Christian Benteke

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Christian Benteke
Christian Benteke.JPG
Benteke trong buổi tập ở đội tuyển Bỉ năm 2013.
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Christian Benteke Liolo[1]
Ngày sinh 3 tháng 12, 1990 (28 tuổi)
Nơi sinh Kinshasa, Zaire[2]
Chiều cao 1,90 m (6 ft 3 in)
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Crystal Palace
Số áo 17
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1996–2004 JS Pierreuse
2004–2006 Standard Liège
2006–2007 Genk
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2007–2009 Genk 10 (1)
2009–2011 Standard Liège 18 (3)
2009–2010Kortrijk
(cho mượn)
34 (15)
2010–2011Mechelen
(cho mượn)
18 (6)
2011–2012 Genk 37 (19)
2012–2015 Aston Villa 88 (42)
2015–2016 Liverpool 29 (9)
2016– Crystal Palace 86 (19)
Đội tuyển quốc gia
2007 U-17 Bỉ 11 (6)
2007–2008 U-18 Bỉ 7 (4)
2008–2009 U-19 Bỉ 10 (10)
2009–2012 U-21 Bỉ 9 (4)
2010– Bỉ 34 (12)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 31 tháng 8 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 21 tháng 3 năm 2019

Christian Benteke Liolo (sinh ngày 3 tháng 12 năm 1990) là cầu thủ bóng đá người Bỉ thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Crystal Palace tại Premier LeagueĐội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ. Anh hiện đang giữ kỷ lục là cầu thủ ghi bàn nhanh nhất lịch sử vòng loại World Cup với bàn thắng ở giây 8,1 trong trận đấu với Gibraltar tại vòng loại World Cup 2018.[3]

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Benteke sinh ra tại Kinshasa ngày 3 tháng 12 năm 1990. Anh và gia đình đã rời khỏi đất nước trong thời kì chế độ độc tài Mobutu và đến tị nạn tại Liège, Bỉ.[4]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Standard Liège and Genk[sửa | sửa mã nguồn]

Benteke thi đấu tại đội trẻ JS Pierreuse và sau đó là Standard Liège trước khi gia nhập Genk. Anh trở về Standard vào tháng 1 năm 2009.[5] Ngày 7 tháng 8 năn 2009, anh đến KV Kortrijk theo bản hợp đồng cho mượn một năm.[6] Mùa giải tiếp theo, anh được cho mượn tại KV Mechelen như một phần trong vụ chuyển nhượng tiền đạo Aloys Nong, người chuyển đến Standard Liège theo chiều ngược lại. Anh trở về thi đấu cho Genk năm 2011, ghi được 19 bàn sau 37 trận đấu chỉ trong một mùa giải.[7]

Aston Villa[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2012–13[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 8 năm 2012, Benteke gia nhập đội bóng tại Premier LeagueAston Villa với phí chuyển nhượng khoảng 7 triệu £ cùng bản hợp đồng có thời hạn bốn năm.[8] Ngày 15 tháng 9 năm 2012, Benteke ghi bàn thắng đầu tiên cho Aston Villa ngay trong trận ra mắt trong chiến thắng 2-0 trước Swansea City khi vào sân thay cho tiền đạo người Áo Andreas Weimann.[9] Sau đó anh ghi bàn thắng duy nhất cho Villa trong trận hòa 1-1 với Norwich City.[10] Benteke tiếp tục có màn ra mắt thành công tại League Cup với cú đúp trong chiến thắng 3-2 trước Swindon Town.[11] Chuỗi trận ra mắt ấn tượng của anh tại môi trường bóng đá Anh được kéo dài bằng bàn thắng đem về chiến thắng 1-0 trước Reading tại sân nhà Villa Park ngày 27 tháng 11.[12]

Ngày 15 tháng 12, Benteke lập cú đúp và còn có một pha kiến tạo trong chiến thắng bất ngờ 3-1 trước Liverpool ngay tại Anfield. Huấn luyện viên Aston Villa Paul Lambert khen tặng Benteke "bạn không biết phải nói gì nữa về chàng trai ấy, ngoài chuyện cậu ấy trẻ và tài năng như thế nào".[13]

Sau khi không ghi bàn trong ba trận, Benteke ghi bàn trở lại ngay trong trận đấu đầu tiên của Villa năm 2013 với Swansea City.[14] Bàn thắng thứ 10 của anh trong mùa giải là một cú sút xa đẹp mắt trong trận hòa 2-2 với West Bromwich Albion. Bàn thắng này của anh sau đó đã được bình chọn là bàn thắng đẹp nhất tháng 1.[15] Tại League Cup, bàn thắng của anh trong trận đấu với Bradford City không đủ để đưa Villa vào chung kết do để thua chung cuộc 3-4.[16] Anh có bàn thắng thứ 15 trên mọi giải đấu với quả phạt đền thành công trong chiến thắng 2-1 trước West Ham United ngày 10 tháng 2 năm 2013. Đây cũng là chiến thắng đầu tiên tại Premier League của Villa sau chuỗi 8 trận đấu chỉ toàn hòa và thua.[17]

Benteke trong màu áo Aston Villa năm 2013.

Benteke ghi bàn thứ 100 của Aston Villa tại Premier League đem về chiến thắng quan trọng 2–1 trước Reading. Một tuần sau đó, anh tiếp tục ghi bàn thắng ấn định chiến thắng 3–2 trước Queens Park Rangers.[18][19] Benteke được đề cử danh hiệu PFA Young Player of the Year và sau cùng đã về vị trí thứ hai sau Gareth Bale.[20] Ngày 29 tháng 4, Benteke lập được một hat-trick cho Villa trong chiến thắng 6-1 trước Sunderland, giúp anh phá vỡ kỷ lục ghi bàn của Dwight Yorke tại Premier League (18) và có hơn 20 bàn thắng trên mọi mặt trận, trở thành cầu thủ Villa đầu tiên làm được điều này sau Juan Pablo Ángel ở mùa giải 2003-04.[21]

Ngày 11 tháng 5, Benteke ghi bàn thắng cuối cùng của mùa giải trong trận thua 1-2 trước Chelsea và sau đó bị truất quyền thi đấu.[22] Benteke kết thúc mùa giải với tổng cộng 19 bàn tại Premier League và 23 bàn thắng trên tất cả các mặt trận.

Mùa giải 2013–14[sửa | sửa mã nguồn]

Trước mùa giải 2013-14 đã có nhiều nguồn tin Benteke sẽ chuyển đến một câu lạc bộ khác nhưng vào ngày 19 tháng 7 năm 2013, Benteke đã rút lại yêu cầu xin được chuyển nhượng sau khi nói chuyện với huấn luyện viên Paul Lambert và đồng ý ký tiếp hợp đồng bốn năm với Villa.[23]

Ngày 17 tháng 8 năm 2013, Benteke lập được cú đúp ngay trong trận đấu mở màn Premier League 2013-14, giúp Villa giành chiến thắng 3-1 đầy bất ngờ trước Arsenal.[24] Bốn ngày sau, anh lại ghi bàn vào lưới một đội bóng lớn khác là Chelsea nhưng Villa để thua chung cuộc 2-1.[25] Tại vòng 2 League Cup, anh ghi bàn giúp Villa đánh bại Rotherham United 3–0.[26] Phong độ cao của Benteke đầu mùa giải được tiếp nối bằng bàn thắng trong trận thua Newcastle United, bàn thắng thứ 5 sau 4 trận đầu mùa của anh.[27] Tuy nhiên, chấn thương gặp phải trong trận đấu với Norwich City sau đó đã khiến anh theo dự tính phải nghỉ thi đấu trong sáu tuần.[28] Anh chính thức trở lại từ ngày 20 tháng 10 trong trận thua 2-0 trước Totteham Hotspur.[29]

Phong độ sa sút do chấn thương khiến cho Benteke không thể ghi bàn trong 12 trận cho đến tận ngày 13 tháng 1 năm 2014 với bàn thắng trong trận thua Arsenal 1–2.[30][31] Một tuần sau, anh ghi bàn trong trận hòa 2-2 với Liverpool và sau đó là chiến thắng 4-3 trước West Bromwich Albion.[32][33] Trong suốt tháng 2, Benteke không ghi được bàn nào nhưng vào ngày 1 tháng 3, anh có cú đúp vào lưới Norwich City chỉ trong vòng ba phút, để chung cuộc Villa thắng 4-1.[34]

Ngày 3 tháng 4 năm 2014, Benteke bị đứt gân gót Achilles trong khi tập luyện khiến anh phải nghỉ thi đấu hết phần còn lại của mùa giải và mất luôn cơ hội tham dự World Cup 2014.[35]

Mùa giải 2014-15[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sáu tháng chấn thương, Benteke chính thức trở lại vào ngày 4 tháng 10 năm 2014 trong trận thua Manchester City 2-0.[36] Một tháng sau đó, anh đã bị trọng tài Neil Swarbrick rút thẻ đỏ trực tiếp do có hành vi đánh vào mặt cầu thủ Tottenham Hotspur Ryan Mason khiến Villa thua ngược 2–1 sau đó.[37] Đầu tháng 12 năm 2014, anh mới có bàn thắng đầu tiên kể từ khi trở lại sau chấn thương, đem về chiến thắng 1-0 cho Villa trước Crystal Palace.[38]

Anh có bàn thắng thứ hai trong mùa giải với bàn mở tỉ số trong trận hòa 1-1 với Manchester United tại Villa Park.[39] Phải đến tháng 3 năm 2015, anh mới có bàn thắng kế tiếp, bàn thắng từ chấm phạt đền ở phút 94 mang về 3 điểm quý giá cho Villa trong trận derby miền Trung nước Anh với West Bromwich Albion.[40] Ngày 7 tháng 4, anh lập hat-trick trong trận hòa 3-3 với Queens Park Rangers, để có được phong độ ấn tượng 7 bàn sau 5 trận đấu kể từ khi huấn luyện viên Tim Sherwood lên nắm quyền.[41] Bốn ngày sau đó, Benteke ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Tottenham, giúp Villa leo lên vị trí 15 trên bảng xếp hạng với 32 điểm, nới rộng khoảng cách với nhóm phải xuống hạng lên 6 điểm.[42]

Ngày 19 tháng 4, anh ghi bàn thắng gỡ hòa cho Villa để sau đó đội bóng của anh lội ngược dòng đánh bại Liverpool 2-1 để lần đầu tiên sau 15 năm có mặt tại trận chung kết cúp FA (nhưng sau đó để thua Arsenal 4-0).[43] Ngày 2 tháng 5, anh lập cú đúp đem về chiến thắng 3-2 trước Everton, bàn thắng thứ 11 trong 9 trận kể từ khi Tim Sherwood trở thành tân huấn luyện viên của Villa.[44] Thành tích ghi bàn ấn tượng giúp anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất trong tháng của Giải bóng đá ngoại hạng Anh trong tháng 4 năm 2015.[45]

Liverpool[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 7 năm 2015, Benteke chính thức trở thành tân binh của Liverpool với phí chuyển nhượng 32,5 triệu £, giúp anh trở thành cầu thủ có giá trị chuyển nhượng cao thứ hai trong lịch sử câu lạc bộ.[46] Ngày 2 tháng 8, anh có trận ra mắt cho Liverpool trong trận giao hữu với Swindon Town và đạ ghi bàn trong chiến thắng 2-1.[47]

Mùa giải 2015–16[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 8, anh có trận đấu chính thức đầu tiên cho Liverpool trong chiến thắng 1-0 trước Stoke City tại vòng 1 Premier League 2015-16.[48] Một tuần sau đó, anh có bàn thắng đầu tiên tại Premier League trong màu áo mới, bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Bournemouth.[49] Ngày 12 tháng 9, trong trận thua 1-3 của Liverpool trước Manchester United, Benteke ghi được một bàn thắng tuyệt đẹp bằng một pha dứt điểm theo kiểu xe đạp chổng ngược.[50]

Sau một vài trận phải nghi đấu vì chấn thương, anh đã lập công trong hai trận liên tiếp sau khi vào sân từ băng ghế dự bị vào ngày 25 và 31 tháng 10: trận hòa 1–1 với Southampton[51] và chiến thắng 3-1 trước Chelsea.[52] Ngày 26 tháng 12, anh vào sân thay cho người đồng hương Divock Origi đã ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với đội đầu bảng Leicester City, chấm dứt chuỗi 9 trận bất bại của đội bóng này.[53]

Ngày 8 tháng 1 năm 2016, Benteke được chọn làm đội trưởng của Liverpool trong trận đấu vòng ba cúp FA với Exeter City.[54] Ngày 11 tháng 5 năm 2016, Benteke có bàn thắng thứ 10 trong mùa giải với pha ghi bàn gỡ hòa 1-1 ở phút 92 trận đấu với Chelsea.[55] Kết thúc mùa giải 2015-16, Benteke có được 10 bàn thắng sau 42 trận cho Liverpool.[56]

Crystal Palace[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 8 năm 2016, Benteke chuyển đến Crystal Palace theo bản hợp đồng bốn năm với phí chuyển nhượng 27 triệu £ cộng thêm với 5 triệu £ tùy vào thành tích của Benteke.[57] Ba ngày sau đó, anh có trận đấu đầu tiên cho Palace trong chiến thắng 2-0 trước Blackpool tại Cúp Liên đoàn Anh.[58] Ngày 10 tháng 9 năm 2016, Benteke ghi bàn thắng đầu tiên trong màu áo Palace, đem về chiến thắng 2-1 trước Middlesbrough.[59] Hai tuần sau đó, pha đánh đầu ghi bàn ở phút thứ 94 của anh đã giúp Palace lội ngược dòng thành công 3-2 trước Sunderland sau khi đã bị dẫn trước 2-0.[60]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Benteke thi đấu cho đội tuyển Bỉ năm 2013

Benteke là thành viên đội tuyển bóng đá U-17 Bỉ tham dự Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới 2007 tại Hàn Quốc. Giải đấu này anh thi đấu ba trận và ghi được một bàn thắng.[61]

Ngày 19 tháng 5 năm 2010, anh có trận đấu đầu tiên cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ trong trận giao hữu với Bulgaria tại Brussels sau khi huấn luyện viên cũ của anh tại KortrijkGeorges Leekens trở thành huấn luyện viên trưởng đội tuyển nước này. Ngày 15 tháng 8 năm 2012, anh ghi được bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Bỉ trong chiến thắng 4-2 trước Hà Lan ở lần thứ năm khoác áo đội tuyển.[62]

Tại Vòng loại World Cup 2014, anh ghi hai bàn trong bảy trận đấu cho đội tuyển Bỉ nhưng bỏ lỡ cơ hội tham dự World Cup 2014 do đứt gân gót Achilles.[63] Anh trở lại đội hình đội tuyển Bỉ sau chấn thương tại vòng loại Euro 2016 và ghi được bàn thắng quốc tế đầu tiên sau gần hai năm trong trận thắng 5–0 trước Síp ngày 28 tháng 3 năm 2015.[64]

Benteke sau đó có tên trong đội hình đội tuyển Bỉ tham dự Euro 2016 tại Pháp. Tại giải đấu này, anh được vào sân trong hai trận vòng bảng với Cộng hòa IrelandThụy Điển (đều thay cho Romelu Lukaku ở những phút cuối trận đấu).[65][66] Bỉ bị loại ở tứ kết sau trận thua trước Wales.

Ngày 10 tháng 10 năm 2016, Benteke trở thành cầu thủ ghi bàn nhanh nhất lịch sử vòng loại World Cup với bàn thắng ở giây 8,1 trong chiến thắng 6-0 trước Gibraltar tại vòng loại World Cup 2018. Trong trận này, anh cũng lập được hat-trick đầu tiên trong màu áo đội tuyển quốc gia.[67]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2019[68]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cup League Cup Khác Tổng cộng
Giải đấu Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Genk 2007–08 Giải vô địch bóng đá Bỉ 7 1 0 0 0 0 7 1
2008–09 3 0 0 0 0 0 3 0
Tổng cộng 10 1 0 0 0 0 10 1
Standard Liège 2008–09 Giải vô địch bóng đá Bỉ 9 3 0 0 2 0 11 3
2009–10 5 0 0 0 0 0 5 0
2010–11 4 1 0 0 5 0 9 1
Tổng cộng 18 4 0 0 7 0 25 4
Kortrijk (mượn) 2009–10 Giải vô địch bóng đá Bỉ 34 14 4 2 0 0 38 16
Mechelen (mượn) 2010–11 18 6 2 1 0 0 20 7
Genk 2011–12 32 16 1 0 0 0 33 16
2012–13 5 3 0 0 3 1 8 4
Tổng cộng 37 19 1 0 3 1 41 20
Aston Villa 2012–13 Premier League 34 19 0 0 5 4 0 0 39 23
2013–14 26 10 1 0 1 1 0 0 28 11
2014–15 28 13 5 2 0 0 0 0 33 15
Tổng cộng 88 42 6 2 6 5 0 0 100 49
Liverpool 2015–16 Premier League 29 9 4 0 2 0 7 1 42 10
Crystal Palace 2016–17 Premier League 36 15 2 2 2 0 0 0 40 17
2017–18 30 3 0 0 0 0 0 0 30 3
2018–19 16 1 3 0 0 0 0 0 19 1
2019–20 4 0 0 0 1 0 0 0 5 0
Tổng cộng 86 19 5 2 3 0 0 0 94 21
Tổng cộng sự nghiệp 321 113 22 7 11 5 17 2 371 127

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 21 tháng 3 năm 2019.[69]
Đội tuyển quốc gia Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
Bỉ 2010 3 0
2012 5 4
2013 8 2
2014 3 0
2015 5 1
2016 6 3
2017 1 2
2017 3 0
Tổng cộng 34 12

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 15 tháng 8 năm 2012 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Hà Lan 1–0 4–2 Giao hữu
2. 12 tháng 10 năm 2012 Sân vận động Crvena Zvezda, Belgrade, Serbia  Serbia 1–0 3–0 Vòng loại World Cup 2014
3. 16 tháng 10 năm 2012 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels. Bỉ  Scotland 1–0 2–0
4. 14 tháng 11 năm 2012 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels. Bỉ  România 1–0 1–2 Giao hữu
5. 29 tháng 5 năm 2013 Sân vận động FirstEnergy, Cleveland, Hoa Kỳ  Hoa Kỳ 2–1 4–2
6. 4–1
7. 28 tháng 3 năm 2015 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels. Bỉ  Síp 2–0 5–0 Vòng loại Euro 2016
8. 10 tháng 10 năm 2016 Sân vận động Algarve, Faro/Loulé, Bồ Đào Nha  Gibraltar 1–0 6–0 Vòng loại World Cup 2018
9. 3–0
10. 5–0
11. 28 tháng 3 năm 2017 Sân vận động Fisht Olympic, Sochi, Nga  Nga 2–1 3–3 Giao hữu
12. 3–1

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Standard Liège

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ xuất sắc nhất trong tháng của Giải bóng đá ngoại hạng Anh: Tháng 4 năm 2015

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “List of Players under Written Contract Registered Between 01/09/2012 and 30/09/2012” (PDF). The Football Association. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015. 
  2. ^ Christian Benteke: Street football took brilliant Belgians to top - News & Comment - Football - The Independent
  3. ^ “Belgium's Christian Benteke scored the fastest ever World Cup qualifying goal after 8.1 seconds against Gibraltar”. BBC Sports. 10 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2016. 
  4. ^ Sam Wallace (ngày 9 tháng 11 năm 2012). “Christian Benteke: Street football took brilliant Belgians to top”. Luân Đôn: The Independent. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015. 
  5. ^ “Christian Benteke volgt Bolat”. Article.wn.com. 
  6. ^ Footgoal.Net. “Officiel: Benteke à Courtrai, Van Hout au Standard”. Footgoal.net. 
  7. ^ “Christian Benteke | Age 21”. WhoScored.com. 
  8. ^ Stuart James (ngày 1 tháng 9 năm 2012). “Aston Villa sign £7m Christian Benteke but are forced to defend transfers”. The Guardian. 
  9. ^ “Aston Villa 2–0 Swansea”. BBC Sport. Ngày 15 tháng 9 năm 2012. 
  10. ^ “Aston Villa 1–1 Norwich”. BBC Sport. Ngày 27 tháng 10 năm 2012. 
  11. ^ “Swindon 2–3 Aston Villa”. BBC Sport. Ngày 30 tháng 10 năm 2012. 
  12. ^ “Aston Villa 1–0 Reading”. BBC Sport. Ngày 27 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012. 
  13. ^ “Liverpool 1–3 Aston Villa”. BBC Sport. Ngày 15 tháng 12 năm 2012. 
  14. ^ “Swansea 2–2 Aston Villa”. BBC Sport. Ngày 1 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2013. 
  15. ^ “West Brom 2–2 Aston Villa”. BBC Sport. Ngày 19 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2013. 
  16. ^ “Aston Villa 2–1 Bradford (3–4)”. BBC Sport. Ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  17. ^ “Aston Villa 2–1 West Ham”. BBC Sport. Ngày 10 tháng 2 năm 2013. 
  18. ^ “Reading 1–2 Aston Villa”. BBC Sport. Ngày 9 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013. 
  19. ^ “Aston Villa 3–2 QPR”. BBC Sport. Ngày 16 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013. 
  20. ^ “Carrick, Bale, Suarez, Van Persie, Hazard & Mata on PFA shortlist”. BBC Sport. Ngày 19 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013. 
  21. ^ “Aston Villa 6–1 Sunderland”. Ngày 29 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2013. 
  22. ^ “Aston Villa 1–2 Chelsea”. Ngày 11 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013. 
  23. ^ “Christian Benteke: Aston Villa striker signs new deal”. BBC Sport. Ngày 19 tháng 7 năm 2013. 
  24. ^ “Arsenal 1–3 Aston Villa”. BBC Sport. Ngày 21 tháng 8 năm 2013. 
  25. ^ “Chelsea 2–1 Aston Villa”. BBC Sport. Ngày 21 tháng 8 năm 2013. 
  26. ^ “Aston Villa 3–0 Rotherham”. BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2013. 
  27. ^ “Aston Villa 1–2 Newcastle”. BBC Sport. Ngày 14 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  28. ^ “Premier League: Aston Villa striker Christian Benteke faces six weeks out with hip injury”. Sky Sports. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  29. ^ “Aston Villa 0–2 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013. 
  30. ^ “Premier League: Aston Villa's Christian Benteke backed to rediscover top form”. Sky Sports. Ngày 1 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  31. ^ “Aston Villa 1–2 Arsenal”. BBC Sport. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  32. ^ “Liverpool 2–2 Aston Villa”. BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2014. 
  33. ^ “Aston Villa 4–3 West Bromwich Albion”. BBC Sport. Ngày 29 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2014. 
  34. ^ “Aston Villa 4–1 Norwich City”. BBC Sport. Ngày 2 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014. 
  35. ^ “Christian Benteke ruled out of World Cup after rupturing achilles”. ESPN Soccernet. Ngày 3 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014. 
  36. ^ “Aston Villa 0–2 Manchester City”. BBC Sport. Ngày 4 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015. 
  37. ^ Whalley, Mike (ngày 2 tháng 11 năm 2014). “Aston Villa 1–2 Tottenham”. BBC Sport. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015. 
  38. ^ “Crystal Palace 0-1 Aston Villa: Benteke makes the difference”. Goal.com. Ngày 2 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015. 
  39. ^ “Aston Villa 1–1 Manchester United”. BBC Sport. Ngày 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015. 
  40. ^ “Aston Villa 2–1 West Bromwich Albion”. BBC Sport. Ngày 3 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2015. 
  41. ^ “Aston Villa 3–3 QPR”. BBC Sport. Ngày 7 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2015. 
  42. ^ “Tottenham 0-1 Aston Villa”. BBC Sport. Ngày 11 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2015. 
  43. ^ “Aston Villa 2-1 Liverpool”. BBC Sport. Ngày 19 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  44. ^ “Aston Villa 3-2 Everton”. BBC. Ngày 2 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  45. ^ “Benteke and Pearson win Barclays monthly awards”. Premier League. Ngày 8 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  46. ^ “Christian Benteke: Liverpool sign £32.5m Aston Villa striker”. BBC Sport. Ngày 22 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2015. 
  47. ^ “Christian Benteke: Liverpool striker scores in Swindon friendly”. BBC Sport. Ngày 2 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2015. 
  48. ^ “Stoke 0-1 Liverpool”. BBC Sport. Ngày 9 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2015. 
  49. ^ “Liverpool 1-0 Bournemouth”. BBC Sport. Ngày 17 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2015. 
  50. ^ “Anthony Martial: Louis van Gaal praises Man Utd teenager's impact”. BBC Sport. Ngày 12 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2015. 
  51. ^ “Match Report”. BBC Sport. Ngày 25 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2015. 
  52. ^ McNulty, Phil (ngày 31 tháng 10 năm 2015). “Chelsea 1–3 Liverpool”. BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2015. 
  53. ^ Jurejko, Jonathan (ngày 26 tháng 12 năm 2015). “Liverpool 1-0 Leicester”. BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2015. 
  54. ^ “Exeter vs Liverpool team news: Christian Benteke the captain as Jurgen Klopp makes 11 changes”. The Independent. 9 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016. 
  55. ^ “Liverpool v Chelsea: Christian Benteke cancels out Eden Hazard goal at Anfield in Premier League”. Fox Sports. 12 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016. 
  56. ^ “Crystal Palace to raise bid for Christian Benteke to £31.5m with Liverpool striker willing to make Selhurst Park switch”. Daily Mail Online. 4 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016. 
  57. ^ “Christian Benteke: Crystal Palace sign striker from Liverpool for £27m”. BBC Sport. 20 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016. 
  58. ^ “Crystal Palace 2-0 Blackpool”. BBC Sport. 23 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016. 
  59. ^ “Middlesbrough 1 Crystal Palace 2: Christian Benteke and Wilfried Zaha net to end Boro's unbeaten run”. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016. 
  60. ^ “Sunderland 2-3 Crystal Palace”. BBC Sport. 24 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2016. 
  61. ^ Christian Benteke – Thành tích thi đấu FIFA
  62. ^ “Villa finally get their man as £7m striker Benteke pens four-year deal”. Mail Online. Ngày 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013. 
  63. ^ “Belgium's Benteke ruled out of World Cup”. UEFA. Ngày 3 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014. 
  64. ^ “Belgium 5-0 Cyprus”. UEFA. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2015. 
  65. ^ Saffer, Paul (18 tháng 6 năm 2016). “Belgium find best form to beat Ireland”. UEFA. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016. 
  66. ^ Ladyman, Ian (22 tháng 6 năm 2016). “Sweden 0-1 Belgium: Zlatan Ibrahimovic and Co bow out of Euro 2016 as Radja Nainggolan scores screamer in Nice”. Daily Mail. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016. 
  67. ^ “Belgium’s Benteke scores fastest goal in competitive internationals”. The Guardiant. 10 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2016. 
  68. ^ “C. BENTEKE”. Soccerway. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2015. 
  69. ^ Christian Benteke tại National-Football-Teams.com

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]