Allan Simonsen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Allan Simonsen
Allan Simonsen (1976).jpg
Allan Simonsen (1976)
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Allan Rodenkam Simonsen
Ngày sinh 15 tháng 12, 1952 (66 tuổi)
Nơi sinh Vejle, Đan Mạch
Chiều cao 1,65 m (5 ft 5 in)
Vị trí Tiền đạo
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1971–1972 Vejle BK 42 (16[1])
1972–1979 Borussia Mönchengladbach 178 (76[2])
1979–1982 Barcelona 98 (31[3])
1982–1983 Charlton Athletic 16 (9[3])
1983–1989 Vejle BK 166 (70[1])
Tổng cộng 500 (202)
Đội tuyển quốc gia
1971–1972 U-21 Đan Mạch 6 (0[4])
1972–1986 Đan Mạch 55 (20[4])
Các đội đã huấn luyện
1991–1994 Vejle BK
1994–2001 Quần đảo Faroe
2001–2004 Luxembourg
2011–2013 FC Fredericia (giám đốc)
2013 FC Fredericia (tạm quyền)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia

Allan Rodenkam Simonsen (sinh 15 tháng 12 năm 1952) là huấn luyện viên và cựu cầu thủ bóng đá người Đan Mạch. Trong sự nghiệp cầu thủ, thời kì đỉnh cao ông thi đấu cho câu lạc bộ Đức Borussia Mönchengladbach, giành 2 Cúp UEFA vào năm 1975 và 1979, và FC Barcelona của Tây Ban Nha, giành Cúp C2 châu Âu năm 1982.

Allan Simonsen là cầu thủ duy nhất ghi bàn trong các trận chung kết của cả ba Cúp châu Âu: Cúp C1, Cúp C2 và Cúp C3 (Cúp UEFA). Ông giành được danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu năm 1977.

Trong màu áo đội tuyển quốc gia Đan Mạch, Simonsen tham gia 55 trận, ghi được 20 bàn.[5]. Ông có mặt trong đội hình đội tuyển Đan Mạch tại Thế vận hội Mùa hè 1972, Giải vô địch bóng đá châu Âu 1984Giải vô địch bóng đá thế giới 1986.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra tại Vejle, ông có trận đấu ra mắt tại câu lạc bộ Vejle Boldklub (VB) năm 1971. Ông giành danh hiệu vô địch Đan Mạch hai năm 1971 và 1972 cùng câu lạc bộ, trong đó năm 1972 còn giành thêm cả Cúp bóng đá Đan Mạch để có được ‘’cú đúp’’. Ông đá trận đầu tiên cho đội tuyển quốc gia vào tháng 7 năm 1972 với đội tuyển Iceland. Ông ghi hai bàn thắng giúp đội nhà thắng 5-2. Simonsen có mặt trong đội tuyển Đan Mạch tham dự Olympic mùa hè 1972. Tại Olympic, ông ghi 3 bàn trong 3 trận đầu giúp đội nhà lọt vào vòng hai. Simonsen mất phong độ ở vòng hai, bị thay ra ở 2 trong 3 trận cuối và Đan Mạch bị loại.

Với màn trình diễn ấn tượng (ghi 3 bàn) tại giải đấu quốc tế đầu tiên, Simonsen chuyển tới Đức thi đấu cho Borussia Mönchengladbach. Tuy khởi đầu ở đây không thành công, nhưng sau một thời gian ông đã có mặt trong đội hình chính. Mönchengladbach giành chức vô địch Bundesliga năm 1975 và Cúp UEFA cùng năm, với 2 bàn đóng góp của Simonsen trong trận chung kết. Mönchengladbach giành thêm một chức vô địch Bundesliga vào năm sau, 1976, và giành luôn ‘’cú đúp’’ khi đoạt Cúp bóng đá Đức.

1977 là năm thành công nhất trong sự nghiệp của Simonsen. Mönchengladbach giành chức vô địch Bundesliga lần thứ ba liên tiếp và vào tới trận chung kết Cúp C1 châu Âu.. Simonsen có bàn gỡ hoà 1-1 cho đội nhà, nhưng chung cuộc Mönchengladbach chịu thất bại 1-3 trước đối thủ Liverpool của Anh. Ông là cầu thủ Đan Mạch đầu tiên được bầu chọn danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu. Cuộc đua tới danh hiệu này rất quyết liệt khi Simonsen chỉ vượt qua tiền vệ Anh Kevin Keegan 3 điểm và tiền vệ Pháp Michel Platini 4 điểm để giành được giải thưởng uy tín này. Chiến thắng này càng ấn tượng khi đội tuyển Đan Mạch của Simonsen trong thập niên 1970 không phải là đội tuyển mạnh, do vậy ông không có nhiều cơ hội thể hiện ở cấp độ đội tuyển quốc gia.[6]

Ông có thêm được một danh hiệu Cúp UEFA với Mönchengladbach năm 1979, đóng góp bàn thắng quyết định trong trận chung kết. Sau đó ông chuyển sang Tây Ban Nha chơi cho FC Barcelona. Tại đây ông có được một Cúp Quốc gia Tây Ban Nha năm 1981 và tiếp theo là Cúp C2 châu Âu năm 1982, Simonsen ghi một bàn trong chiến thắng 2-1 ở trận chung kết. Khi Barcelona ký hợp đồng với tiền đạo Argentina Diego Maradona năm 1982, số cầu thủ nước ngoài trong đội thừa ra, do đó đội bóng có kế hoạch chuyển nhượng Simonsen. Ông chuyển tới thi đấu ở giải hạng nhì của Anh một cách bất ngờ trong màu áo Charlton Athletic với mức phí là 300.000 bảng Anh năm 1983. Mặc dù ghi được 9 bàn trong 16 trận ở đây, Simonsen vẫn bị đặt trong diện chuyển nhượng của Charlton Athletic do câu lạc bộ không đủ tiền để trả lương cho ông. Từ chối những lời chào mời của Tottenham Hotspur và một vài câu lạc bộ ở Serie A, ông quay trở lại câu lạc bộ quê nhà Vejle BK năm 1983.

Ông giữ vai trò quan trọng trong đội tuyển quốc gia Đan Mạch dưới thời huấn luyện viên Sepp Piontek. Tại vòng loại Euro 1984, Đan Mạch hơn đội đứng thứ nhì là Anh đúng 1 điểm trước khi hai đội gặp nhau tại sân nhà của Anh, Wembley vào tháng 9 năm 1983. Simonsen ghi một trong những bàn thắng quan trọng nhất trong lịch sử bóng đá Đan Mạch khi sút thành công quả phạt đền trước thủ môn Anh Peter Shilton. Chiến thắng tối thiểu này đảm bảo cho Đan Mạch lần đầu tiên lọt vào vòng chung kết một giải đấu quốc tế kể từ Thế vận hội mùa hè 1972 và một vòng chung kết Euro sau Euro 1964. Ông về thứ ba trong cuộc bầu chọn Quả bóng vàng châu Âu cùng năm.

Euro 1984 kết thúc nhanh chóng với Simonsen, khi ông bị gãy chân trong pha va chạm với Yvon Le Roux ngay trong trận đầu tiên của Đan Mạch gặp Pháp. Mặc dù không có Simonsen, đội tuyển Đan Mạch vẫn vào tới bán kết. Ở câu lạc bộ, ông nghỉ nửa sau mùa giải vì chấn thương, nhưng Vejle vẫn giành được chức vô địch Đan Mạch năm 1984. Simonsen cũng có mặt trong đội hình đội tuyển quốc gia dự World Cup 1986, vòng chung kết World Cup đầu tiên của Đan Mạch. Tuy nhiên ông chỉ chơi duy nhất 1 trận trong giải khi vào thay người vì tuổi tác. Simonsen có trận đấu giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế gặp đội tuyển Đức tháng 9 năm 1986. Ông chơi cho Vejle đến khi giải nghệ cầu thủ năm 1989 ở tuổi 37, chơi tổng cộng 282 trận và ghi 104 bàn thắng cho Vejle.

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giải nghệ, ông làm huấn luyện viên cho Vejle BK trong 2 năm. Sau đó ông làm huấn luyện viên cho các đội tuyển quốc gia Quần đảo Faroe từ 1994 tới 2001 và Luxembourg từ 2001 đến 2004.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

[3]

Club performance League
Season Club League Apps Goals
Đức League
1972–73 Borussia Mönchengladbach Bundesliga 8 0
1973–74 9 2
1974–75 34 18
1975–76 34 16
1976–77 34 12
1977–78 31 17
1978–79 28 11
Tây Ban Nha League
1979–80 Barcelona La Liga 32 10
1980–81 33 10
1981–82 33 11
Anh League
1982–83 Charlton Athletic Second Division 16 9
Đan Mạch League
1983 Vejle First Division 28 13
1984 13 6
1985 30 16
1986 24 13
1987 25 13
1988 23 4
1989 23 5
Country Germany 178 76
Spain 98 31
England 16 9
Denmark 166 70
Total 458 186

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

[3][7]

Denmark national team
Năm Apps Goals
1972 9 5
1973 0 0
1974 2 1
1975 1 0
1976 2 1
1977 2 2
1978 1 1
1979 4 1
1980 5 2
1981 7 3
1982 1 0
1983 7 4
1984 6 0
1985 4 0
1986 4 0
Total 55 20

International goals[sửa | sửa mã nguồn]

Scores and results list Denmark's goal tally first.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Simonsen played a total 208 league games and scored 86 league goals, according to his Vejle Boldklub profile. He played 166 league matches and scored 70 league goals from 1983 to 1989, according to National-Football-Teams.com. This leaves 42 league games and 16 goals from 1971 to 1972.
  2. ^ (tiếng Đức) German career statistics
  3. ^ a ă â b “Simonsen, Allan”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. 
  4. ^ a ă â Allan Simonsen – Alle hold (Alle kampe) at Danish Football Association
  5. ^ Không kể trận đấu từ thiện vào tháng 2 năm 1981 giữa đội tuyển Ý và đội tuyển châu Âu nhân sự kiện Ý là chủ nhà World Cup 1982. Simonsen có mặt trong đội hình xuất phát, ghi một bàn và ra nghỉ vào giờ giải lao giữa hai hiệp khi đội tuyển châu Âu dẫn 3-0
  6. ^ (tiếng Pháp) 1977 – Alan Simonsen - un Danois pour l’histoire, France Football, #1.655, 27 tháng 12 năm 1977
  7. ^ http://www.rsssf.com/miscellaneous/den-recintlp.html

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Franz Beckenbauer
Quả bóng vàng châu Âu
1977
Kế nhiệm:
Kevin Keegan
Tiền nhiệm:
Paul Philipp
Huấn luyện viên trưởng Luxembourg
2001-2004
Kế nhiệm:
Guy Hellers