàn thắng.[85]

Cổ động viên Arsenal giơ khẩu hiệu 'In Arsène We Trust' năm 2009

Arsenal có hai mùa bóng không mấy thành công trong các mùa 2005-06 và 2006-07. Đội bóng chỉ về thứ tư trong cả hai mùa giải và lần đầu tiên ở ngoài top 4 dưới triều đại của Wenger.[86][87] Câu lạc bộ lọt đến chung kết Champions League lần đầu tiên vào năm 2006, nhưng thua 1-2 trước Barcelona.[88] Mùa hè năm 2006, Arsenal chuyển đến sân vận động Emirates, Wenger cho rằng số chỗ ngồi tăng lên là nguồn lực tài chính cho câu lạc bộ.[89] Họ lọt tới chung kết League Cup 2007, Wenger tung ra sân đội hình trẻ và thua trước Chelsea.[90]

Sự ra đi của Dein năm 2007 và đội trưởng Henry chuyển sang Barca vào tháng 6, chiếc ghế của Wenger cũng chưa chắc chắn ở lại Arsenal trước mùa bóng 2007-08 khởi tranh. Tháng 9 năm 2007, ông ký hợp đồng thêm ba năm với Arsenal, nhấn mạnh rằng, "đây là câu lạc bộ của cuọc đời tôi".[91] Arsenal đã có một khởi đầu tốt trong các giải đấu và trở thành đội bóng đầu tiên đạt 60 điểm trong tháng 2 năm 2008.[92] Một chấn thương đe dọa đến sự nghiệp của tiền đạo Eduardo trong trận gặp Birmingham ngày 23 tháng 2 năm 2008, Wenger đã chỉ trích Martin Taylor nhưng sau đó đã rút lại.[93] Ba trận không thắng trong tháng ba đã khiến cho Arsenal bị Man Utd và sau đó là Chelsea vượt mặt. Họ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ ba[94], cho dù Emmanuel Adebayor lập hat-trick trong trận thắng 6-2 trước Derby, trở thành cầu thủ duy nhất trong lịch sử Giải Ngoại hạng lập hat-trick ở cả lượt đi và lượt về.[95][96]

Arsenal đã có một khởi đầu khó khăn trong mùa bóng thứ 12 của Wenger. Họ bán đi đội trưởng William Gallas, sau đó chỉ định Cesc Fabregas làm đội trưởng.[97] Arsenal đứng thứ tư trên bảng xếp hạng và lọt vào bán kết Champions League và FA Cup, nhưng Wenger đã bị chỉ trích bởi người hâm mộ.[98] Arsenal đứng thứ ba mùa giải 2009-10[99] và lọt đến tứ kết Champions League nhưng thua trước Barcelona.[100] Hiệu suất ghi bàn của tiền đạo Lionel Messi khiến Wenger phải bảo Messi là "cầu thủ xuất sắc nhất thế giới".[100]

Trong tháng 8 năm 2010, Wenger đã ký hợp đồng thêm ba năm để tiếp tục sự nghiệp quản lý của mình tại Arsenal.[101] Câu lạc bộ đã để mất chức vô địch Carling Cup sau khi thua 1-2 trước Birmingham trong trận chung kết, sau pha phối hợp bất cẩn giữa thủ môn Wojciech Szczesny và hậu vệ Laurent Koscielny giứp cho Obafemi Martins của Birmingham ghi bàn.[102][103] Sau đó là chỉ hai chiến thắng trong 11 trận ở Premier League, để đưa họ từ cánh cửa đến danh hiệu chỉ kết thúc vị trí thứ tư.[104] Họ đã bị loại ở FA Cup và Champions League bởi Manchester United[105]Barcelona.[106] Đầu mùa bóng 2011-12, Arsenal đã bán đi hai cầu thủ quan trọng là Cesc FabregasSamir Nasri. Chấn thương của các cầu thủ ngay lúc phải gặp Manchester United ngay vòng 3 và thua đậm với tỷ số 2-8, đây là thất bại nặng nhất của Arsenal trong 115 năm qua.[107][108] Sau trận đấu, Sir Alex Ferguson đã chỉ trích chính sách chuyển nhượng của Wenger.[109] Trận thua trước Tottenham vào đầu tháng 10 đã khiến cho Arsenal khởi đầu tồi tệ nhất chỉ trong vòng 58 năm qua, với bốn thất bại sau bảy trận đấu.[110] Tuy nhiên, phong độ chói sáng của đội trưởng Van Persie cuối mùa đã giúp cho Arsenal được dự Champions League lần thứ 15 liên tiếp.[111] Persie đã ghi 37 bàn trong mùa này cho Arsenal sau khi bình phục chấn thương.[112] Tuy nhiên ngày 17 tháng 8 anh này gia nhập Man Utd với giá 24 triệu Bảng và Wenger thừa nhận câu lạc bộ mua tiền đạo Olivier Giroud và Lukas Podolski trước đó để thay thế Van Persie.[113] Wenger còn mua Santi Cazorla với giá khoảng 16 triệu bảng.[114] Arsenal thi đấu tương đối tốt ở mùa giải 2012-13, họ đè bẹp Tottenham một lần nữa với tỷ số 5-2.[115] Kết thúc năm 2012, Arsenal đứng ở vị trí thứ 5 sau chiến thắng 7-3 trước Newcastle[116] Wenger đã bị kêu gọi từ chức sau trận thua 0-1 trước Blackburn tại vòng 5 FA Cup.[117] Họ đã lọt đến vòng knock-out Champions League, nhưng thua trước Bayern München vì luật bàn thắng sân khách.[118] Khi mọi người đang nghĩ đến việc Arsenal chỉ giành suất dự Europa League, thì họ đã có chuỗi 10 trận bất bại, trong đó có chiến thắng 1-0 trước Newcastle vào vòng đấu cuối cùng đã giúp Wenger và Arsenal giành vé dự Champions League lần thứ 16 liên tiếp.[119][120]

Trong chuyến du đấu mùa hè 2013, Arsenal của Wenger đã giành chiến thắng lần lượt là 7-0 và 7-1 trước đội tuyển tương ứng là Các Ngôi Sao Indonesia[121]Việt Nam[122], trong chuyến du đấu Nhật Bản, Pháo thủ lần lượt giành chiến thắng 3-1 và 2-1 trước các đội tương ứng là Nagoya Grampus[123] và Utawa Reds[124]. Tại giải Emirates Cup 2013, thầy trò Wenger không thể giành được chức vô địch, khi thua Galatasaray 2-1. Wenger phát biểu sau trận và cố làm nhẹ thất bại:[125]

Arsenal kiểm soát trận đấu, còn Galatasaray thì không hề tỏ ra nguy hiểm. Nhưng chúng tôi đã xuống sức, không duy trì được nhịp độ và ưu thế trong hiệp hai. Chúng tôi bị trừng phạt vì điều đó. Dù sao, đây vẫn là một sự chuẩn bị tốt

Đầu mùa giải 2013-14, Arsenal đã phải nhận một thất bại ngay vòng đầu tiên trước Aston Villa với tỷ số 3-1.[126] Tuy nhiên họ đã giành được vé vào vòng bảng Champions League, khi đánh bại Fenerbahçe 2-0.[127]

Triết lý bóng đá[sửa | sửa mã nguồn]

Wenger có một triết lý có thể nói là đã làm cuộc cải tổ nền bóng đá Anh.

  • Thứ nhất là lối sống đã tác động đến sự nghiệp. Các cầu thủ hoàn toàn có thể thay đổi sự nghiệp của họ một cách hiệu quả nếu thay đổi chế độ ăn uống, và chừng mực nào đó là lối sống của họ. Bằng cách điều chỉnh dinh dưỡng, ông đã tạo ra một đội hình Arsenal hiệu quả nhất trong lịch sử, giúp Arsenal bất bại lịch sử năm 2003.[3][4]
  • Thứ hai là việc mua và tìm kiếm các cầu thủ nước ngoài. Quan niệm truyền thống của bóng đá Anh cho rằng các cầu thủ nước ngoài không thể mang lại lợi ích to lớn đã được Wenger thay đổi. Trước đó, người ta cho rằng các cầu thủ ngoại quốc không phù hợp, và không thể chơi bóng theo phong cách của người Anh. Patrick Vieira, Dennis Bergkamp, Thierry Henry[3] đã giúp phần còn lại của bóng đá Anh nhận ra: Thứ bóng đá mà họ chơi khác châu Âu, nhưng không có nghĩa là cầu thủ châu Âu không thể chơi bóng ở đây.[4]
  • Thứ ba là tìm kiếm và đào tạo tài năng. Bởi vì các đội bóng Anh không theo dõi các cầu thủ nước ngoài, họ thường không tìm ra những tài năng nước ngoài phù hợp với bóng đá Anh, trong khi giá trị của các cầu thủ Anh thường bị "đội" lên vì truyền thông ưa thổi phồng. Nhưng hệ thống phát hiện tài năng của Wenger đã cho thấy rằng tài năng có thể tìm được ở bất kỳ đâu.[4]
  • Đào tạo cầu thủ trẻ. Xây dựng một hệ thống đào tạo nhất quán có thể giúp ông Wenger tạo ra một đội ngũ với triết lý thống nhất và có tính kế thừa. Đây là một mô hình tương tự La Masia, nhưng tính tập trung thấp hơn. Các cầu thủ từ 9-11 tuổi sẽ được tập hợp từ khắp nơi trên thế giới, tập luyện ở đội trẻ, được gạn lọc cho đến năm 16 tuổi, khi quy định về giấy phép lao động ở Anh có hiệu lực. Những người đáp ứng đủ điều kiện sẽ ở lại, chơi cho đội B và sau này là đội một của Arsenal.[4]
  • Cân bằng tài chính. Nguyên tắc của Wenger là không chi tiêu vượt quá những gì kiếm được. Chelsea và Manchester City là hai mô hình hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc này, nhưng vào thời điểm mà Luật công bằng tài chính của UEFA sắp đi vào thực tiễn, thì hai đội nhà giàu kia (đặc biệt là Man City) đang dần siết chặt chi tiêu và chú trọng hơn đến khâu điều hành. Một minh chứng cho thấy tư tưởng đi trước thời đại của ông Wenger.[4]

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Wenger kết hôn với cựu cầu thủ bóng rổ Annie Brosterhous và đã có được một con gái, Léa (sinh 1997)[128] và sống ở Totteridge, London.[5] Ông thành thạo tiếng Pháp, tiếng Alsace, tiếng Đứctiếng Anh; ông cũng nói được một ít tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nhatiếng Nhật[129].

Thành tích và danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Khi là cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

[22][130]

Mùa giải Câu lạc bộ Giải đấu Trong giải đấu Cúp Châu Âu Tổng cộng
Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn
1969–70 Mutzig CFA
1970–71 Hạng 3
1971–72
1972–73 3 1 3 1
1973–74 FC Mulhouse Ligue 2 25 2 25 2
1974–75 31 2 31 2
1975–76 ASPV Strasbourg Bas-Rhin 3 1 3 1
1976–77 Division d'Honneur 5 0 5 0
1977–78 Division 3
1978–79 RC Strasbourg Ligue 1 2 0 1 0 3 0
1979–80 1 0 1 0
1980–81 8 0 1 0 9 0
Tổng cộng 67 4 12 2 1 0 80 6

Khi là huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 19 tháng 5 năm 2013.[22][131]
Đội Từ Đến Kết quả
ST T H T % Thắng
AS Nancy 1 tháng 4 năm 1984 1 tháng 7 năm 1987 &0000000000000114.000000114 &0000000000000033.00000033 &0000000000000030.00000030 &0000000000000051.00000051 &0000000000000028.95000028,95
AS Monaco 1 tháng 7, 1987 17 tháng 9 năm 1994 &0000000000000266.000000266 &0000000000000130.000000130 &0000000000000053.00000053 &0000000000000083.00000083 &0000000000000048.87000048,87
Nagoya Grampus 9 tháng 12 năm 1994 30 tháng 9 năm 1996 &0000000000000056.00000056 &0000000000000038.00000038 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 &0000000000000018.00000018 &0000000000000067.86000067,86
Arsenal 1 tháng 10 năm 1996 Đương nhiệm &0000000000000954.000000954 &0000000000000543.000000543 &0000000000000228.000000228 &0000000000000183.000000183 &0000000000000056.92000056,92
Tổng cộng &0000000000001390.0000001.390 &0000000000000744.000000744 &0000000000000311.000000311 &0000000000000335.000000335 &0000000000000053.53000053,53

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi là cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Strasbourg

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Monaco
Nagoya Grampus
Arsenal
Cá nhân

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Vị trí của Wenger không rõ hay có thể nói là không xác định. Theo Hild, ông chơi một vị trí như một tiền vệ tấn công, "Những người có thể ghi bàn khoảng tám bàn thắng trong một mùa giải từ khoảng cách xa".[13] Những nguồn khác nói ông đã chơi ở vị trí Trung vệ hay Hậu vệ quét.[14][15]
  2. ^ Mức độ học hành đối vói Wenger là không rõ. Một số tờ báo, chẳng hạn như tờ The Independent và The Economist đã nhận xét rằng ông hoàn thành bằng thạc sĩ (Maitrise) trong lĩnh vực khoa học kinh tế.[16][17] Những nguồn khác, như tờ thể thao của Pháp, nói rằng Wenger đã đạt được tấm bằng cử nhân kinh tế.[18] Theo tờ Daily Mirror, rằng ông có cả tấm bằng về kỹ sư điện, nhưng không có thông tin như vậy được đưa ra trong hồ sơ của Arsenal hay chia sẻ trong những cuộc phỏng vấn được công bố[19] Wenger đã công bố còn được cho là đã giành được một suất học tại Đại học Stanford, theo Evening Standard, người đã phỏng vấn cha mẹ của ông.[9]
  3. ^ Wenger nói rằng: Đó không phải là không thể. Tôi biết sẽ rất khó khăn để chúng tôi có một mùa bất bại. Nhưng nếu chúng ta giữ được phong độ tốt, chúng ta có thể sẽ làm được điều đó.[73]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Arsène Wenger – Player Profile”. Eurosport Australia. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012. 
  2. ^ "Giáo sư" Wenger quá giỏi
  3. ^ a ă â b "Giáo sư" Arsene Wenger và cột mốc 10 năm với “đoàn pháo thủ” Arsenal Báo nhân dân. Truy cập 7 tháng 8 năm 2013.
  4. ^ a ă â b c d PAN (21 tháng 2 năm 2013). “Wenger là một cuộc cách mạng”. Truy cập 1 tháng 8 năm 2013. 
  5. ^ a ă â b Rees, Jasper (18 tháng 8 năm 2003). “Inside the mind of Arsene Wenger (excerpt from Wenger: The Making of a Legend by Jasper Rees)”. The Guardian (London). Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2008. 
  6. ^ a ă Slot, Owen (9 tháng 8 năm 2004). “Wenger emerges from cruel past”. The Times (London). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2012.  (Cần đăng ký mua)
  7. ^ a ă Barnes, David (23 tháng 3 năm 2003). “Football: Has he got Le Bottle?”. The People (London). tr. 21. 
  8. ^ Hytner, David (25 tháng 9 năm 2009). “I owe everything to growing up above a pub, says Arsène Wenger”. The Guardian (London). Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009. 
  9. ^ a ă Bond, David (15 tháng 5 năm 1998). “Voila votre vie!; How a postcard led to a beautiful friendship”. Evening Standard (London). tr. 71. 
  10. ^ Palmer, Myles (31 tháng 3 năm 2011). The Professor: Arsène Wenger. Random House. tr. 9. ISBN 0-7535-4661-2. 
  11. ^ Palmer, Myles (31 tháng 3 năm 2011). The Professor: Arsène Wenger. Random House. tr. 9–10. ISBN 0-7535-4661-2. 
  12. ^ a ă â Palmer, Myles (31 tháng 3 năm 2011). The Professor: Arsène Wenger. Random House. tr. 10. ISBN 0-7535-4661-2. 
  13. ^ “As a player Arsene was no good in the air – but as a manager he's brilliant with his head!”. Sunday Mirror (London). 19 tháng 4 năm 1998. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.  Bản mẫu:Subscription needed
  14. ^ Bradford, Tim (2006). When Saturday Comes: The Half Decent Football Book. Penguin UK. ISBN 0-14-101556-X. 
  15. ^ Lawton, James (23 tháng 10 năm 2004). “Deadly rivalry nears its defining moment”. The Independent (London). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012. 
  16. ^ Nevin, Charles (13 tháng 3 năm 2010). “Arsene Wenger: 'Am I too intelligent to be a football manager? You can never be intelligent enough'”. The Independent (London). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  17. ^ “Game for geeks”. The Economist. 13 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012. 
  18. ^ “Sport U Magazine” (PDF). FF Sport U (97): 4–5. April năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012. 
  19. ^ Hepburn, Ray (23 tháng 8 năm 2009). “Mowbray would love to emulate Wenger but he's racing a Porsche in a Mini”. Sunday Mirror (London). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.  (Cần đăng ký mua)
  20. ^ Mariadass, Tony (19 tháng 5 năm 1999). “Just be there!”. The Malay Mail. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.  (Cần đăng ký mua)
  21. ^ Palmer, Myles (31 tháng 3 năm 2011). The Professor: Arsène Wenger. Random House. tr. 11. ISBN 0-7535-4661-2. 
  22. ^ a ă â b “Football: Arsène Wenger”. footballdatabase.eu. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012. 
  23. ^ a ă “Football: From Mutzig to Highbury: A brief history of Arsene Wenger”. The Independent (London). 17 tháng 9 năm 1996. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2010. 
  24. ^ “Profile: Arsene Wenger”. BBC News (BBC). 12 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2008. 
  25. ^ a ă â b c d đ Palmer, Myles (31 tháng 3 năm 2011). The Professor: Arsène Wenger. Random House. tr. 12. ISBN 0-7535-4661-2. 
  26. ^ “Saison 1984/1945 Ligue 1”. Ligue 1. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2012. 
  27. ^ a ă â Rivoire, Xavier (2007). Arsène Wenger: The Biography. Aurum Press Ltd. tr. 35–36. ISBN 1-84513-276-9. 
  28. ^ Palmer, Myles (31 tháng 3 năm 2011). The Professor: Arsène Wenger. Random House. tr. 12–13. ISBN 0-7535-4661-2. 
  29. ^ “Saison 1987/1988 Ligue 1”. Ligue 1. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2012. 
  30. ^ “Saison 1988/1989 Ligue 1”. Ligue 1. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2012. 
  31. ^ a ă Palmer, Myles (31 tháng 3 năm 2011). The Professor: Arsène Wenger. Random House. tr. 16. ISBN 0-7535-4661-2. 
  32. ^ “Saison 1989/1990 Ligue 1”. Ligue 1. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2012. 
  33. ^ “Ramón Diaz”. National Football Teams. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2012. 
  34. ^ Fletcher, Paul (14 tháng 8 năm 2007). “Arsenal's European frustration”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2012. 
  35. ^ “Saison 1992/1993 Ligue 1”. Ligue 1. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2012. 
  36. ^ “Saison 1993/1994 Ligue 1”. Ligue 1. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2012. 
  37. ^ a ă Carter, Jon (29 tháng 3 năm 2012). “Milan down the Dream Team”. ESPNSoccernet. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012. 
  38. ^ Palmer, Myles (31 tháng 3 năm 2011). The Professor: Arsène Wenger. Random House. tr. 16–17. ISBN 0-7535-4661-2. 
  39. ^ “Arsène Wenger n'entraîne plus l'AS Monaco”. Le Monde (bằng tiếng Pháp) (Paris). 18 tháng 9 năm 1994. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2012. 
  40. ^ Palmer, Myles (31 tháng 3 năm 2011). The Professor: Arsène Wenger. Random House. tr. 17. ISBN 0-7535-4661-2. 
  41. ^ Palmer, Myles (31 tháng 3 năm 2011). The Professor: Arsène Wenger. Random House. tr. 20. ISBN 0-7535-4661-2. 
  42. ^ a ă Veysey, Wayne (20 tháng 2 năm 2007). “The Invisible Man in Arsenal's Team”. Evening Standard (London). tr. 62. 
  43. ^ Marantz, Ken (12 tháng 12 năm 1995). “Stojkovic J-League's MVP”. The Daily Yomiuri (Tokyo). tr. 18. 
  44. ^ Thorpe, Martin (13 tháng 8 năm 1996). “Arsenal ditch Rioch and look abroad”. The Guardian (London). tr. 22. 
  45. ^ “Angry Wenger denies rumours”. Evening Standard (London). 7 tháng 11 năm 1996. tr. 71. 
  46. ^ Fleming, Mark (29 tháng 9 năm 2009). “Arsène Wenger: 'They were a little bit crazy to give me the job'”. The Independent (London). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2012. 
  47. ^ Clarke, Richard (9 tháng 10 năm 2006). “Ten Years of Wenger: a week of celebration”. Arsenal.com. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  48. ^ Metcalf, Rupert (4 tháng 1 năm 1997). “Wilkinson waits for job offer from FA”. The Independent (London). Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 
  49. ^ Dickinson, Matt (16 tháng 4 năm 2003). “Wenger in ceasefire after war of words”. The Times (London). Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012.  Bản mẫu:Subscription needed
  50. ^ Wilson, Jeremy (1 tháng 10 năm 2009). “Arsenal players hail Arsène Wenger as he becomes club's longest-serving manager”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012. 
  51. ^ Walters, Mike (25 tháng 9 năm 1996). “Don't Stitch Me Up; Arsene Wenger talking to Mirror Sport”. The Mirror (London). Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012. 
  52. ^ Culley, Jon (13 tháng 10 năm 1996). “Wenger begins on Wright lines”. The Independent on Sunday (London). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  53. ^ Whyte, Derrick (26 tháng 9 năm 1996). “Arsenal's dreams are ended by Juskowiak”. The Independent (London). Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  54. ^ Stewart, Colin (12 tháng 5 năm 1997). “Newcastle's firepower wins place in Champions League”. The Scotsman (Edinburgh). tr. 24. 
  55. ^ Ridley, Ian (17 tháng 5 năm 1998). “Football: Cup Final: The Double cream team”. The Independent on Sunday (London). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  56. ^ “Turning point in title run”. The Journal (Newcastle). 9 tháng 5 năm 1998. tr. 82. 
  57. ^ Shaw, Phil (1 tháng 4 năm 1998). “Football: Arsenal close the gap on United”. The Independent (London). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  58. ^ Bradley, Mark (2 tháng 5 năm 1998). “Wenger's warning on catalyst Bergkamp”. Birmingham Mail. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012.  (Cần đăng ký mua)
  59. ^ Holt, Oliver (18 tháng 5 năm 1998). “Overmars provides the driving force”. The Times (London). tr. 31. 
  60. ^ Moore, Glenn (17 tháng 5 năm 1999). “Football: Cole brings United fifth title”. The Independent (London). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  61. ^ “Sport: Giggs magic sinks Gunners”. BBC News (BBC). 14 tháng 4 năm 1999. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  62. ^ “Penalty heartbreak for Arsenal”. BBC News (BBC). 17 tháng 5 năm 2000. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  63. ^ “Owen shatters Arsenal in Cup final”. BBC Sport (BBC). 12 tháng 5 năm 2001. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  64. ^ Smith, Paul (25 tháng 3 năm 2001). “Football: Wenger wants to boss Barca; Exclusive: He'll ask Gunners today to release him”. Sunday Mirror (London). Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012.  (Cần đăng ký mua)
  65. ^ “Wenger set to renew contract”. BBC Sport (BBC). 6 tháng 7 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  66. ^ “Arsenal clinch Campbell signing”. BBC Sport (BBC). 3 tháng 7 năm 2001. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  67. ^ Hughes, Ian (13 tháng 8 năm 2001). “Gio could be key to Arsenal glory”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  68. ^ Greechan, John (3 tháng 8 năm 2001). “Freddie is fired up by the Arsenal hunt for trophies”. Daily Mail (London). tr. 91. 
  69. ^ Ingle, Sean (13 tháng 8 năm 2001). “Arsenal”. The Guardian. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  70. ^ a ă “Arsenal clinch Double”. BBC Sport (BBC). 8 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  71. ^ a ă “GGM 06: Wiltord goal clinches the Double”. Arsenal.com. 5 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  72. ^ Fletcher, Paul (6 tháng 10 năm 2002). “Record-breaking Arsenal”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2011. 
  73. ^ Lipton, Martin (21 tháng 9 năm 2002). “We Won't Lose One Match”. The Mirror (London). tr. 78–79. 
  74. ^ Thành Lê (20 tháng 10 năm 2002). “Cầu thủ 17 tuổi chặn đứng hai kỷ lục của Arsenal”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập 3 tháng 7 năm 2013. 
  75. ^ Giles, Karen (21 tháng 10 năm 2002). “Everton kid sends Liverpool to the top”. The Herald (Glasgow). tr. 5. 
  76. ^ a ă Fletcher, Paul (4 tháng 5 năm 2003). “Ten weeks that turned the title”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2012. 
  77. ^ Burt, Jason (18 tháng 5 năm 2003). “Football: Arsenal's Cup in safe hands”. The Independent (London). Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012.  (Cần đăng ký mua)
  78. ^ Arsenal boss Arsène Wenger. [Radio]. London: BBC. 4 May 2003. http://news.bbc.co.uk/media/audio/39177000/rm/_39177067_sport_wenger.ram. 
  79. ^ Mitchell, Kevin (16 tháng 5 năm 2004). “Unbeaten Arsenal in football heaven”. The Observer (London). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2012. 
  80. ^ Lời chúc đầu năm đến giáo sư Wenger, Bongda.com, truy cập tháng 7 năm 2013
  81. ^ Ancelotti, gắn bó sự nghiệp tại Chelsea, Hội cổ động viên Chelsea tại Việt Nam, truy cập tháng 7 năm 2013.
  82. ^ Moore, Glenn (17 tháng 5 năm 2004). “Wenger's invincibles need European success”. The Independent (London). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2011. 
  83. ^ “Man Utd 2–0 Arsenal”. BBC Sport (BBC). 24 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  84. ^ “Arsenal Annual Report 2004/2005” (PDF). Arsenal Football Club. 2005. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2012. 
  85. ^ “Arsenal 0–0 Man Utd (aet) – Arsenal win 5–4 on penalties”. BBC Sport (BBC). 21 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  86. ^ “Arsenal 4–2 Wigan”. BBC Sport (BBC). 7 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 
  87. ^ “Portsmouth 0–0 Arsenal”. BBC Sport (BBC). 13 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 
  88. ^ “Barcelona 2–1 Arsenal”. BBC Sport (BBC). 17 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 
  89. ^ Adderley, Nigel (15 tháng 8 năm 2005). “Wenger feels new stadium is vital”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  90. ^ Hytner, David (20 tháng 12 năm 2007). “The night Wenger decided to let his young stars shine”. The Guardian (London). Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2012. 
  91. ^ McCarra, Kevin (21 tháng 4 năm 2007). “Wenger mourns Dein loss and refuses to commit to new deal”. The Guardian (London). Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012. 
  92. ^ Taylor, Daniel (4 tháng 2 năm 2008). “Adebayor capitalises on freedom of expression”. The Guardian (London). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012. 
  93. ^ “Wenger retracts Martin Taylor comments”. The Daily Telegraph (London). 23 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 
  94. ^ McKenzie, Andrew (12 tháng 5 năm 2008). “How the title was won”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  95. ^ Stevenson, Jonathan (28 tháng 4 năm 2008). “Derby 2–6 Arsenal”. BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2009. 
  96. ^ Lister, Graham (1 tháng 1 năm 2009). “The Goal.com 50: Emmanuel Adebayor (27)”. Goal.com. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2013. 
  97. ^ Fifield, Dominic (25 tháng 11 năm 2008). “Fábregas made Arsenal captain as Wenger tries to heal rift”. The Guardian (London). Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012. 
  98. ^ Hytner, David (16 tháng 5 năm 2009). “Negative Arsenal fans make me feel like a murderer, says Arsène Wenger”. The Guardian (London). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012. 
  99. ^ Wilson, Jeremy (10 tháng 5 năm 2010). “Arsenal Premier League season review 2009-10”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2012. 
  100. ^ a ă “Arsène Wenger hails Barcelona's Lionel Messi after four-goal display”. The Guardian. 7 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012. 
  101. ^ “Arsène Wenger signs contract extension”. Arsenal.com. 14 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. 
  102. ^ McNulty, Phil (27 tháng 2 năm 2011). “Arsenal 1–2 Birmingham”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011. 
  103. ^ Hải Đăng (28 tháng 2 năm 2011). Thua phút cuối, Arsenal nối dài “cơn khát” danh hiệu Báo Dân Trí. Truy cập 4 tháng 7 năm 2013.
  104. ^ “Arsenal – 2010–11”. Statto Organisation. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012. 
  105. ^ McNulty, Phil (12 tháng 3 năm 2011). “Manchester United 2–0 Arsenal”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012. 
  106. ^ Sanghera, Mandeep (8 tháng 3 năm 2011). “Barcelona 3–1 Arsenal (agg 4–3)”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012. 
  107. ^ Anh Tuấn (29 tháng 8 năm 2011). Thua thảm 2-8, Arsenal quỵ gối trước M.U Báo điện tử VietNamNet. Truy cập 4 tháng 7 năm 2013.
  108. ^ Longman, Jeré (14 tháng 9 năm 2011). “The Worst of Times After Years of Success”. The New York Times. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012. 
  109. ^ “Sir Alex Ferguson defends Arsène Wenger against Arsenal critics”. Press Association. 29 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011. 
  110. ^ Gibson, Owen (6 tháng 10 năm 2011). “Arsenal say they would cope without Champions League football”. The Guardian (London). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012. 
  111. ^ Ronay, Barney (13 tháng 5 năm 2012). “Arsenal secure Champions League place with victory at West Brom”. The Guardian (London). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  112. ^ Jackson, Jamie (20 tháng 7 năm 2012). “Robin van Persie plus Wayne Rooney – dream combo or just too similar?”. The Guardian (London). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2012. 
  113. ^ “Robin van Persie: Arsene Wenger says Arsenal had to sell striker”. BBC Sport (BBC). 16 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2012. 
  114. ^ Cazorla CHÍNH THỨC thuộc về Arsenal Báo Thể thao Văn hóa. 7 tháng 8 năm 2012. Truy cập 4 tháng 7 năm 2013.
  115. ^ Hà Uyên (17 tháng 11 năm 2012). “Arsenal trừng phạt 'kẻ ngỗ ngược' Tottenham”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập 4 tháng 7 năm 2013. 
  116. ^ Kiều My (30 tháng 12 năm 2012). Walcott lập hattrick, Arsenal đại thắng Newcastle 7-3 Báo Dân Trí. Truy cập 4 tháng 7 năm 2013.
  117. ^ Wenger lại bị kêu gọi từ chức Báo thể thao văn hóa. Truy cập 4 tháng 7 năm 2013.
  118. ^ Phương My (14 tháng 3 năm 2013). “Bayern 0-2 Arsenal, lóe sáng để rồi phụt tắt”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập 4 THÁNG 7 NĂM 2013. 
  119. ^ Koscielny coi Champions League là mục tiêu quan trọng nhất Báo thể thao Việt Nam. Truy cập 4 tháng 7 năm 2013.
  120. ^ Hà Uyên (20 tháng 5 năm 2013). Arsenal giành vé cuối cùng dự Champions League Báo điện tử VNExpress. Truy cập 4 tháng 7 năm 2013.
  121. ^ Indonesia XI 0 Arsenal 7: Who says Wenger needs a striker? Gunners breeze through pre-season opener with rout in Jakarta Daily Mail.
  122. ^ Việt Nam 1-7 Arsenal: Mưa bàn thắng tại Mỹ Đình Báo Thể thao văn hóa. Truy cập 13 tháng 9 năm 2013.
  123. ^ Arsenal đánh bại Nagoya Grampus 3-1 Báo Người Lao Động.
  124. ^ Urawa Red - Arsenal 1-2: Dứt điểm kém, "pháo thủ" thắng vất vả
  125. ^ Phương Minh (5 tháng 8 năm 2013). “Drogba hạ Arsenal ngay tại Emirates”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập 13 tháng 9 năm 2013. 
  126. ^ Arsenal 1 - 3 Aston Villa: Pháo hỏng mất rồi! Vov.vn.
  127. ^ Kiều My (28 tháng 8 năm 2013). “Ramsey tỏa sáng, Arsenal giành vé dự vòng bảng Champions League”. Dân Trí. Truy cập 22 tháng 9 năm 2013. 
  128. ^ “Dialling the world of Soccer”. Daily Mail (London). 17 tháng 4 năm 1997. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012.  Bản mẫu:Subscription needed
  129. ^ “Amy Lawrence Q&A on Arsène Wenger”. bbc.co.uk. 
  130. ^ “Arsène Wenger”. Racing stub. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2009. 
  131. ^ “Arsene Wenger's managerial career”. Soccerbase. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2009. 
  132. ^ “Moore heads honours roll call”. BBC News (BBC). 14 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  133. ^ a ă “Manager profile, Arsene Wenger”. Premier League. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2011. 
  134. ^ “Wenger picks up another double”. League Managers Association. 14 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2012. 
  135. ^ “Wenger secures LMA award”. BBC Sport (BBC). 18 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2009. 
  136. ^ “Wenger at the Double”. BBC Sport (BBC). 8 tháng 12 năm 2002. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  137. ^ “BBC Sports Personality: The winners”. BBC Sport (BBC). 12 tháng 12 năm 2002. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010. 
  138. ^ “Freedom of Islington for Arsenal pair”. Islington Council. 29 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2012. 
  139. ^ “Arsene Wenger Tribute”. Football Writers' Association. 16 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2009. 
  140. ^ “Wenger voted World Coach of the Decade”. Arsenal.com. 10 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]