Gareth Bale

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gareth Bale
AUT vs. WAL 2016-10-06 (155).jpg
Bale cùng Wales năm 2016
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Gareth Frank Bale[1]
Ngày sinh 16 tháng 7, 1989 (27 tuổi)[1]
Nơi sinh Cardiff, Wales
Chiều cao 1,83 m (6 ft 0 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ][2]
Vị trí Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Real Madrid
Số áo 11
CLB trẻ
Cardiff Civil Service
1999–2006 Southampton
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2006–2007 Southampton 40 (5)
2007–2013 Tottenham Hotspur 146 (42)
2013– Real Madrid 100 (54)
Đội tuyển quốc gia
2005–2006 U-17 Wales 7 (1)
2006 U-19 Wales 1 (1)
2006–2008 U-21 Wales 4 (2)
2006– Wales 66 (26)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 20:48, 23 April 2017 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 24 March 2017

Gareth Frank Bale (sinh ngày 16 tháng 7 năm 1989) là cầu thủ bóng đá người xứ Wales hiện chơi ở vị trí tiền vệ cánh cho câu lạc bộ Real Madridđội tuyển bóng đá quốc gia Wales. Nổi tiếng với lối tấn công từ khoảng cách xa, những cú đá phạt xoáy[3] và khả năng vượt qua hậu vệ đối phương bằng tốc độ, Bale đã nhận được những lời khen ngợi từ đồng nghiệp, họ miêu tả anh là một cầu thủ bóng đá với "tốc độ cực nhanh, khả năng qua người tuyệt vời, chân trái tốt và điều kiện thể chất phi thường".[4][5]

Anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp tại Southampton, chơi ở vị trí hậu vệ trái và nổi tiếng là một chuyên gia đá phạt. Anh chuyển đến Tottenham Hotspur năm 2007 với mức phí 7 triệu bảng. Trong khoảng thời gian tại đây, những thay đổi về huấn luyện và chiến thuật khiến anh trở thành cầu thủ có thiên hướng tấn công nhiều hơn. Từ mùa giải 2009–10, dưới sự dẫn dắt của Harry Redknapp, Bale trở thành một phần không thể thiếu của đội bóng, thu hút sự chú ý quốc tế tại UEFA Champions League 2010-11.[6][7][8] Năm 2011 và 2013, anh được vinh danh là cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA, và cũng có mặt trong đội hình tiêu biểu mùa giải của UEFA. Năm 2013, anh cũng giành cú đúp danh hiệu cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của PFAcầu thủ bóng đá xuất sắc năm của FWA.

Ngày 1 tháng 9 năm 2013, Bale chuyển đến Real Madrid với mức phí không được tiết lộ. Báo chí vào thời điểm đó định giá chuyển nhượng của anh ở giữa con số 91 triệu và 100 triệu €.[9][10][11][12][13][14] Vào tháng 1 năm 2016, những tài liệu liên quan đến vụ chuyển nhượng đã bị rò rỉ, xác nhận khoản phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới là 100.8 triệu €, phá vỡ kỷ lục trước đó của Cristiano Ronaldo năm 2009 là 80 triệu bảng (94 triệu €).[15] Bale đóng một vai trò quan trọng trong mùa giải đầu tiên của anh tại Real Madrid, giúp câu lạc bộ giành cúp Nhà vua Tây Ban Nha 2013-14 và UEFA Champions League, ghi bàn trong cả hai trận chung kết. Trong mùa bóng kế tiếp, anh vô địch siêu cúp châu Âu 2014 và lập công trong trận chung kết thứ ba để giúp đội bóng vô địch giải vô địch bóng đá các câu lạc bộ. Hai năm sau, anh là cầu thủ chủ chốt trong chiến dịch giành chức vô địch UEFA Champions League 2015-16 và được chọn vào đội hình tiêu biểu mùa giải của UEFA.[16] Năm 2016, ESPN xếp Bale thứ mười hai trong danh sách những vận động viên nổi tiếng nhất thế giới.[17]

Bale có trận ra mắt quốc tế cho xứ Wales vào tháng 5 năm 2006, trở thành cầu thủ trẻ nhất ra sân đại diện cho đội tuyển vào thời điểm đó. Kể từ đó anh đã có hơn 60 lần ra sân và ghi 26 bàn quốc tế, trở thành tay săn bàn cao thứ hai mọi thời đại của Wales sau Ian Rush. Anh cũng là chân sút số một của Wales trong chiến dịch vòng loại thành công cho UEFA Euro 2016 khi ghi bảy bàn thắng;[18] anh sau đó đại diện cho đội tuyển thi đấu trong vòng chung kết cho đến khi đội dừng bước ở vòng bàn kết.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Gareth Bale được sinh ra ở Cardiff và có bố là Frank, mẹ là Debbie, một nhà quản lý hoạt động[19]; anh học ở trường cấp một Eglwys Newydd ở Whitchurch.[20] Anh là cháu của cựu cầu thủ Cardiff City Chris Pike.[21] Trong thời gian học ở trường này, anh đã được Southampton để ý tới khi mới 9 tuổi, khi anh chơi ở giải bóng đá 5 người cho đội bóng đầu tiên của anh, câu lạc bộ Cardiff Civil Service.[22] Khi lớn lên, thần tượng bóng đá của anh là cầu thủ đồng hương chơi cho Manchester United Ryan Giggs.[23]

Bale sau đó nhập học ở trường trung học Whitchurch ở Cardiff[24]. Anh là một vận động viên giỏi và chơi bóng bên cạnh đội trưởng đội rugby xứ Wales tương lai Sam Warburton.[25] Ngoài rugby, anh còn chơi bóng bầu dụckhúc khôn cầu.[26] Năm 14 tuổi, anh từng nói rằng anh đã chạy tốc độ 100 mét chỉ trong 11.4 giây.[23] Bởi kĩ năng thiên bẩm của anh, giáo viên thể dục của trường này, Gwyn Morris, đã phải đưa ra những luật đặc biệt. Những luật này đã ngăn cản Bale chơi bóng một chạm và không được dùng chân trái.[25] Trong khi ở Whitchurch, Bale luyện tập ở học viện chi nhánh của Southampton ở Bath, mặc dù có vài điều nghi ngờ khi Southampton có thể cho anh một học bổng nhờ vào chiều cao của anh.[19]

Mặc dù khi đó mới 16 tuổi, anh giúp đội U-18 trường anh vô địch giải Cardiff & Vale Senior Cup. Anh rời trường vào mùa hè năm 2005 với điểm A ở môn Thể dục trong kết quả GCSE. Trong năm cuối ở trường, anh được trao tặng giải thưởng cho những đóng góp của mình về thể thao. Trong lời giới thiệu, Morris nói:

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Southampton[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 4 năm 2006, khi mới 16 tuổi và 275 ngày, Bale đã trở thành cầu thủ trẻ nhất thứ hai từng thi đấu cho Southampton (sau Theo Walcott) khi anh được đưa vào sân trong trận đấu mà Southampton đánh bại Millwall 2-0. Ngày 6 tháng 8, Bale ghi được bàn thắng đầu tiên bằng một pha đá phạt, cân bằng tỉ số 1-1 trong trận hoà 2-2 với Derby County tại Pride Park.[29]

Sau đó, trên sân St. Mary's, anh tiếp tục ghi bàn vào lưới Coventry City cũng bằng một pha đá phạt.[30] Bale tiếp tục phát triển kĩ năng đá phạt điêu luyện của mình khi anh thực hiện thành công một quả đá như vậy trong trận đấu với West Bromwich Albion.[31] Đến ngày 16 tháng 12 năm 2006, số bàn thắng của Bale đã được nâng lên con số 5 sau khi ghi bàn gỡ hoà trong trận đấu với Sunderland[32] và sút phạt thành bàn vào lưới Hull[33]Norwich City.

Tháng 12 năm 2006, anh giành giải thưởng Carwyn James cho danh hiệu Vận động viên Thể thao Trẻ trong năm của BBC Wales[34], và danh hiệu Cầu thủ trẻ Trong năm của Giải Football League ngày 4 tháng 3 năm 2007.[35] Báo chí địa phương đã miêu tả mùa giải đầu tiên đối với một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp như anh là "kì diệu" và anh "là một trong những cầu thủ thi đấu sáng tạo nhất ở vị trí cánh trái cũng như khả năng phòng thủ ngày càng được nâng cao trong suốt mùa giải."[36]

Trận đấu cuối cùng của anh cho Southampton là trận đấu lượt đi vòng tứ kết play-off giải hạng nhất với Derby County ngày 12 tháng 5 năm 2007. Bale đã bị chấn thương ở hiệp 2 trận đấu này, khiến anh không thể ra sân ở trận lượt về.[37][38] Tổng cộng, anh đã thi đấu 45 trận cho Southampton và ghi được 5 bàn.[39]

Tottenham Hotspur[sửa | sửa mã nguồn]

Bale hoàn tất việc chuyển nhượng đến Tottenham Hotspur vào ngày 25 tháng 5 năm 2007, với bản hợp đồng có thời hạn 4 năm và Tottenham sẽ phải trả ngay lập tức 5 triệu £, cộng với những khoản trả thêm đưa giá trị chuyển nhượng của Bale lên 10 triệu £ dựa theo số lần ra sân và thành công của anh.[40] Tuy nhiên năm 2008, Southampton đã đồng ý một khoản thanh toán sớm trị giá 2 triệu bảng và giảm khoản phí cuối cùng 7 triệu bảng để đổi lấy tiền mặt khi cần thiết trong bối cảnh đội bóng này đang gặp khó khăn về tài chính.[41]

2007-09[sửa | sửa mã nguồn]

Bale trong đội hình của Spurs trước thềm trận đấu với Chelsea.

Anh có trận đấu đầu tiên cho Spurs trong trận giao hữu với St. Patrick's Athletic ngày 12 tháng 7 năm 2007, nhưng đã phải rời sân ở phút 80 do chấn thương. Anh có trận đấu đầu tiên tại Premier League vào ngày 26 tháng 8 trong trận đấu sân khách với Manchester United. Ngay trong trận đấu thứ hai cho Spurs, anh đã có bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ này trong trận hoà 3-3 với Fulham.[42] Bale sau đó lại ghi bàn trong trận Derby Bắc Luân Đôn với Arsenal bằng một quả đá phạt trực tiếp.[43] Tiếp theo, anh ghi bàn trong trận đấu ở League Cup trước Middlesbrough[44], giúp Bale có được 3 bàn thắng chỉ trong 4 trận.

Bale phải rời sân sau pha vào bóng của Fabrice Muamba trong trận đấu với Birmingham City tại giải Ngoại hạng ngày 2 tháng 12 năm 2007. Kết quả chẩn đoán sau đó cho thấy anh bị chấn thương dây chằng mắt cá chân phải. Bale đã tiến hành phẫu thuật vào ngày 11 tháng 12 năm 2007.[45] Ban đầu, sau khi phẫu thuật cho Bale, các bác sĩ dự đoán anh sẽ chỉ phải nghỉ thi đấu trong vòng 3 tháng. Tuy nhiên, sau kết quả kiểm tra lại của các bác sĩ, giám đốc thể thao của Spurs là Damien Comolli thông báo rằng Bale phải nghỉ thi đấu phần còn lại của mùa giải vì chấn thương này vào tháng 2 năm 2008.[46] Ông Damien Comolli cho biết, "Ngay cả khi cuộc kiểm tra tiết lộ chân Bale ổn định, chúng tôi đã đưa ra quyết định đưa anh trở lại từ từ để đảm bảo rằng anh sẽ không bị tái phát chấn thương hay chịu bất kì tổn thương nào. Gareth chắc chắn rất thất vọng khi phải ngồi ngoài trong một thời gian dài, nhưng anh ấy vẫn còn trẻ và chúng tôi phải làm những điều tốt nhất cho anh ấy cho sự nghiệp sau này".[45]

Bale đã ký hợp đồng gia hạn thêm bốn năm với câu lạc bộ vào tháng 8 năm 2008.[47] Sau một vài màn trình diễn nhạt nhòa, Bale để mất vị trí vào tay Benoît Assou-Ekotto nhưng vẫn là sự lựa chọn hàng đầu trong hầu hết mùa giải.[48]

2009-10[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2009, Bale trả qua ca phẫu thuật chấn thương đầu gối, khiến anh phải ngồi ngoài hơn hai tháng. Anh bỏ lỡ những trận đấu trước thềm mùa giải và dự kiến anh sẽ phải bỏ lỡ vài tuần đầu trong mùa giải 2009-10.[49] Ngày 26 tháng 9, anh trở lại khi vào sân thay người ở phút thứ 85 trong chiến thắng 5-0 của Tottenham trước Burnley. Đây là lần đầu tiên Bale có mặt trong một trận thắng ở giải Ngoại hạng, sau khi chơi kỷ lục 24 trận cho Spurs mà không giành thắng lợi nào.[50][51][52] Tuy nhiên anh đã cố gắng để giành một vị trí trong đội hình chính thức, một phần nhờ phong độ tốt của Benoît Assou-Ekotto. Khi Assou-Ekotto phải ngồi ngoài vì chấn thương, huấn luyện viên Harry Redknapp quyết định trao cơ hội cho Bale và anh đã gây ấn tượng trong chiến thắng 4-0 ở vòng ba cúp FA của Spurs trước Peterborough United.[53] Anh cuối cùng nếm trải hương vị chiến thắng lần đầu tiên tại giải Ngoại hạng trong thắng lợi 2-0 trước kình địch Luân-đôn Fulham vào ngày 26 tháng 1 năm 2010.[54]

2010-11[sửa | sửa mã nguồn]

Arturo Álvarez của San Jose Earthquakes đua tốc độ với Bale (trái) trong một trận giao hữu vào tháng 7 năm 2010 tại San Jose, California.

Ngày 21 tháng 8, Bale lập cú đúp trong chiến thắng 2-1 trước Stoke City, bàn thứ hai là một pha vô lê vào góc cao bên phải khung thành.[55] Bale đã được trao giải bàn thắng của tháng vào tháng 8 năm 2010 nhờ bàn thắng này. Ngày 25 tháng 8, Bale ghi bốn bàn để giúp Spurs vượt qua Young Boys 4-0 (tổng tỉ số 6–3) trong một trận play-off Champions League tại White Hart Lane.[56] Mặc dù Assou-Ekotto đã trở lại sau chấn thương, Bale vẫn tiếp tục phong độ tốt và củng cố vị trí của mình trong mười một trận đầu, di chuyển lên tiền vệ cánh trái tấn công trong khi để Assou-Ekotto ở vị trí hậu vệ trái. Ngày 29 tháng 12 năm 2010, Bale ghi bàn thắng đầu tiên tại Champions League cho Tottenham trong thắng lợi sân nhà 4-1 trước đội vô địch Hà Lan Twente trong trận thứ hai của họ tại vòng bảng. Anh được bầu là Cầu thủ Wales xuất sắc nhất mùa bởi FAW.[57]

Ngày 20 tháng 10 năm 2010, Bale ghi hat-trick đầu tiên trước nhà đương kim vô địch châu Âu Inter Milan tại San Siro trong khuôn khổ Champions League. Tottenham để thua trận đấu chung cuộc 4-3, trong thế bị dẫn trước 4-0 trong 35 phút đầu và chơi với mười người trong hơn 80 phút của trận đấu sau khi thủ môn Heurelho Gomes bị truất quyền thi đấu bởi một pha phạm lỗi với Jonathan Biabiany của Inter.[58] Trong trận lượt về tại White Hart Lane vào ngày 2 tháng 11, Bale tiếp tục là cầu thủ xuất sắc nhất trận, kiến tạo các bàn thắng cho Peter CrouchRoman Pavlyuchenko để giúp Spurs giành chiến thắng 3-1 đầy đáng nhớ.[59]

Vào tháng 12, Bale nhận danh hiệu Vận động viên thể thao xứ Wales xuất sắc nhất năm của BBC.[60] Ngày 4 tháng 11 năm 2010, Bale nói rằng anh sẽ ở lại Tottenham cho đến khi hợp đồng bốn năm của mình đáo hạn, mặc dù nhận được sự quan tâm của nhiều câu lạc bộ khác.[61] Ngày 19 tháng 3 năm 2011, anh gia hạn hợp đồng với đội bóng đến năm 2015.[62] Ngày 17 tháng 4 năm 2011, anh được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA do các đồng nghiệp bình chọn.[63]

2011-12[sửa | sửa mã nguồn]

Bale ghi bàn đầu tiên trong mùa giải vào ngày 24 tháng 9 năm 2011, trong trận sân khách tiếp Wigan Athletic.[64] Trận đấu kết thúc với thắng lợi 2-1 cho Tottenham. Anh ghi thêm bàn thắng thứ hai và thứ ba trong mùa vào ngày 30 tháng 10 với cú đúp vào lưới Queens Park Rangers trong chiến thắng sân nhà 3-1.[65] Anh tiếp tục phong độ ấn tượng với bàn đầu tiên trong trận thắng 3-1 trước Fulham tuần kế tiếp, trong khi đó kiến tạo cho Aaron Lennon lập công 2-0 vào đầu hiệp hai.[66] Bàn thằng đầu tiên vào lưới Fulham sau đó bị coi là "bàn thắng đáng ngờ" - bàn thắng phản lưới của Chris Baird.[67]

2012-13[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa 2012-13, Bale đã đổi số áo từ 3 sang 11 bởi anh "không còn là hậu vệ trái nữa" và yêu cầu câu lạc bộ "số áo cao hơn".[68][69] Bale ghi bàn đầu tiên trong mùa trong trận thắng sân khách 3-1 tiếp Reading.[70] Ngày 29 tháng 12, Bale ghi bàn thứ hai trong trận thắng sân khách 3–2 của Tottenham trước Manchester United, chiến thắng đầu tiên của họ tại Old Trafford kể từ năm 1989.[71]

Anh ghi hat-trick đầu tiên tại giải Ngoại hạng trong chiến thắng sân khách 4-1 trước Aston Villa vào ngày lễ tặng quà.[72] Bale sau đó ghi bàn ở vòng ba cúp FA trước Coventry City, đồng thời kiến tạo cho các bàn thắng của Clint Dempsey ấn định thắng lợi 3-0.[73] Ngày 30 tháng 1, Bale tạo nên một pha solo tuyệt vời để ghi bàn trong trận hòa 1-1 với Norwich City.[74] Bale lại lập công trong trận thắng sân khách 1-0 trước West Bromwich Albion.[75] Bale sau đó nâng tổng số bàn thắng tại giải của anh lên con số 15 với cú đúp vào lưới Newcastle United trong trận Spurs thắng 2-1, đưa Spurs lên vị trí thứ ba và củng cố tham vọng dự Champions League của họ.[76]

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Bale tại buổi lễ ra mắt Real Madrid vào tháng 9 năm 2013.

Ngày 1 tháng 9 năm 2013, câu lạc bộ Tây Ban Nha Real Madrid thông báo rằng họ đã đạt được thoả thuận chuyển nhượng Bale,[77] ký một hợp đồng 6 năm với mức phí chuyển nhượng không tiết lộ. Báo chí Tây Ban Nha (và Real Madrid TV) định giá Bale 77 triệu bảng (91 triệu euro), trong khi báo chí Anh lại đưa tin mức phí kỷ lục chuyển nhượng thế giới 85.3 triệu bảng (100 triệu euro), vượt qua kỷ lục chuyển nhượng cũ của Cristiano Ronaldo là 80 triệu bảng (94 triệu euro).[9][10][11][12][13] Tuy nhiên vào tháng 11 năm 2016, các tài liệu liên quan đến vụ chuyển nhượng đã bị rò rỉ, xác nhận mức phí chuyển nhượng kỷ lục thế giới là 100.8 triệu euro (85.1 triệu bảng).[15] Kỷ lục của Bale sau đó bị phá vào tháng 8 năm 2016 bởi kỷ lục chuyển nhượng của Paul Pogba là 105 triệu euro (89.2 triệu bảng).[78] Bale nhận số áo 11 tại Madrid.[79]

2013-14[sửa | sửa mã nguồn]

Nửa đầu mùa bóng của Bale bị ảnh hưởng bởi chấn thương; trong mười sáu trận đầu tiên của Real sau khi kí hợp đồng, Bale nghỉ năm trận và vào sân dự bị hoặc được thay người trong năm trận, chỉ có năm trận chơi đủ 90 phút.[80][81] Bale ghi bàn thắng ra mắt cho Real Madrid vào phút thứ 38 trước Villarreal, nhưng sau đó được thay người bởi Ángel Di María.[82] Trận thứ hai ra sân của Bale tại Real là chiến thắng 6-1 trước Galatasaray tại Champions League. Mặc dù Bale chỉ chơi 26 phút cuối trận, quả đá phạt của anh đã dẫn đến bàn thắng thứ hai trong trận của Cristiano Ronaldo.[83] Ngày 28 tháng 9 năm 2013, Bale có trận ra mắt sân nhà khi vào sân thay người ở hiệp hai trong trận thua 1-0 trước kình địch cùng thành phố Atlético Madrid.[84]

Ngày 14 tháng 5, Bale lập công ở phút thứ 110 ở hiệp phụ để đưa Real dẫn ngược 2-1 trước đối thủ cùng thành phố Atlético Madrid trong trận chung kết UEFA Champions League 2014, giúp Los Blancos giành cúp châu Âu lần thứ 10.[85] Bàn thắng giúp Bale trở thành cầu thủ xứ Wales đầu tiên ghi bàn trong trong một trận chung kết cúp C1/Champions League (Ian Rush ghi bàn cho Liverpool trên chấm đá luân lưu trong trận chung kết Cúp C1 châu Âu 1984).[86] Bale kết thúc mùa bóng ra mắt với 22 bàn và 16 kiến tạo trên tất cả mọi đấu trường. Bộ ba tấn công của Real là Bale, Benzema và Cristiano được mệnh danh là BBC, kết thúc mùa bóng với 97 bàn.[87]

2014–15[sửa | sửa mã nguồn]

Bale chơi cho Real Madrid năm 2015.

Mặc dù mùa bóng 2014-15 cho thấy hiệu suất thi đấu từ Bale đã giảm, anh khởi đầu mùa giải với phong độ tốt, chơi đủ 90 phút và kiến tạo bàn thắng đầu tiên cho Cristiano Ronaldo trong thắng lợi 2-0 trên sân vận động Cardiff City trước Sevilla trong trận Siêu cúp châu Âu 2014.[88] Đây là danh hiệu thứ ba của anh trong màu áo Real. Sau trận đấu, màn trình diễn của anh được Ronaldo miêu tả là "tuyệt vời".[89] Sáu ngày sau, Bale ghi bàn đầu tiên trong mùa trong trận thua sân khách 4-2 trước Real Sociedad.[90] Bale lập cú đúp trong chiến thắng 8-2 trước Deportivo de La Coruña vào ngày 20 tháng 9 năm 2014.[91][92]

2015–16[sửa | sửa mã nguồn]

Bale lập cú đúp trong chiến thắng của Real trước Real Betis vào tháng 9 năm 2015.[87] Hai bàn thắng của anh đã đưa tổng số bàn thắng của bộ ba tấn công Real là Bale, Benzema và Cristiano Ronaldo lên 200 bàn thắng kể từ lần đầu tiên họ chơi cùng nhau năm 2013.[87]

Ngày 20 tháng 3 năm 2016, Bale ghi bàn thứ 43 tại La Liga trong trận vùi dập Sevilla 4-0 để vượt qua Gary Lineker trở thành cầu thủ người Anh ghi bàn nhiều nhất trong lịch sử giải đấu.[93] Ngày 23 tháng 4, Bale lập cú đúp giúp Real lội ngược dòng từ thế bị dẫn 0-2 đến chiến thắng 3-2 trước Rayo Vallecano.[94] Bale là nhân tố chính khi đội bóng giành danh hiệu UEFA Champions League 2015-16. Anh kiến tạo bàn thắng duy nhất của đội và tiếp tục ghi bàn trên chấm đá luân lưu để giành chiến thắng trước Atlético Madrid trong trận chung kết.[95]

2016–17[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 10 năm 2016, Bale kí hợp đồng mới với Madrid đến 2022.[96] Ngày 22 tháng 11 năm 2016, Bale gặp phải chấn thương gân chân trong chiến thắng 2-1 trước Sporting CP và khiến anh phải ngồi ngoài tới bốn tháng.[97] Ngày 23 tháng 4, Bale có trận ra sân thứ 100 tại La Liga trong thắng lợi sân nhà 3-2 trước Barcelona, nhưng đã phải rời sân sớm vì chấn thương.[98]

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Sở hữu cái chân trái siêu khủng, Bale đã làm cho những người xung quanh khiếp sợ về khả năng chơi bóng của mình từ thời còn bé. Anh là một cầu thủ thi đấu cánh thuần túy với những pha bứt tốc và bó vào vòng cấm để dứt điểm với những cú đá kèo trái mạnh như búa bổ và độ hiểm hóc cao khiến các thủ môn rất khó khăn trong việc xoay xở.

Tuy nhiên do lối đá phụ thuộc nhiều vào thể lực nên Bale hay bị chấn thương, và nó kéo dài.

Vào ngày 2 tháng 11 năm 2010, sau trận đấu vòng bảng Champions League gặp clb Inter Milan, đồng đội của anh là Rafael van der Vaart đã nói, "Tất cả mọi người đều nể sợ anh ấy [Bale]. Maicon là một trong những hậu vệ cánh xuất sắc nhất thế giới nhưng hôm nay đã bị Bale "giết chết"."[99][100]

Trong bản tường thuật về trận đấu này, Tờ El Mundo của Tây Ban Nha đã viết: "Bale kết hợp chiều cao và vóc dáng của 1 vận động viên chạy nước rút 800m như Steve Ovett với khả năng bứt tốc và lao thẳng của 1 cầu thủ rugby như Bryan Habana. và, khi leo biên, anh tung ra những cú tạt bóng xoáy giống như 1 cầu thủ Brasil.... 3 bàn và 2 lần kiến tạo trước nhà vô địch châu Âu. Màn trình diễn của anh đã gây ấn tượng với nhiều người."[101]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối mùa giải 2005–06, Bale được gọi vào đội tuyển xứ Wales và anh có trận đấu quốc tế đầu tiên vào ngày 27 tháng 5 năm 2006[102] khi vào sân thay người trong chiến thắng 2–1 trước đội tuyển Trinidad và Tobago, Anh cũng là cầu thủ trẻ tuổi nhất từng chơi cho đội tuyển (16 tuổi và 315 ngày).[103].

Brian Flynn đã bình luận rằng Bale có khả năng trở thành một ngôi sao bóng đá tương lai, khả năng kĩ thuật của anh cũng được so sánh với cầu thủ Ryan Giggs.[104] ngày 7 tháng 10 năm 2006, Bale trở thành cầu thủ trẻ tuổi nhất từng ghi bàn cho đội tuyển xứ Wales tại trận đấu vòng loại Euro 2008 gặp Slovakia.[105] Anh ghi bàn thắng thứ hai của mình cho đội tuyển xứ Wales trong chiến thắng 3–0 trước San Marino vào ngày 28 tháng 3 năm 2007.

Bale có đủ điều kiện để chơi cho đội tuyển Anh do co bà ngoại là người Anh, nhưng anh đã phát biểu vào năm 2007 rằng:

"Được thi đấu cho Wales là một vinh dự... Không ai tới từ Anh từng liên hệ với cá nhân tôi, dù chỉ thông qua đại diện của tôi."[106]

Sau khi bị chấn thương và phải nghỉ một thời gian dài, vào ngày 10 tháng 10 năm 2009,anh đã quay trở lại trong trận đấu vòng loại World Cup 2010 gặp Phần Lan. ngày 14 tháng 10, trong trận cuối cùng của ĐT Wales ở vòng loại World Cup,anh đã kiến tạo cho David Vaughan ghi bàn mở tỉ số trận gặp Liechtenstein và giành được quả đá phạt dẫn đến bàn thắng thứ hai, cũng là bàn thắng đầu tiên của Aaron Ramsey ở cấp độ đội tuyển.

Tháng 12 năm 2010, Bale được trao Cúp BBC Cymru nhân vật thể thao của năm.[107]

Anh được huấn luyện viên Chris Coleman triệu tập tham dự Euro 2016. Ở ngay lần đầu tham dự, Bale đã ghi được 3 bàn thắng trong 3 trận vòng bảng của bảng B trước các đối thủ Slovakia, AnhNga, giúp đội tuyển xứ Wales giành quyền vào vòng 16 đội. Từ vòng đấu này, Bale mặc dù không ghi thêm bàn thắng nào nhưng anh đã có những pha kiến tạo thành bàn để giúp xứ Wales lần đầu góp mặt tại vòng bán kết trước khi để thua Bồ Đào Nha với tỉ số 0-2.

Thế vận hội Mùa hè 2012[sửa | sửa mã nguồn]

Bale vẫn đủ tuổi để thi đấu tại Thế vận hội Mùa hè 2012 và anh đã nói rằng anh "thích thi đấu ở thế vận hội" cho đội tuyển Olympic Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.[108]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 6 tháng 11 năm 2016[109]
Câu lạc bộ Mùa bóng Giải đấu Cúp League Cup Châu Âu Khác Tổng cộng
Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Southampton 2005–06 2 0 0 0 0 0 0 0 0 0 2 0
2006–07 38 5 1 0 3 0 0 0 1 0 43 5
Tổng cộng 40 5 1 0 3 0 0 0 1 0 45 5
Tottenham Hotspur 2007–08 8 2 0 0 1 1 3 0 0 0 12 3
2008–09 16 0 2 0 5 0 7 0 0 0 30 0
2009–10 23 3 8 0 3 0 0 0 0 0 34 3
2010–11 30 7 0 0 0 0 11 4 0 0 41 11
2011–12 36 9 4 2 0 0 2 1 0 0 42 12
2012–13 33 21 2 1 1 1 8 3 0 0 44 26
Tổng cộng 146 42 16 3 10 2 31 8 0 0 203 55
Real Madrid 2013–14 27 15 5 1 12 6 0 0 44 22
2014–15 31 13 2 0 10 2 5 2 48 17
2015–16 23 19 0 0 8 0 30 19
2016–17 16 7 0 0 6 2 0 0 22 9
Tổng cộng 97 54 7 1 36 10 5 2 145 67
Tổng cộng sự nghiệp 283 101 24 4 13 2 67 18 6 2 393 127

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 24 tháng 3 năm 2017
Đội tuyển quốc gia Wales[110]
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2006 4 1
2007 7 1
2008 5 0
2009 7 0
2010 4 1
2011 6 3
2012 5 3
2013 5 2
2014 5 3
2015 6 5
2016 11 7
2017 1 0
Tổng cộng 66 26

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Thời gian Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 7 tháng 11 năm 2006 Sân vận động Millennium, Cardiff, Wales  Slovakia 1–2 1–5 Vòng loại Euro 2008
2. 28 tháng 3 năm 2007 Sân vận động Millennium, Cardiff, Wales  San Marino 2–0 3–0
3. 12 tháng 10 năm 2010 St. Jakob-Park, Basel, Thụy Sĩ  Thụy Sĩ 1–1 1–4 Vòng loại Euro 2012
4. 7 tháng 10 năm 2011 Sân vận động Liberty, Swansea, Wales  Thụy Sĩ 2–0 2–0
5. 11 tháng 10 năm 2011 Sân vận động quốc gia Vasil Levski, Sofia, Bulgaria  Bulgaria 1–0 1–0
6. 12 tháng 11 năm 2011 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Na Uy 1–0 4–1 Giao hữu
7. 11 tháng 9 năm 2012 Sân vận động Karađorđe, Novi Sad, Serbia  Serbia 1–2 1–6 Vòng loại World Cup 2014
8. 12 tháng 10 năm 2012 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Scotland 1–1 2–1
9. 2–1
10. 6 tháng 2 năm 2013 Sân vận động Liberty, Swansea, Wales  Áo 1–0 2–1 Giao hữu
11. 26 tháng 3 năm 2013 Sân vận động Liberty, Swansea, Wales  Croatia 1–0 1–2 Vòng loại World Cup 2014
12. 5 tháng 3 năm 2014 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Iceland 3–1 3–1 Giao hữu
13. 9 tháng 9 năm 2014 Sân vận động quốc gia Andorra, Andorra la Vella, Andorra  Andorra 1–1 2–1 Vòng loại Euro 2016
14. 2–1
15. 28 tháng 3 năm 2015 Sân vận động Sammy Ofer, Haifa, Israel  Israel 2–0 3–0
16. 3–0
17. 12 tháng 6 năm 2015 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Bỉ 1–0 1–0
18. 3 tháng 9 năm 2015 Sân vận động GSP, Nicosia, Síp  Síp 1–0 1–0
19. 13 tháng 10 năm 2015 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Andorra 2–0 2–0
20. 11 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Bordeaux, Bordeaux, Pháp  Slovakia 1–0 2–1 Euro 2016
21. 16 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Bollaert-Delelis, Lens, Pháp  Anh 1–0 1–2
22. 20 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Municipal, Toulouse, Pháp  Nga 3–0 3–0
23. 5 tháng 9 năm 2016 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Moldova 3–0 4–0 Vòng loại World Cup 2018
24. 4–0
25. 9 tháng 10 năm 2016 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Gruzia 1–0 1–1
26. 12 tháng 11 năm 2016 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Serbia 1–0 1–1

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Học viện Southampton
Tottenham Hotspur
Real Madrid

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội hình xuất sắc nhất năm của Giải hạng nhất Anh: 2006-07
  • BBC Wales Carwyn James Junior Sportsman of the Year Award 2006
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của Football League: 2007
  • Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Premier League: 2011
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của FAW: 2007[111]
  • E.ON Player of the Round: 2009–10 5th Round[112]
  • Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Premier League: Tháng 4 năm 2010[113]
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của Tottenham Hotspur: 2009–10[114]
  • Giải thưởng cầu thủ xuất sắc nhất năm của Wales: 2010[115]
  • BBC Wales Sports Personality 2010[116]
  • Cầu thủ hay nhất năm của PFA (mùa giải 2010-2011)[117]
  • Cầu thủ hay nhất năm của PFA (mùa giải 2012–13)[117]
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của PFA (mùa giải 2012–13)[117]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Hugman, Barry J. biên tập (2010). The PFA Footballers' Who's Who 2010–11. Mainstream Publishing. tr. 31. ISBN 9781845966010. 
  2. ^ “Real Madrid C.F. – Official Web Site – Gareth Bale”. Realmadrid.com. 16 tháng 7 năm 1989. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  3. ^ Shergold, Adam (16 tháng 2 năm 2013). “The secret behind Bale's free-kick prowess that can be traced back to baseball a century ago”. Daily Mail. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2015. 
  4. ^ “Gareth Bale – Tottenham Hotspur’s Speed King”. Nasty Tackle. 2011. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Independent
  6. ^ “Riise: Bale is world's best left winger”. ESPN Soccernet. 10 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2016. 
  7. ^ “Fabio – Bale is world's best”. Sky Sports. 9 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2011. 
  8. ^ “Gareth Bale has everything says Tottenham manager Harry Redknapp”. BBC Sport. 28 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2011. 
  9. ^ a ă “Real Madrid Sign Midfielder Gareth Bale For World-Record $132 Million”. CBS News New York. 2 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013. 
  10. ^ a ă Wilson, Jeremy (2 tháng 9 năm 2013). “Gareth Bale joins Real Madrid from Tottenham for a world record fee of £86m”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013. 
  11. ^ a ă Peck, Brooks (1 tháng 9 năm 2013). “Gareth Bale finally sold to Real Madrid and it’s even FIFA 14 official”. Sports.yahoo.com. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013. 
  12. ^ a ă Agence France-Presse (2 tháng 9 năm 2013). “Cristiano Ronaldo is the boss at Real Madrid, says Gareth Bale”. Sports.ndtv.com. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013. 
  13. ^ a ă AS Diarioas (6 tháng 9 năm 2013). “Real Madrid tell CR7: "You're still the most expensive player ever". AS.com. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013. 
  14. ^ “Bale transfer fee revealed”. FIFA.com. 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013. 
  15. ^ a ă “Gareth Bale contract leak sparks panic at Real Madrid - and agent's fury” (21 January 2016). The Telegraph. 21 tháng 1 năm 2016. 
  16. ^ “UEFA Champions League Squad of the Season”. UEFA.com. 30 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2016. 
  17. ^ “ESPN World Fame 100”. ESPN. 3 tháng 6 năm 2016. 
  18. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Euro_2016_qualifier
  19. ^ a ă “Bale Model”. The Sun. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  20. ^ “Hall Of Fame”. Eglwys Newydd Primary School. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  21. ^ “Bluebirds of a feather are flocking together”. South Wales Echo. Wales Online. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2008. 
  22. ^ “Mentor's advice to Gareth could come to fruition as foreign legion close in”. Wales Online. 22 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2010. 
  23. ^ a ă Harvey, Chris (31 tháng 1 năm 2011). “Gareth Bale interview: born to run”. The Telegraph (Telegraph Media Group). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011. 
  24. ^ “Powerleague Official Opening”. Whitchurch High School. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010. 
  25. ^ a ă “Pride at Cardiff school that developed Sam Warburton and Gareth Bale”. The Guardian (Guardian News and Media). 13 tháng 10 năm 2011. 
  26. ^ Clutton, Graham (14 tháng 10 năm 2011). “Rugby World Cup 2011: Cardiff-born Gareth Bale and Sam Warburton were stars from the start, reflects coach”. The Telegraph (Telegraph Media Group). 
  27. ^ “Young Gareth made own rules”. The Daily Echo. 13 tháng 1 năm 2007. 
  28. ^ Neil Moxley (24 tháng 10 năm 2012). “Daddy Bale stays at home as Tottenham face crucial test in Slovenia”. Mail Online (Associated Newspapers). Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. 
  29. ^ “Derby 2 Southampton 2”. Southampton F.C. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  30. ^ “Saints 2 Coventry 0”. Southampton F.C. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  31. ^ “Saints 0 West Brom 0”. Southampton FC. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  32. ^ “Sunderland 1 Saints 1”. Southampton F.C. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  33. ^ “Hull v Saints”. Southampton F.C. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  34. ^ “Calzaghe scoops BBC Wales honour”. BBC Sport. Ngày 3 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  35. ^ “Prestige award for Bale”. Southampton F.C. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2007. 
  36. ^ Leitch, Adam (11 tháng 5 năm 2007). “Introducing your Saints heroes...”. Daily Echo: 20. 
  37. ^ “Southampton 1–2 Derby”. BBC Sport. Ngày 12 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2007. 
  38. ^ “Bale KO'd for two weeks”. Southern Daily Echo. Ngày 13 tháng 4 năm 2007. 
  39. ^ Hope, Craig (22 tháng 2 năm 2014). “West Ham and Southampton graduate XI... Featuring Walcott, Lampard, Ferdinand and Bale”. Daily Mail. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  40. ^ “Tottenham complete Bale transfer”. BBC Sport. Ngày 25 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2010. 
  41. ^ “D’oh! In 2008, Southampton Cashed In Their 25% Gareth Bale Sell-On Clause For Just £3m”. Who Ate all the Pies. 3 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  42. ^ “Fulham 3–3 Tottenham”. BBC Sport. Ngày 1 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2007. 
  43. ^ “Tottenham 1–3 Arsenal”. BBC Sport. Ngày 15 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2009. 
  44. ^ “Tottenham 2–0 Middlesbrough”. BBC Sport. Ngày 26 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2009. 
  45. ^ a ă Hytner, David (11 tháng 12 năm 2007). “Football: Bale out for at least three months”. The Guardian. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2013. 
  46. ^ “Injury rules out Bale for season”. BBC Sport. 4 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2008. 
  47. ^ “Bale signs new Tottenham contract”. BBC Sport. 13 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  48. ^ “Player comparison – Neymar vs Gareth Bale”. Footballnews92. 22 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014. 
  49. ^ “Gareth Bale could miss start of next season after knee surgery”. The Guardian. 3 tháng 6 năm 2009. 
  50. ^ Wilson, Steve (15 tháng 1 năm 2009). “The curse of Tottenham's Gareth Bale”. The Telegraph (Telegraph Media Group). Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2009. 
  51. ^ Soneji, Pranav (9 tháng 5 năm 2009). “Everton 0–0 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2009. 
  52. ^ “Report: Tottenham Hotspur vs Burnley – English Premier League”. ESPN Soccernet. 26 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2009. 
  53. ^ Hytner, David (13 tháng 1 năm 2010). “Tottenham manager challenges Gareth Bale to claim a starting place”. The Guardian. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  54. ^ “Tottenham 2–0 Fulham”. BBC Sport. 26 tháng 1 năm 2010. 
  55. ^ Lyon, Sam (21 tháng 8 năm 2010). “Stoke 1–2 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2010. 
  56. ^ “Tottenham 4–0 Young Boys (agg 6–3)”. BBC Sport. 25 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2010. 
  57. ^ “Gareth Bale named Wales' player of the year”. BBC Sport. 4 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010. 
  58. ^ “Inter Milan 4–3 Tottenham”. BBC Sport. 20 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2010. 
  59. ^ “Tottenham 3–1 Inter Milan”. BBC Sport. 2 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2010. 
  60. ^ “Gareth Bale wins BBC Wales Sports Personality award”. BBC Sport. 6 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  61. ^ Lawton, Matt (4 tháng 11 năm 2010). “Gareth Bale: I'm staying at Spurs as boss Harry Redknapp warns off Barcelona and Inter Milan”. Daily Mail. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2010. 
  62. ^ “New deal for Bale”. Tottenham Hotspur F.C. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2011. 
  63. ^ “Spurs' Gareth Bale wins PFA player of the year award”. BBC Sport. 18 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2011. 
  64. ^ “Wigan 1–2 Tottenham”. BBC Sport. 24 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2012. 
  65. ^ “Tottenham 3–1 QPR”. BBC Sport. 30 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2012. 
  66. ^ “Fulham 1–3 Tottenham”. BBC Sport. 6 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2012. 
  67. ^ “Twenty-five goals between 12 October to 21 December are ruled on”. Premier League. 12 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2012. 
  68. ^ Taylor, Daniel (28 tháng 9 năm 2012). “Tottenham's future looks bright... just give us time, says Gareth Bale”. The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  69. ^ “Gareth Bale to change squad number”. Sports Mole. 1 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2013. 
  70. ^ “Reading 1– 3 Tottenham”. BBC Sport. 16 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2012. 
  71. ^ Taylor, Daniel (29 tháng 9 năm 2012). “Tottenham Hotspur's Gareth Bale banishes Manchester United hoodoo”. The Observer. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2012. 
  72. ^ “Aston Villa 0 – 4 Tottenham”. BBC Sport. 26 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012. 
  73. ^ “Tottenham 3 – 0 Coventry City”. BBC Sport. 5 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2013. 
  74. ^ Monaghan, Matt (30 tháng 1 năm 2013). “Norwich 1 – 1 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2013. 
  75. ^ “West Brom 0–1 Tottenham”. 3 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2013. 
  76. ^ “Tottenham 2 – 1 Newcastle”. BBC Sport. 9 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2013. 
  77. ^ “Club announcement”. Tottenham Hotspur. 1 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013. 
  78. ^ “Official: Pogba signs for Man Utd for €105m”. Football Italia. 8 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2016. 
  79. ^ “Gareth Bale: Real Madrid star will keep his feet firmly on the ground”. BBC Sport. 1 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013. 
  80. ^ “Seventh Match That Misses Bale”. Soccerly. 22 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  81. ^ “Gareth Bale set to be on bench for Real Madrid's clash with Celta Vigo”. dnaindia.com. 5 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  82. ^ “Villarreal v Real Madrid – live!”. The Guardian. 14 tháng 9 năm 2013. 
  83. ^ “Galatasaray 1 Real Madrid 6: Bale shines from the bench but Ronaldo steals the show with ANOTHER hat-trick”. Daily Mail. 17 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013. 
  84. ^ Jenson, Pete (30 tháng 9 năm 2013). “Real Madrid 0 Atletico Madrid 1: Bale tastes defeat on home debut”. Daily Mail. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013. 
  85. ^ Collett, Mike (24 tháng 5 năm 2014). “Ronaldo first to score for two different European Cup winners”. Reuters. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  86. ^ "Player profile – Gareth Bale". ESPN. Truy cập 10 tháng 5 năm 2017
  87. ^ a ă â “200 goals for the BBC”. RealMadrid.com. 24 tháng 10 năm 2015. 
  88. ^ “Cristiano Ronaldo flaunts Real Madrid pedigree in defeat of Sevilla”. The Guardian. London. 12 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014. 
  89. ^ Winter, Henry (13 tháng 8 năm 2014). “Gareth Bale hails Real Madrid's statement of intent to scoop six trophies after Uefa Super Cup success”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014. 
  90. ^ “Real Sociedad 4–2 Real Madrid”. BBC Sport. 31 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2014. 
  91. ^ Fenn, Alec (20 tháng 9 năm 2014). “Deportivo 2–8 Real Madrid: Ronaldo hits hat-trick in devastating Blancos display”. GOAL.COM. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  92. ^ “Deportivo 2 Real Madrid 8”. BBC Sport. 20 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015. 
  93. ^ “Real Madrid 4-0 Sevilla”. BBC. 20 tháng 3 năm 2016. 
  94. ^ “Real Madrid's Gareth Bale scores late winner against Rayo Vallecano”. The Guardian. 23 tháng 4 năm 2016. 
  95. ^ “Spot-on Real Madrid defeat Atlético in final again”. uefa.com. 28 tháng 5 năm 2016. 
  96. ^ “Official Announcement: Bale”. realmadrid.com. 30 tháng 10 năm 2016. 
  97. ^ “Real Madrid's Gareth Bale facing four months out after ankle injury revealed to be worse than expected”. The Independent. 2 tháng 12 năm 2016. 
  98. ^ “Leo Messi revives La Liga title race with dramatic Clasico win over Real Madrid”. ESPN FC. 23 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017. 
  99. ^ Jason Burt, Redknapp happy to talk as Figo drools over wonder winger, The Daily Telegraph, 3/11/2010, p. S3.
  100. ^ Van der Vaart: "Gareth Bale đã biến Maicon thành gã hề"
  101. ^ Christenson, Marcus (11 tháng 3 năm 2010). “Gareth Bale hailed by European press for 'destroying' Maicon”. The Guardian. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  102. ^ “Bale savours record Wales debut”. BBC Sport. 28/5/2006. Truy cập 21/1/2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  103. ^ “Injured Bale out for three months”. BBC Sport. 10 /12/2007. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  104. ^ “The £10 million man”. Wales Online. Truy cập 21/1/2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  105. ^ “Wales 1–5 Slovakia”. BBC Sport. 10 tháng 7 năm 2006. Truy cập 21/1/2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  106. ^ “Bale: I could have played for England but playing for Wales is an honour”. The Daily Mail. 8 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  107. ^ BBC Sport
  108. ^ Draper, Rob (ngày 26 tháng 12 năm 2010). “Aaron Ramsey and Gareth Bale move closer to Olympic contention with Great Britain team”. Luân Đôn: Daily Mail. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2010. 
  109. ^ “Gareth Bale All time playing career”. Soccerbase. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2013. 
  110. ^ Bale/ Gareth Bale tại Soccerway. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014.
  111. ^ “17th Football Presentation Awards Evening”. Football Association of Wales. 13/11/2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  112. ^ “Bale claims public vote”. Football Association. 3 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  113. ^ “Bale scoops Player of the Month award”. Premier League (Premier League). 30/4/2010. Truy cập 30/4/2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  114. ^ “Gareth, Daws scoop awards”. Tottenham Hotspur F.C. (Tottenham Hotspur F.C.). 8 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  115. ^ “Gareth Bale named Wales' player of the year”. BBC Sport. 10 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  116. ^ “Gareth Bale wins BBC Wales Sports Personality award”. BBC Sport. Ngày 6 tháng 12 năm 2010. 
  117. ^ a ă â Thắng cú đúp giải thưởng của PFA: Bale đã sánh ngang Ronaldo!

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]