Michel Platini

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Michel Platini
Michel Platini 2008.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Michel François Platini
Ngày sinh 21 tháng 6, 1955 (61 tuổi)
Nơi sinh    Jœuf, Pháp
Chiều cao 1.78 m (5 ft 10 in)
Vị trí Tiền vệ
CLB trẻ
1966–1972
AS Joeuf
CLB chuyên nghiệp1
Năm CLB Trận (Bàn)*
1972–1979
1979–1982
1982–1987
AS Nancy
Saint-Étienne
Juventus
Sự nghiệp
181 0(98)
104 0(58)
147 0(68)
432 (224)   
Đội tuyển quốc gia
1976–1987 Pháp 072 0(41)
Sự nghiệp HLV
1988–1992 Pháp

1 Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia.
* Số trận khoác áo (Số bàn thắng)

Michel François Platini (phiên âm tiếng Việt như: Mi-sen Ph-răng-xoa Pla-ti-ni) (sinh ngày 21 tháng 6 năm 1955 tại Jœuf, Pháp) là một cựu cầu thủ của Juventus, cựu huấn luyện viên bóng đá và cũng là cựu Chủ tịch Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) từ năm 2007 đến năm 2016.

Trong sự nghiệp cầu thủ, Platini từng khoác áo các câu lạc bộ Nancy, Saint-ÉtienneJuventus. Platini là thành viên đội tuyển Pháp vô địch châu Âu năm 1984, giải đấu mà ông đồng thời là cầu thủ xuất sắc nhất và vua phá lưới. Ông cũng từng tham dự các World Cup 1978, 19821986, với thành tích hạng ba năm 1986 và hạng tư năm 1982. Platini cùng với Alain Giresse, Luis FernándezJean Tigana đã tạo nên Bộ tứ huyền ảo (tiếng Pháp: Le carré magique), hàng tiền vệ là trái tim của đội tuyển Pháp trong suốt thập niên 1980. Ông từng 3 lần được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu.

Platini từng là huấn luyện viên dẫn dắt đội tuyển Pháp ở Euro 92. Ông cũng là đồng Chủ tịch Ban tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 1998 (người còn lại là Fernand Sastre) ngay trên quê hương, giải đấu mà đội tuyển Pháp đã đoạt chức vô địch.

Ngày 26 tháng 1 năm 2007, Michel Platini đã đắc cử chức Chủ tịch UEFA sau cuộc họp Ban chấp hành Liên đoàn bóng đá châu Âu, tổ chức tại thành phố Dusseldorf (Đức). Michel Platini giành được 27 phiếu bầu, hơn 4 phiếu so với Chủ tịch đương nhiệm Lennart Johansson (có tổng cộng 52 phiếu, 2 phiếu trống).

Văn phòng kiểm sát tối cao của Thụy Sĩ tuyên bố vào ngày 25 tháng 9 2015 là đang điều tra Sepp Blatter về những tội phạm trong quản lý.[1][2] Vào ngày 8 tháng 10 2015 Sepp Blatter và các nhân viên cao cấp khác của FIFA cũng như chủ tịch Uefa, Michel Platini bị cấm các hoạt động liên quan tới vấn đề đá banh 90 ngày trong khi cuộc điều tra đang tiếp diễn. Trong tháng 2 2011, Blatter đã trả cho Platini 2 triệu đồng Franken Thụy Sĩ được cho là tiền công về những cố vấn từ năm 1998 cho tới 2002.[3],[4]

Ngày 10 tháng 5 năm 2016, ông chính thức tuyên bố từ chức chủ tịch UEFA sau khi thất bại trong nỗ lực kháng cáo lên Tòa án Trọng tài Thể thao quốc tế (CAS) về án phạt cấm tham gia mọi hoạt động bóng đá.

Các đội đã thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Các danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Với đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Với câu lạc bộ AS Nancy[sửa | sửa mã nguồn]

Với câu lạc bộ AS Saint-Étienne[sửa | sửa mã nguồn]

Với câu lạc bộ Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Các danh hiệu cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quả bóng vàng châu Âu 3 năm liên tiếp 1983, 1984 và 1985
  • Cầu thủ xuất sắc nhất trong năm của tạp chí World Soccer 1984 và 1985

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Criminal proceedings against the President of FIFA”. Office of the Attorney General of Switzerland. Ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2015. 
  2. ^ “Fifa: Sepp Blatter faces criminal investigation”. BBC. Ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2015. 
  3. ^ “FIFA President Sepp Blatter and Other Top Officials Suspended”. 
  4. ^ “Beben in Zürich”. , SZ, 8.10.2015

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
Flag of Italy.svg Paolo Rossi
Quả bóng vàng châu Âu
1983, 1984, 1985
Kế nhiệm:
Flag of the Soviet Union.svg Igor Belanov
Tiền nhiệm:
Flag of France.svg Henri Michel
Huấn luyện viên đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp
2007
Kế nhiệm:
Flag of France.svg Gérard Houllier
Tiền nhiệm:
Flag of Sweden.svg Lennart Johansson
Chủ tịch Liên đoàn bóng đá châu Âu
2007 - nay
Kế nhiệm:
đương nhiệm