Johan Cruyff

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Johan Cruijff)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Johan Cruyff
Johan Cruijff 2013 Catalonia.jpg
Cruyff năm 2013
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Hendrik Johannes Cruijff
Ngày sinh 25 tháng 4, 1947(1947-04-25)
Nơi sinh Amsterdam, Hà Lan
Ngày mất 24 tháng 3, 2016 (68 tuổi)
Nơi mất Barcelona, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)
Vị trí Tiền vệ tấn công / Tiền đạo
CLB trẻ
1957–1964 Ajax Amsterdam
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1964–1973 Ajax Amsterdam 240 (190)
1973–1978 F.C. Barcelona 143 (48)
1979–1980 Los Angeles Aztecs 27 (14)
1980–1981 Washington Diplomats 32 (12)
1981 Levante 10 (2)
1981–1983 Ajax Amsterdam 36 (14)
1983–1984 Feyenoord Rotterdam 33 (11)
Tổng cộng 520 (291)
Đội tuyển quốc gia
1966–1977 Hà Lan 48 (33)
Huấn luyện
1985–1988 Ajax Amsterdam
1988–1996 F.C. Barcelona
2009–2013 Catalonia
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Johan Cruijff (phát âm tiếng Hà Lan: [ˈjoːɦɑn ˈkrœy̆f-] ) (phát âm gần như Craif), tên đầy đủ: Hendrik Johannes Cruijff (thường được viết là Johan Cruyff ở bên ngoài Hà Lan) (sinh 25 tháng 4 năm 1947 tại Amsterdam24 tháng 3 năm 2016 tại Barcelona), là một cầu thủhuấn luyện viên bóng đá người Hà Lan. Khi là cầu thủ, ông từng giành giải thưởng Quả bóng vàng châu Âu ba lần (1971, 1973 và 1974)[1]. Cruijff là một trong những thành viên nổi tiếng nhất của triết lý bóng đá có tên Bóng đá tổng lực do Rinus Michels tạo ra và ông cũng được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử bóng đá[2][3][4]. Trong thập niên 1970, bóng đá Hà Lan phát triển từ một nền bóng đá ít tên tuổi trở thành một thế lực.[5][6] Cruyff dẫn dắt đội tuyển Hà Lan vào đến chung kết Giải bóng đá vô địch thế giới 1974 và đoạt được danh hiệu Quả bóng vàng dành cho cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu đó[2]. Cruyff thành thạo năm ngoại ngữ[7].

Tại cấp độ câu lạc bộ, Cruyff khởi nghiệp tại Ajax. Ông đã cùng câu lạc bộ 8 lần vô địch quốc gia và giành ba Cúp C1 châu Âu. Năm 1973 ông chuyển đến FC Barcelona và lập Kỷ lục chuyển nhượng cầu thủ bóng đá mới. Ông có được danh hiệu La Liga cùng đội bóng ngay mùa đầu tiên và giành Quả bóng vàng châu Âu năm đó. Sau khi giải nghệ vào năm 1984, Cruyff cũng có nhiều thành công trong sự nghiệp huấn luyện viên với Ajax và FC Barcelona. Sau này ông vẫn là một cố vấn có ảnh hưởng ở hai câu lạc bộ. Con trai ông Jordi cũng là một cầu thủ chuyên nghiệp.

Tháng 10 năm 2015, Cruyff, từng nghiện hút thuốc nặng, bị chẩn đoán mắc ung thư phổi[8]. Ông qua đời vì bệnh này ngày 24 tháng 3 năm 2016[9].

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Club Ajax Amsterdam: (1964-1973, 1981-1983)[sửa | sửa mã nguồn]

Club Barcelona (1974-1978)[sửa | sửa mã nguồn]

Club Feyenoord (1983-1984)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vô địch Eredivisie (Giải Hà Lan): 1984
  • Vô địch koninklijke Nederlandse Voetbal Bon Beker (KNVB): 1984

ĐT Quốc gia Hà Lan (Netherlands)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Á quân World Cúp: 1974
  • Xếp Thứ 3 danh sách cầu thủ hay nhất thế giới (FiFa)
  • Cầu thủ số 1 châu Âu (UEFA)

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Club Ajax Amsterdam: (1985-1988)[sửa | sửa mã nguồn]

Club Barcelona (1988-1996)[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “European Footballer of the Year ("Ballon d'Or") (Danh sách cầu thủ giành giải thưởng Quả bóng vàng châu Âu)”. RSSSF. 21 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2016.  (tiếng Anh)
  2. ^ a ă “Johan Cruyff - The Netherlands' Grand Master (Johan Cruyff - bậc thầy của Hà Lan)”. FIFA. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2016.  (tiếng Anh)
  3. ^ Karel Stokkermans (23 tháng 12 năm 2015). “The Best x Players of the Century/All-Time (Những danh sách các cầu thủ xuất sắc nhất thế kỷ/mọi thời đại)”. RSSSF. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2016.  (tiếng Anh)
  4. ^ Neil Billingham (1 tháng 10 năm 2006). “Ossie Ardiles: Perfect XI (Đội hình hoàn hảo theo Ossie Ardiles)”. FourFourTwo. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2016.  (tiếng Anh)
  5. ^ Hà Lan lần đầu xuất hiện tại một VCK World Cup vào năm 1934. Sau lần thứ 2 năm 1938, phải tới năm 1974 họ mới trở lại. Như Simon Kuper nói (trong "Holland, a Country of Clubs"): "Việc hầu hết mọi người Hà Lan đều chơi bóng không hoàn toàn lý giải cho thành công của quốc gia này. Cho tới thập niên 1970 bóng đá Hà Lan vẫn rất tầm thường. Họ đôi lúc vẫn thua Luxembourg, và coi Bỉ là đối thủ cạnh tranh chính."
  6. ^ Chaplin, Mark (ngày 27 tháng 8 năm 2014). “European football in the 1970s”. UEFA.org. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2015. 
  7. ^ Dave Kindred (9 tháng 3 năm 1980). “Johan Cruyff: Dutchman Hopes to Make Soccer A Major Sport in Washington (Johan Cruyff: người Hà Lan muốn biến bóng đá thành một môn thể thao chính ở Washington)”. The Washington Post. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2016.  (tiếng Anh)
  8. ^ De Menezes, Jack (ngày 22 tháng 10 năm 2015). “Johan Cruyff: Barcelona, Ajax and Netherlands legend diagnosed with lung cancer”. The Independent. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2015. 
  9. ^ “Netherlands great Johan Cruyff dies of cancer aged 68 (Cầu thủ lớn Hà Lan Johan Cruyff qua đời vì ung thư ở tuổi 68)”. BBC. 24 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2016.  (tiếng Anh)

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Barend, Frits; Van Dorp, Henk: Ajax, Barcelona, Cruyff: The ABC of an Obstinate Maestro. Translated from the Dutch by David Winner and Lex Van Dam. (Bloomsbury Publishing, London, 1999)
  • Burns, Jimmy: Barça: A People's Passion. (Bloomsbury Publishing, 2011)
  • Burns, Jimmy: La Roja: How Soccer Conquered Spain and How Spanish Soccer Conquered the World. (Nation Books, 2012)
  • Casanovas, Josep María: Cruyff, una vida por el Barça. (Ediciones B, 1973, ISCOND-400-6710-0)
  • Conde Esteve, Justo: La cruyffcifixión del «mini-dios» Núñez. (Edimestre Serveis Editorials, 1996, ISBN 84-87888-20-8)
  • Cruijff, Johan; de Boer, Sytze: Johan Cruijff uitspraken. Een biografie in citaten. (Uitgeverij Schuyt Nederland, 2013, ISBN 9789081797412)
  • Cruyff, Johan: Mis futbolistas y yo. (Ediciones B, 1993, ISBN 84-406-3999-6)
  • Cruyff, Johan: Me gusta el fútbol. (RBA Libros, 2002)
  • Cruyff, Johan: Fútbol. Mi filosofía. (Ediciones B, 2012)
  • Ghemmour, Chérif: Johan Cruyff, génie pop et despote. Préface par Michel Platini. (Editions Hugo Sport, 2015)
  • Hiddema, Bert: El Cruijff. (Amsterdam: Uitgeverij Pandora Pockets, 2002)
  • Hiddema, Bert: Cruijff! Van Jopie tot Johan. (Amsterdam: Uitgeverij L.J. Veen, 2006)
  • Hilvoorde, I. van; Stokvis, R. (2013) ‘Pythagoras in boots’: Johan Cruijff and the Construction of Dutch National Identity, Sport in History, 33(4), 427-444
  • Hunter, Graham: Barça: The Making of the Greatest Team in the World. (BackPage Press, 2012)
  • Jensen, Ric (2014). Looking at the Extraordinary Success of the ‘Clockwork Orange’: Examining the Brilliance of Total Football Played by the Netherlands. [Special Issue: Heroes, Icons, Legends: Legacies of Great Men in World Soccer] (Soccer & Society, Volume 15, Issue 5, 2014)
  • Kuper, Simon: Football Against the Enemy. (Orion Publishing Group, 1994)
  • Kuper, Simon: Ajax, the Dutch, the War: Football in Europe during the Second World War. (Orion Publishing Group, 2003)
  • Richards, Ted: Soccer and Philosophy: Beautiful Thoughts on the Beautiful Game (Popular Culture and Philosophy). (Open Court Publishing, 2010)
  • Riera, Josep; Roca, Miquel: Van Barça: el Futbol Club Barcelona i Holanda, més que una relació. (Cossetània Edicions, 2007)
  • Schots, Mik; Luitzen, Jan: Wie is Johan Cruijff. Insiders duiden het Orakel. Maar Cruijff heeft zelf het laatste Woord. (Uitgeverij Arbeiderspers, 2007, ISBN 9789029564755)
  • Schulze-Marmeling, Dietrich: Der König und sein Spiel: Johan Cruyff und der Weltfußball. (Verlag Die Werkstatt GmbH, Göttingen, 2012)
  • Wilson, Jonathan: Inverting the Pyramid: The History of Football Tactics. (Orion Books Limited, 2010)
  • Winner, David: Brilliant Orange: The Neurotic Genius of Dutch Football. (Bloomsbury Publishing, London, 2000)
  • Winsemius, Pieter: Je gaat het pas zien als je het doorhebt. Over Cruijff en leiderschap. (Amsterdam: Uitgeverij Balans, 2004)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Gerd Müller
Quả bóng vàng châu Âu
1971
Kế nhiệm:
Franz Beckenbauer
Tiền nhiệm:
Franz Beckenbauer
Quả bóng vàng châu Âu
1973-1974
Kế nhiệm:
Oleg Blokhin