David Alaba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
David Alaba
David Alaba at Exhibition game of Austria vs. Romania, June 2012.jpg
Alaba năm 2012 trong màu áo đội tuyển Áo
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ David Olatokunbo Alaba
Ngày sinh 24 tháng 6, 1992 (27 tuổi)
Nơi sinh Viên, Áo
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)[1]
Vị trí Hậu vệ trái
Tiền vệ
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Bayern Munich
Số áo 27
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2001–2002 SV Aspern
2002–2008 Austria Vienna
2008–2009 Đội trẻ Bayern München
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2008–2010 Bayern München II 33 (1)
2010– Bayern München 227 (20)
20111899 Hoffenheim (cho mượn) 17 (2)
Đội tuyển quốc gia
2007–2009 U-17 Áo 20 (5)
2010 U-19 Áo 5 (1)
2009–2010 U-21 Áo 5 (0)
2009– Áo 71 (13)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 9 tháng 11 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 9 tháng 9 năm 2019

David Olatukunbo Alaba (sinh ngày 24 tháng 7 năm 1992) là cầu thủ bóng đá người Áo gốc Philipines thi đấu cho câu lạc bộ Bayern MünchenĐội tuyển bóng đá quốc gia Áo. Anh có thể chơi ở nhiều vị trí nhưng vị trí sở trường của anh là hậu vệ trái.

Alaba trở thành cầu thủ của Bayern München từ năm 2008 và đã cùng câu lạc bộ Đức giành được nhiều danh hiệu cấp câu lạc bộ, trong đó nổi bật nhất là danh hiệu vô địch UEFA Champions LeagueGiải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ vào năm 2013.

Tại đội tuyển quốc gia Áo, anh hiện đang giữ kỷ lục là cầu thủ trẻ nhất khoác áo đội tuyển bóng đá quốc gia nước này.[2]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Alaba sinh ra tại Viên và bắt đầu sự nghiệp của mình tại SV Aspern, một câu lạc bộ địa phương tại Aspern, trước khi đến đội trẻ của FK Austria Wien vào năm 10 tuổi. Tháng 4 năm 2008, anh đã có mặt trên băng ghế dự bị của đội hình một tại Giải vô địch bóng đá Áo.[3] Anh đã có năm trận cho đội dự bị của Austria Wien[4] trước khi chuyển đến Bayern München vào mùa hè năm 2008.[5]

Bayern München[sửa | sửa mã nguồn]

Anh bắt đầu thi đấu cho các đội U-17 và U-19 của Bayern München trước khi được lên chơi tại đội dự bị của đội bóng này trong mùa giải 2009–10.[6] Anh có trận đấu đầu tiên tại 3. Liga vào tháng 8 năm 2009 và có bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp cho FC Bayern München II vào ngày 29 tháng 8 năm 2009.[7] Trong mùa giải 2009-10, Alaba có tên trong danh sách câu lạc bộ Bayern München tham dự UEFA Champions League. Vào tháng 1 năm 2010, anh được phép tập luyện cùng với đội hình một của Bayern trong giai đoạn còn lại của mùa giải 2009–10[8] cùng với Diego ContentoMehmet Ekici.

Ngày 10 tháng 2 năm 2010, anh được vào sân ở phút thứ 59 thay cho Christian Lell trong trận đấu với SpVggGreutherFürth tại Cúp bóng đá Đức (DFB-Pokal), để trở thành cầu thủ trẻ nhất của Bayern ra sân tại một giải đấu ở 17 tuổi và 232 ngày.[9][10] Trong trận này, anh đã có đường chuyền để Franck Ribéry nâng tỉ số lên 3-2 cho Bayern trong chiến thắng chung cuộc 6–2. Sau đó 1 tháng, vào lúc 17 tuổi, 8 tháng và 13 ngày, anh có trận đấu đầu tiên tại UEFA Champions League với ACF Fiorentina.[11]

Tháng 1 năm 2011, Alaba đến TSG 1899 Hoffenheim theo hợp đồng cho mượn đến hết mùa giải 2010-11. Tại đây anh có bàn thắng đầu tiên tại Bundesliga trong trận hòa 2-2 với FC St. Pauli.

Alaba trong màu áo Bayern trong trận đấu với CSKA Moscow vào tháng 10 năm 2014

Alaba trở về Bayern vào đầu mùa giải 2011–12 và bắt đầu có được vị trí chính thức. Ngày 23 tháng 10 năm 2011, anh có bàn thắng đầu tiên tại Bundesliga cho Bayern trong trận thua 1–2 trước Hannover 96. Anh có mặt trong trận bán kết UEFA Champions League với Real Madrid ngày 25 tháng 4 năm 2012 và chính là người sút thành công quả phạt đền đầu tiên trong loạt sút luân lưu mở ra chiến thắng chung cuộc cho Bayern.[12] Tuy nhiên với chiếc thẻ vàng ngay đầu trận, anh đã không thể tham dự trận chung kết sau đó với Chelsea.[13]

Ngày 2 tháng 4 năm 2013, Alaba ghi bàn thắng nhanh thứ bảy trong lịch sử Champions League (25,02 giây) trong chiến thắng 2-0 trước Juventus.[14] Ngày 25 tháng 5 năm 2013, anh thi đấu đủ 90 phút trong trận chung kết UEFA Champions League 2013 với Borussia Dortmund để trở thành cầu thủ Áo đầu tiên thi đấu trận chung kết của giải đấu này.[2] Chung cuộc Bayern giành thắng lợi 2–1. Ngày 2 tháng 12 năm 2013, Alaba ký hợp đồng mới với Bayern München có thời hạn đến năm 2018.[15]

Trong trận đấu đầu tiên của Bundesliga 2013-14, Alaba là người ấn định chiến thắng 3-1 cho Bayern trước Borussia Mönchengladbach.[16] Alaba là người ghi bàn đầu tiên cho Bayern München tại UEFA Champions League 2013-14 với quả đá phạt thành bàn vào lưới CSKA Moskva.[17] Vào ngày 19 tháng 2 năm 2014, cũng trong khuôn khổ giải Champions League trong trận đấu vòng loại trực tiếp với Arsenal, anh đã đá hỏng một quả phạt đền.[18]

Tháng 1 năm 2015, Alaba được người hâm mộ bầu chọn vào Đội hình tiêu biểu của năm 2014 trên trang web UEFA.com ở vị trí hậu vệ trái. Đây là lần thứ hai liên tiếp anh có được vinh dự này.[19] Tại vòng 20 Bundesliga 2014-15, Alaba đá phạt thành bàn ấn định chiến thắng 2-0 cho Bayern trước VfB Stuttgart.[20] Ngày 4 tháng 3 năm 2015, Alaba có pha sút phạt mở tỉ số cho Bayern trong chiến thắng Eintracht Braunschweig 2-0 tại Cúp quốc gia Đức 2014-15. Đó là bàn thắng thứ ba của anh qua ba vòng liên tiếp của giải này.[21] Đến ngày 14 tháng 3, anh có pha đá phạt thành bàn thứ ba trong chín trận gần nhất ở các giải cho Bayern trong chiến thắng 4-0 trước Werder Bremen tại Bundesliga.[22]

Ngày 22 tháng 8 năm 2015, đường chuyền sai địa chỉ của Alaba trong trận đấu với đội bóng cũ của anh là Hoffenheim đã khiến Bayern phải lãnh bàn thua ngay ở giây thứ 9. Đây cũng là bàn thắng nhanh nhất trong lịch sử Bundesliga. Tuy nhiên sau cùng Bayern đã lội ngược dòng thành công với tỉ số 2-1.[23]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Alaba từng là thành viên của các đội U-17, U-19 và U-21 Áo. Tháng 10 năm 2009, anh được triệu tập vào đội tuyển Áo cho trận đấu với đội tuyển Pháp.[24] Việc được ra sân trong trận đấu này giúp anh trở thành cầu thủ trẻ nhất trong lịch sử khoác áo đội tuyển Áo.[25][26] Anh có bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Áo vào ngày 16 tháng 10 năm 2012 trong chiến thắng 4-0 trước Kazakhstan tại vòng loại World Cup 2014.

Tháng 12 năm 2011, Alaba lần đầu tiên giành được danh hiệu Cầu thủ Áo xuất sắc nhất năm khi vượt qua cầu thủ người Hà Lan Nacer Barazite của Austria Wien và tiền đạo Martin Harnik của VfB Stuttgart và anh cũng trở thành cầu thủ trẻ nhất giành được danh hiệu này.[27] Một năm sau đó, anh tiếp tục giành được danh hiệu này.[28] Ngày 26 tháng 3 năm 2013, Alaba ghi bàn thắng ở phút bù giờ đem về trận hòa 2-2 cho Áo trước Ireland với một cú sút xa đẹp mắt từ ngoài vòng cấm.[29] Gần 6 tháng sau đó, anh ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu lượt về với Ireland ở phút 84 giúp Áo tiếp tục nuôi hi vọng lần đầu tiên được góp mặt tại World Cup kể từ năm 1998.[30] Kết thúc Vòng loại World Cup 2014, anh là chân sút ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Áo với sáu bàn.[31]

Anh ghi bàn từ chấm phạt đền theo phong cách Panenka trong chiến thắng 4-1 trước Thụy Điển tại sân Friends Arena và với trận thắng này đội tuyển Áo đã chính thức lần đầu tiên kể từ năm 2008 vượt qua vòng loại một Giải vô địch bóng đá châu Âu để có mặt ở Pháp vào năm 2016.[32] Tuy nhiên, đội tuyển Áo đã rời giải ngay sau đó với chỉ vỏn vẹn 1 điểm, đứng cuối bảng F, 1 trận hòa và 2 trận thua, chỉ ghi được 1 bàn thắng và bị thủng lưới 4 bàn.

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm mạnh của Alaba là anh có khả năng chơi cực kì đa năng. Vị trí ban đầu của anh là ở hàng tiền vệ (tại Bayern München II), nhưng sau đó anh được huấn luyện viên Louis van Gaal kéo xuống chơi ở hậu vệ trái, và thành danh ở vị trí này. Nhưng ở đội tuyển Áo, anh vẫn đảm nhiệm vị trí tiền vệ và cũng chơi cực kỳ thành công. Dưới thời huấn luyện viên Pep Guardiola tại Bayern, có những thời điểm huấn luyện viên này còn bố trí Alaba chơi ở vị trí trung vệ lệch về bên trái trong sơ đồ ba hậu vệ.[33][34] Trong những pha xử lý của mình, Alaba luôn xử lý rất đơn giản nhưng vẫn đảm bảo sự hiệu quả, an toàn cao.[34] Alaba còn có khả năng hỗ trợ tấn công tốt. Tại Bayern, dù là một hậu vệ trái nhưng anh luôn có xu hướng dâng cao tấn công biên, đồng thời thường xuyên di chuyển vào trung lộ để giúp Bayern tạo ưu thế kiểm soát bóng. Việc hay di chuyển vào trung lộ giúp anh kết nối tốt hơn với cả những tiền vệ trung tâm, tạo ra những pha bật tường trước khi lợi dụng tốc độ luồn ra sau lưng tuyến phòng ngự đội bạn.[35] Anh còn nổi bật ở kỹ năng sút phạt trực tiếp và đá phạt đền.[35]

Cựu danh thủ Matthias Sammer nhận xét dù còn trẻ tuổi, Alaba đã là một trong số những hậu vệ trái xuất sắc nhất trên thế giới."[36] Một cựu danh thủ khác là Stefan Effenberg thậm chí so sánh anh với những huyền thoại như Roberto Carlos, Paolo MaldiniAndreas Brehme trong cuộc phỏng vấn với SportWiche.[33]

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Alaba sinh ra trong một gia đình có mẹ, bà Gina là người Philippines và cha, ông George Alaba, là người Nigeria. Cha anh là một ca sĩ nhạc Rap và sau đó là DJ, là người da đen đầu tiên phục vụ trong Quân đội Áo còn mẹ anh là một cựu hoa hậu và làm nghề y tá.[37] Tôn giáo của anh là Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm.[38]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 9 tháng 11 năm 2019.
Câu lạc bộ Mùa giải Cúp châu Âu Khác Tổng cộng Ref.
Câu lạc bộ Giải đấu Mùa giải Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Đức Giải đấu DFB-Pokal Châu Âu Khác 1 Tổng cộng
Bayern München Bundesliga 2009–10 3 0 1 0 2 0 6 0 [39]
2010–11 2 0 1 0 0 0 0 0 3 0 [40]
2011–12 30 2 6 1 11 0 47 3 [41]
2012–13 23 3 4 0 11 2 0 0 38 5 [42]
2013–14 28 2 5 0 12 2 4 0 49 4 [43][44]
2014–15 19 2 3 3 6 0 1 0 29 5 [44][45]
2015–16 30 1 5 0 10 1 1 0 46 2 [44][46]
2016–17 32 4 5 1 9 0 1 0 47 5 [47][48]
2017–18 23 2 7 0 6 0 0 0 36 2 [49]
2018–19 31 3 4 0 7 0 1 0 43 3 [50]
2019–20 6 1 1 0 3 0 1 0 11 1 [51][52]
Tổng cộng 227 20 41 5 78 5 9 0 355 30
Bayern München II 3. Liga 2009–10 23 1 23 1 [39]
2010–11 10 0 10 0 [40]
Tổng cộng 33 1 33 1
1899 Hoffenheim Bundesliga 2010–11 17 2 1 0 18 2 [40]
Tổng cộng sự nghiệp 277 23 43 5 78 5 9 0 406 33
  • 1.^ IDFL-Supercup, UEFA Super Cup, và Club World Cup.

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng và tỉ số của đội tuyển Áo được để trước.
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 16 tháng 10 năm 2012 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Kazakhstan 3–0 4–0 Vòng loại World Cup 2014
2 22 tháng 3 năm 2013 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Quần đảo Faroe 5–0 6–0 Vòng loại World Cup 2014
3 26 tháng 3 năm 2013 Sân vận động Aviva, Dublin, Ireland  Cộng hòa Ireland 2–2 2–2 Vòng loại World Cup 2014
4 7 tháng 6 năm 2013 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Thụy Điển 1–0 2–1 Vòng loại World Cup 2014
5 10 tháng 9 năm 2013 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Cộng hòa Ireland 1–0 1–0 Vòng loại World Cup 2014
6 15 tháng 10 năm 2013 Sân vận động Tórsvøllur, Tórshavn, Quần đảo Faroe  Quần đảo Faroe 3–0 3–0 Vòng loại World Cup 2014
7 8 tháng 9 năm 2014 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Thụy Điển 1–0 1–1 Vòng loại Euro 2016
8 9 tháng 10 năm 2014 Sân vận động Zimbru, Chişinău, Moldova  Moldova 1–0 2–1 Vòng loại Euro 2016
9. 27 tháng 3 năm 2015 Sân vận động Rheinpark, Vaduz, Liechtenstein  Liechtenstein 3–0 5–0 Vòng loại Euro 2016
10. 8 tháng 9 năm 2015 Friends Arena, Solna, Thụy Điển  Thụy Điển 1–0 4–1 Vòng loại Euro 2016
11. 17 tháng 11 năm 2015 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Thụy Sĩ 1–1 1–2 Giao hữu
12. 23 tháng 3 năm 2017 Sân vận động Wörthersee, Klagenfurt, Áo  Slovenia 1–0 3–0 Giao hữu
13. 6 tháng 9 năm 2018 Generali Arena, Vienna, Áo  Thụy Điển 2–0 2–0 Giao hữu

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bayern Munich

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “David Alaba”. FC Bayern Munich. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2012. 
  2. ^ a ă “TEN THINGS ABOUT DAVID ALABA”. Bundesliga. Ngày 10 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  3. ^ “Jugend-TOTO-Cup: David Alaba im Porträt” [Jugend-TOTO-Cup: David Alaba portrayed]. planetlinz.tv (bằng tiếng Đức). Ngày 29 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  4. ^ “David Alaba, Versprechen und Prophezeiung” [David Alaba, Promise and Prophecy]. Der Standard (bằng tiếng Đức). Ngày 14 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  5. ^ “David Alaba: Supertalent des FC Bayern”. Fussballboom (bằng tiếng Đức). Ngày 21 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  6. ^ Holstein, Hermann (ngày 7 tháng 5 năm 2012). “David Alaba – Die Vita eines Wunderknaben” (bằng tiếng Đức). Im 16'er. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2014. 
  7. ^ “Scholls erster Sieg” [Scholl's first win]. kicker.de (bằng tiếng Đức). Ngày 31 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  8. ^ “Österreich-Jungstar Alaba trainiert mit Bayern-Profis” [Austrian starlet Alaba trains with Bayern club pros] (bằng tiếng Đức). goal.com. Ngày 2 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2014. 
  9. ^ “Bayern München – SpVgg Greuther Fürth”. kicker.de (bằng tiếng Đức). Ngày 10 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  10. ^ “David Alaba close to new Bayern Munich deal”. ESPN FC. Ngày 9 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  11. ^ “Da ist der nächste Traum in Erfüllung gegangen” (bằng tiếng Đức). FAZ. Ngày 10 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2014. 
  12. ^ “Alaba - sự vắng mặt đáng tiếc nhất ở chung kết C1”. Vnexpress. Ngày 15 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2015. 
  13. ^ Kit Holden (ngày 8 tháng 5 năm 2012). “David Alaba's suspension for the Champions League final is the most regrettable of all”. The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2012. 
  14. ^ “Bayern take command against Juventus”. UEFA. Ngày 2 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013. 
  15. ^ “David Alaba verlängert Vertrag beim FC Bayern bis 2018” (bằng tiếng Đức). FC Bayern Munich. Ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2013. 
  16. ^ “Müller scheitert – Alaba nicht! Der FCB ist wieder auf Kurs”. kicker (bằng tiếng Đức). Ngày 9 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015. 
  17. ^ “Đương kim vô địch Champions League ra oai”. NLĐ. Ngày 18 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2015. 
  18. ^ “Arsenal 0-2 Bayern Mun”. BBC Sports. Ngày 18 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2015. 
  19. ^ Morlidge, Matt (ngày 9 tháng 1 năm 2015). “Cristiano Ronaldo, Lionel Messi and Angel di Maria in UEFA Team of the Year... but no British players make select XI”. Daily Mail. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  20. ^ “Stuttgart 0-2 Bayern Munich: Gã khổng lồ thức giấc”. Dân Trí. Ngày 8 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2015. 
  21. ^ “Bayern Munich 2-0 Braunschweig: Goetze độc diễn, Alaba sút phạt, Bayern bắt nạt đội hạng Nhì”. Thể thao và Văn Hóa. Ngày 5 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2015. 
  22. ^ “VIDEO: David Alaba đá phạt hàng rào đến Ronaldo cũng phải 'ngả mũ'. Thể thao và Văn Hóa. Ngày 15 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015. 
  23. ^ “Bayern Munich concede to Hoffenheim after nine seconds”. BBC Sport. Ngày 22 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  24. ^ “Frankreich-Match: um Alaba wird uns Europa beneiden” [Match against France: Europe will envy us for Alaba]. nachrichten.at (bằng tiếng Đức). Ngày 7 tháng 10 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  25. ^ “Draxler, Insigne, Koke and Co... Sportsmail's top 10 bright young stars hoping to fire their country to next summer's World Cup”. Mail Online. Ngày 11 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  26. ^ “Keep your eyes on David Alaba - the unsung Austrian who could be Bayern Munich's next Lizarazu”. Goal.com. Ngày 28 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  27. ^ “Alaba tops Austrian player of the year poll”. UEFA. Ngày 20 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  28. ^ “David Alaba ist "Fußballer des Jahres"” [David Alaba is "footballer of the year"]. kleinezeitung.at (bằng tiếng Đức). Ngày 18 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012. 
  29. ^ “Rep of Ireland 2- 2 Austria”. BBC Sport. Ngày 26 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  30. ^ “Bayern Munich: Khi Alaba là tấm gương”. Thể thao và Văn hóa. Ngày 13 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  31. ^ “Top scorers”. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2014. 
  32. ^ “Sweden 1-4 Austria: Martin Harnik grabs a brace as his country qualify for the European Championship for the first time, with Zlatan Ibrahimovic netting consolation”. Mail Online. Ngày 8 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2015. 
  33. ^ a ă “David Alaba: Chìa khóa vạn năng của Pep Guardiola”. Thể thao và Văn hóa. Ngày 18 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  34. ^ a ă “David Alaba, người Áo thầm lặng”. Thể thao và Văn hóa. Ngày 7 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  35. ^ a ă “David Alaba: "Truyền nhân" đích thực của Roberto Carlos?”. Bóng Đá +. Ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  36. ^ 'David Alaba là một trong những hậu vệ trái xuất sắc nhất thế giới'. Thể thao và Văn hóa. Ngày 4 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  37. ^ Solaja Kunle (ngày 8 tháng 6 năm 2013). “3 continents, countries, culture united in David Alaba, Sunday Oliseh is dad's hero”. Soccer Star. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014. 
  38. ^ “David und der liebe Gott”. Kurier. Ngày 1 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2013. 
  39. ^ a ă “Alaba, David”. kicker.de (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  40. ^ a ă â “David Alaba” (bằng tiếng Đức). Fussballdaten.de. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  41. ^ “Alaba, David”. kicker.de (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  42. ^ “Alaba, David”. kicker.de (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  43. ^ “Alaba, David”. kicker.de (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  44. ^ a ă â “David Alaba » Club matches”. World Football. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2015. 
  45. ^ “Alaba, David”. kicker.de (bằng tiếng Đức). kicker. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2015. 
  46. ^ “David Alaba”. kicker.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2015. 
  47. ^ “Im zweiten Anlauf: Vidal beschert Bayern den ersten Titel”. kicker.de (bằng tiếng Đức). 14 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2016. 
  48. ^ “David Alaba”. kicker.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016. 
  49. ^ “David Alaba”. kicker.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017. 
  50. ^ “Eintracht Frankfurt – Bayern München”. kicker.de (bằng tiếng Đức). 12 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2018. 
  51. ^ “Sancho glänzt in doppelter Rolle: BVB gewinnt Supercup”. kicker.de (bằng tiếng Đức). 3 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019. 
  52. ^ “David Alaba”. kicker.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2019. 
  53. ^ Öhlinger, Gerhard (ngày 23 tháng 12 năm 2013). “Austria - Player of the Year and Other Awards”. RSSSF. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2015. 
  54. ^ “Alaba named Austria's Sportsman of the Year”. bundesliga.com. Ngày 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014. 
  55. ^ “Alaba retains Austria's Sportsman of the Year award”. bundesliga.com. Ngày 30 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014. 
  56. ^ “UEFA.com users' Team of the Year 2013 revealed”. UEFA.com. Ngày 15 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]