Sam Allardyce

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sam Allardyce
Allardyce May 2015.jpg
Allardyce đang dẫn dắt West Ham United năm 2015
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Samuel Allardyce[1]
Ngày sinh 19 tháng 10, 1954 (64 tuổi)[1]
Nơi sinh Dudley, Anh
Chiều cao 6 ft 3 in (1,91 m)[2]
Vị trí Hậu vệ
CLB trẻ
1968–1969 Dudley Town
1969–1971 Bolton Wanderers
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1971–1980 Bolton Wanderers 184 (21)
1980–1981 Sunderland 25 (2)
1981–1983 Millwall 63 (2)
1983 Tampa Bay Rowdies 11 (1)
1983–1984 Coventry City 28 (1)
1984–1985 Huddersfield Town 37 (0)
1985–1986 Bolton Wanderers 14 (0)
1986–1989 Preston North End 90 (2)
1989–1991 West Bromwich Albion 1 (0)
1991–1992 Limerick 23 (3)
1992 Preston North End 3 (0)
Tổng cộng 479 (32)
Huấn luyện
1991–1992 Limerick (cầu thủ-huấn luyện viên)
1992 Preston North End (trợ lý huấn luyện viên)
1994–1996 Blackpool
1997–1999 Notts County
1999–2007 Bolton Wanderers
2007–2008 Newcastle United
2008–2010 Blackburn Rovers
2011–2015 West Ham United
2015–2016 Sunderland
2016 Anh
2016–2017 Crystal Palace
2017– Everton
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Samuel "Sam" Allardyce ( /ˈælərds/) (sinh ngày 19 tháng 10 năm 1954), được biết đến với biệt danh "Big Sam", là một cựu cầu thủ chuyên nghiệp và huấn luyện viên bóng đá người Anh. Ông từng là huấn luyện viên trưởng đội tuyển Anh trong 67 ngày năm 2016. Ông hiện đang là huấn luyện viên trưởng cho câu lạc bộ Everton ở giải Ngoại hạng Anh.

Allardyce đã có tổng cộng 578 lần ra sân trong 21 năm sự nghiệp, chủ yếu tại giải bóng đá quốc gia Anh cũng như một khoảng thời gian ngắn tại Giải bóng đá Bắc MỹGiải bóng đá vô địch Scotland. Là một trung vệ mạnh mẽ, ông sở hữu những kĩ năng chơi đầu và phán đoán bóng tốt. Ông được Bolton Wanderers ký hợp đồng từ Dudley Town năm 1969 và trải qua chín năm ở Bolton, giúp đội bóng đoạt danh hiệu giải hạng hai trong mùa 1977-78. Trong thập niên 1980 ông trải qua thời gian làm cầu thủ đá thuê cho Sunderland, Millwall, Tampa Bay Rowdies, Coventry City, Huddersfield Town, Bolton Wanderers (đầu quân lần thứ hai), Preston North EndWest Bromwich Albion (đồng thời làm trợ lý huấn luyện viên). Trong thời gian này ông còn giúp Preston thăng hạng lên giải hạng bốn trong mùa 1986-87.

Allardyce đã bị chỉ trích vì những cáo buộc hối lộ và hai lần là đối tượng của các cuộc điều tra bí mật. Tháng 9 năm 2006, ông và con trai Craig bị dính líu vào một tài liệu của chương trình Panorama thuộc BBC với những vụ hối lộ nhưng cả hai đều lên tiếng phủ nhận. Tháng 9 năm 2016, những phóng viên bí mật của Daily Telegraph đóng giả doanh nhân đã ghi âm lại sự thương lượng của ông để giúp họ lách luật quyền sở hữu bên thứ ba của FA và đồng ý một bản hợp đồng tạm thời lên tới 400,000 £.[3] Ngay sau cuộc điều tra của Daily Telegraph, Allardyce đã từ chức huấn luyện viên trưởng theo một thỏa thuận chung với Liên đoàn bóng đá Anh vào ngày 27 tháng 9.[4]

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Samuel Allardyce sinh vào tháng 10 năm 1954 trong một ngôi nhà hội đồng tại Old Park Farm Estate, Dudley, là con trai của Robert Allardyce (1916–1989) và Mary Agnes Allardyce (1918–1991). Cha ông là một sĩ quan cảnh sát.[5] Cả cha mẹ ông đều có gốc từ Scotland với cha từ Naim và mẹ từ Dumfries.[6] Ông có một người chị là Mary sinh ra ở Scotland vào năm 1939 và một người anh trai là Robert junior sinh năm 1951. Allardyce được học tại Trường tiểu học Sycamore Green và sau đó là Trường Mons Hill, nhưng đã không thành phố trong kì thi Eleven plus. Sau này ông phát hiện ra mình bị mắc chứng khó đọc.[7] Khi còn nhỏ ông ủng hộ Wolverhampton Wanderers và mơ rằng một ngày ông sẽ chơi và huấn luyện đội bóng.[8]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bolton Wanderers[sửa | sửa mã nguồn]

Allardyce đã dành tuổi trẻ để chơi cho đội bóng bán chuyên Dudley Town, có trận ra mắt tuổi 14 và anh nhanh chóng học được cách chơi vị trí trung vệ tại trường trung học thể chất West Midlands (Regional) League.[9] Ông được huấn luyện với các câu lạc bộ Football League địa phương là West Bromwich Albion và Wolverhampton Wanderers, và đã chơi thử không thành công với Aston Villa.[10] Anh được Bolton Wanderers phát hiện ngay trước rời trường tuổi 15 và ký hợp đồng học việc với câu lạc bộ.[11] Để bổ sung vào thu nhập trước khi chính thức bắt đầu sự nghiệp học việc, anh đã làm việc trong một nhà máy sản xuất máy hát.[12] Lứa U18 của Bolton rất thành công khi giành cúp Lancashire Youth và tiến tới các trận tứ kết của FA Youth Cup, và Allardyce nhanh chóng vượt qua đội B để vào đội A.[13] Anh ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên vào sinh nhật thứ 17, nhận được phí hợp đồng 125£ và được trả 14£ một tuần.[14]

Huấn luyện viên Jimmy Armfield trao cho Allardyce trận ra mắt cho "Trotters" vào ngày 6 tháng 3 năm 1973, trong trận thua 2-1 tại Cúp liên đoàn trước Millwall tại Burnden Park.[15] Anh có trận ra mắt giải hạng hai mười một ngày sau trong trận thua 2-1 trước Notts County.[15] Tuy nhiên anh đã thất bại trong việc cạnh tranh một suất đá trong đội hình chính dưới thời Armfield, và chỉ bắt đầu chơi nhiều hơn dưới Triều đại huấn luyện viên mới Ian Greaves, người cho anh đá mười trận cuối mùa 1974–75 sau khi bán Don McAllister cho Tottenham Hotspur.[16] Anh đã gây ấn tượng trong khoảng thời gian ngắn này và đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất mùa của câu lạc bộ.[17]

Sunderland và Millwall[sửa | sửa mã nguồn]

Allardyce được huấn luyện viên của Norwich CityJohn Bond đề nghị một bản hợp đồng, nhưng Colin Addison tại Derby County đã đưa ra một lời đề nghị hấp dẫn hơn và anh cân nhắc đồng ý một bản hợp đồng ba năm với Derby.[18] Tuy nhiên trước khi đặt bút ký hợp đồng anh lại nhận được một lời đề nghị muộn từ Ken Knighton để chơi cho Sunderland theo bản hợp đồng 300£ một tuần với mức phí 20,000£ - gấp bốn lần so với mức lương của anh tại Bolton.[18] Sau đó Knighton chọn anh làm đội trưởng đội bóng.[19] Tuy nhiên Allardyce sớm trở nên mệt mỏi bởi chuyến đi đường dài từ Sunderland đến nhà anh ở Bolton, và đã đưa ra đề nghị chuyển nhượng khi chủ tịch Tom Cowie từ chối giúp hỗ trợ tài chính để mua nhà ở Sunderland.[20] Cowie sa thải Knighton vào cuối mùa 1980-81 và để trợ lý huấn luyện viên Mick Docherty tiếp quản băng ghế chỉ đạo để đưa đội bóng thoát khỏi khu vực xuống hạng của giải Hạng nhất.[21] Huấn luyện viên mới Alan Durban đã loại Allardyce khỏi đội hình xuất phát, và việc anh rời khỏi Roker Park là không thể tránh khỏi.[21]

Sự nghiệp sau đó[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi trở về Anh từ Tampa Bay Rowdies, anh gia nhập Coventry City tại giải Hạng nhất của Bobby Gould với một bản hợp đồng một năm với mức lương 300£ một tuần.[22] Anh được chọn làm đội trưởng, và mặc dù Coventry khởi đầu tốt vào nửa đầu mùa 1983–84 nhưng họ vẫn chơi tệ trong giai đoạn hai của mùa và chỉ kết thúc với vị trí hơn hai điểm so với nhóm xuống hạng sau khi đánh bại Norwich City vào ngày hạ màn của mùa giải.[23] Gould từng hứa với Allardyce một bản hợp đồng hai năm mới, nhưng sau kết thúc mùa giải nghèo nàn ông lại quyết định giải phóng anh.[24]

Allardyce được đề nghị một cơ hội gia nhập Tranmere Rovers, nhưng thay vào đó anh lại gia nhập Preston North End sau khi bị huấn luyện viên trưởng đội bóng này là John McGrath thuyết phục, người hứa sẽ làm Allardyce trở thành trụ cột của đội bóng.[25] Preston giành quyền thăng hạng khỏi giải Hạng bốn với vị trí thứ hai trong mùa 1986–87 (Allardyce cũng có tên trong đội hình PFA tiêu biểu của năm) và củng cố suất chơi tại giải Hạng ba với kết thúc ở vị trí thứ 16 trong mùa 1987–88.[26][27] Đến lúc này Allardyce bắt đầu cân nhắc quyết định giã từ sự nghiệp chơi bóng, anh thử việc ở vị trí huấn luyện tại York CityNotts County, đồng thời có một buổi phỏng vấn không thành công với Doncaster Rovers.[27]

Phong cách chơi bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Các cổ động viên của Bolton đặt biệt danh cho anh là "Siêu Người máy Sam" (Super Sam Bionic Man) bởi những pha tắc bóng cứng rắn và cách anh nhanh chóng đứng dậy sau những pha va chạm mạnh trong khi cầu thủ đối phương vẫn đang nằm trên đất.[28] Cựu huấn luyện viên Dave Bassett, một người bạn của Sam, từng một lần hài hước nhận xét rằng "Anh ấy là những gì mà tôi gọi là hậu vệ chơi bóng... Nếu anh đang không chơi với trái bóng nghĩa là anh ta đang chơi với những trái bóng của bạn."[29] Anh không thoải mái trong việc cầm bóng và chơi bóng đơn giản với người đồng đội gần nhất của mình, trong khi các đồng đội không sẵn sàng chuyền bóng cho anh.[28] Tuy nhiên anh có những nhận thức và kĩ năng chơi đầu tốt, đồng thời phán đoán của anh cũng bù đắp cho sự thiếu tốc độ.[30]

Sự nghiệp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Allardyce được thuê làm cầu thủ kiêm huấn luyện viên bởi Brian Talbot tại West Bromwich Albion vào tháng 2 năm 1989.[31] Ông dành phần lớn quãng nghỉ trong mùa 1988–89 tại The Hawthorns để huấn luyện và chơi cho đội dự bị, trước khi được thăng chức làm huấn luyện viên đội một, bởi cựu huấn luyện viên đội một là Stuart Pearson bị giáng chức làm huấn luyện viên đội dự bị.[32] Allardyce và Talbot đều bị sa thải vào tháng 1 năm 1991 sau thất bại trước đội bóng của Isthmian LeagueWorking tại Cúp FA.[33] Sau đó ông làm công tác huấn luyện bán chuyên tại Bury, nhưng huấn luyện viên Mike Walsh không đủ khả năng để giữ ông trên băng ghế huấn luyện cho mùa 1989–90.[34]

Sau đó Allardyce đảm nhân vai trò cầu thủ kiêm huấn luyện viên của Limerick, dẫn dắt đội bóng thăng hạng lên Giải vô địch quốc gia Ireland sau khi giành chiến thắng tại giải Hạng nhất. Họ đã đạt thành tích thăng hạng bất chấp những áp lực tài chính lớn, khi Allardyce vừa huấn luyện vừa chơi cho đội một.[35]

Blackpool[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 1994, kình địch của Preston North End trong Derby Tây Lancashire derbyBlackpool bổ nhiệm Allardyce làm huấn luyện viên mới sau sự ra đi của Billy Ayre, đồng ý mức lương 18,000£ một năm.[36] Ông ký hợp đồng với hậu vệ Darren Bradshaw, tiền vệ Micky Mellon và chi ra số tiền kỷ lục 245,000£ của câu lạc bộ cho Andy Morrison, người Allardyce miêu tả là một trung vệ "kinh khủng trên mặt bạn" và "một máy quét toàn diện".[37] Ông cũng thay đổi đội ngũ huấn luyện khi thuê Bobby Saxton làm trợ lý của mình, thăng chức cho cầu thủ Phil Brown lên vai trò huấn luyện, đồng thời bổ nhiệm Mark Taylor làm nhân viên y tế, người sẽ theo chân Allardyce đến Blackburn và Newcastle sau này.[38] Blackpool kết thúc mùa 1994-95 với vị trí thứ 12 sau khi bị loại khỏi cuộc đua thăng hạng với chỉ một chiến thắng trong 11 trận cuối cùng.[38]

Ông chi 200,000£ cho tiền đạo Andy Preece, đồng thời mang về hậu vệ trẻ Jason Lydiate và thủ môn Steve Banks cho mùa 1995–96.[39] Blackpool kết thúc ở vị trí thứ ba, bỏ lỡ cơ hội tự quyết thăng hạng trong ngày cuối cùng của mùa giải, và bị đánh bại trong trận bán kết play-off bởi Bradford City.[40] Họ giành chiến thắng 2-0 trên sân khách tại Valley Parade, nhưng để thua 3-0 trong trận lượt về tại Bloomfield Road.[41] Chủ tịch Owen Oyston trong khi vẫn đang ở tù đã sa thải Allardyce sau thất bại trong trận play-off.[42]

Notts County[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 1 năm 1997, Allardyce trở lại bóng đá và làm huấn luyện viên của đội bóng hạng trung ở giải Hạng hai là Notts County.[43] Ông đến quá muộn để giúp đội thoát khỏi xuống hạng trong mùa 1996-97, và trong cuốn tự truyện của mình đã miêu tả cách các cầu thủ "không đáp ứng" được phương pháp huấn luyện của ông khi họ trải qua 18 trận không thắng và áp lực đè nặng lên Allardyce.[44] Tuy nhiên ông vẫn được tại vị và dẫn dắt câu lạc bộ thăng hạng với tư cách vô địch giải Hạng ba vào cuối mùa 1997–98, được xây dựng bởi bộ ba hậu vệ và mười chiến thắng liên tiếp trong giai đoạn giữa mùa giải.[45] County phá vỡ một vài kỷ lục của đội bóng và quốc gia khi giành chức vô địch với 19 điểm nhiều hơn đội xếp sau và trở thành đội bóng đầu tiên giành quyền thăng hạng ngay trong tháng 3.[45]

Bolton Wanderers[sửa | sửa mã nguồn]

Allardyce được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Bolton Wanderers sau sự ra đi của Colin Todd, người đã từ chức để phản đối việc bán Per Frandsen khi câu lạc bộ cố gắng để gây quỹ cho Sân vận động Reebok mới.[46] Ông thừa hưởng một đội hình tài năng, bao gồm Eiður Guðjohnsen, Jussi Jääskeläinen, Mark Fish, Claus Jensen, Dean Holdsworth, Bo Hansen, Michael JohansenRicardo Gardner.[47] Tuy nhiên ông bị ép phải bán Andy Todd, con trai của Colin Todd, sau khi anh này đập vỡ quai hàm của trợ lý huấn luyện viên Phil Brown trong phòng thay đồ..[47] Mặc dù đang ở nửa sau bảng xếp hạng khi ông lên nắm quyền, Bolton đã tiến tới trận playoff giải Hạng nhất mùa 1999–2000 trước khi để thua Ipswich Town, đồng thời có chuỗi trận thành công tới bán kết Cúp Liên đoàn và Cúp FA, chỉ để thua trong trận Chung kết Cúp FA 2000 sau thất bại trên chấm luân lưu trước Aston Villa.[48] Ông đổ lỗi cho trọng tài Barry Knight vì thất bại trong trận playoff, người ông cáo buộc đã chống lại Bolton. Ông đã được câu lạc bộ tưởng thưởng một bản hợp đồng mười năm, dù các điều khoản hợp đồng chỉ bồi thường cho ông một năm nếu ông bị sa thải.[49]

Newcastle United[sửa | sửa mã nguồn]

Allardyce đã được đề nghị đến làm việc tại Manchester City, nhưng đề nghị này đã bị rút lại sau khi đề nghị mua lại câu lạc bộ của tỷ phú người Thái Thaksin Shinawatra thành công.[50] Ngày 15 tháng 5 năm 2007, Newcastle United công bố Allardyce đã ký một bản hợp đồng ba năm để kế nhiệm Glenn Roeder làm huấn luyện viên đội bóng..[51] Trớ trêu thay Newcastle sau đó cũng có sự thay đổi về chủ sở hữu, khi Mike Ashley lên nắm quyền tiếp quản câu lạc bộ. Mức giá của Scott ParkerKieron Dyer nâng lên 13 triệu £, cho phép Allardyce ký hợp đồng với tiền đạo quốc tế người Úc Mark Viduka (giá miễn phí), Alan Smith (6 triệu £), tiền vệ Geremi Njitap, tiền vệ gây tranh cãi Joey Barton (5.5 triệu £), hậu vệ trái José Enrique (6.3 triệu £), hậu vệ phải Habib Beye (2 triệu £) và hậu vệ Abdoulaye Faye.[52] Newcastle có khởi đầu tốt vào mùa giải mới khi đánh bại đội bóng cũ của Allardyce Bolton 3-0 trong ngày mở màn trong chuỗi năm trận thắng và hai trận hòa sau chín trận đầu mùa.[53]

Blackburn Rovers[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 12 năm 2008, Allardyce được bổ nhiệm làm huấn luyện viên Blackburn Rovers với bản hợp đồng ba năm, kế nhiệm Paul Ince rời câu lạc bộ với vị trí thứ 19 và chỉ một chiến thắng sau 17 trận.[54] Trận đầu tiên của Allardyce trên băng ghế chỉ đạo là chiến thắng 3-0 trước Stoke City tại Ewood Park ba ngày sau.[55] Đây là trận đầu tiên trong chuỗi chín trận bất bại. Ông củng cố đội hình bằng việc chi 2 triệu £ cho cầu thủ chạy cánh của Sunderland El Hadji Diouf và mang về hậu vệ Gaël Givet dưới dạng cho mượn từ Marseille.[55] Allardyce kết thúc mùa đầu tiên trên băng ghế huấn luyện với trận hòa 0-0 trước West Bromwich Albion và đạt vị trí thứ 15 trên bảng xếp hạng chung cuộc.[56][57]

West Ham United[sửa | sửa mã nguồn]

Allardyce (phải) làm huấn luyện viên của West Ham United năm 2011.

Allardyce được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ vừa xuống hạng là West Ham United vào ngày 1 tháng 6 năm 2011 và ký một bản hợp đồng hai năm.[58][59] Ông tuyên bố sẽ chơi "thứ bóng đá hấp dẫn" để giúp West Ham trở lại giải Ngoại hạng Anh theo "truyền thống của câu lạc bộ" và bác bỏ tuyên bố rằng ông từng chơi thứ bóng dài ngu ngốc tại đội bóng trước đó.[60] Ông bổ sung nhân sự cho đội bóng gồm Abdoulaye Faye, Kevin Nolan, Joey O'BrienMatt Taylor.[61][62][63][64] Faye, Nolan và O'Brien đều từng chơi dưới Allardyce khi ông còn dẫn dắt Bolton Wanderers trong khi Taylor là một cựu cầu thủ Bolton sau khi Allardyce rời đội bóng này. Ông có tiền đạo tân binh thứ năm cho West Ham là John Carew dưới dạng chuyển nhượng tự do, kế tiếp là hậu vệ George McCartney từ Sunderland với bản hợp đồng cho mượn dài hạn, tiền đạo Sam Baldock từ Milton Keynes Dons và tiền vệ Papa Bouba Diop theo dạng chuyển nhượng tự do.[65][66][67][68] Ông kết thúc kì chuyển nhượng mùa hè vào ngày chót bằng việc mang về hai tiền vệ David Bentley từ Tottenham HotspurHenri Lansbury từ Arsenal đều dưới dạng cho mượn dài hạn, cũng như cầu thủ dự phòng Guy Demel từ Hamburger với mức phí không được tiết lộ.[69] Nicky Maynard, Ricardo Vaz TêRavel Morrison tiếp tục cập bên đội bóng trong kì chuyển nhượng mùa đông 2011.[70][71][72] Trong suốt mùa bóng 2011-12 có tổng cộng 25 cầu thủ rời câu lạc bộ trong khi 19 tân binh gia nhập đội bóng.[73]

Sunderland[sửa | sửa mã nguồn]

Allardyce (trái) huấn luyện Sunderland vào tháng 5 năm 2016.

Ngày 9 tháng 10 năm 2015, Allardyce trở thành huấn luyện viên mới của Sunderland thay thế Dick Advocaat.[74] Khi Allardyce được bổ nhiệm, Sunderland đang đứng ở vị trí thứ 19 trên bảng xếp hạng với vỏn vẹn ba điểm sau tám trận đầu tiên của mùa bóng.[74] Sau khi ký bản hợp đồng hai năm, ông trở thành huấn luyện viên đầu tiên từng dẫn dắt cả Newcastle United và Sunderland.[75][76] Vào ngày 25 tháng 10, trong trận thứ hai trên cương vị huấn luyện, ông đã giúp Sunderland thắng đậm 3-0 trước kình địch và đội bóng cũ Newcastle United.[77] Tuy nhiên sau 5 trân thua liên tiếp trong tháng 12, Sunderland rơi xuống nửa sau của bảng xếp hạng và nằm trong khu vực xuống hạng với chỉ 12 điểm sau 19 trận đã đấu.[78]

Tuyển Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 7 năm 2016, Allardyce ký một bản hợp đồng hai năm để trở thành huấn luyện viên trưởng của đội tuyển Anh.[79] Ông thắng trận đầu tiên trên cương vị huấn luyện vào ngày 4 tháng 9, khi bàn thắng phút bù giờ của Adam Lallana là đủ để đánh bại Slovakia trong trận mở màn vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.[80] Ngay sau những cáo buộc nhận hối lộ, Allardyce đã từ chức theo thỏa thuận chung vào ngày 27 tháng 9, sau khi dẫn dắt tuyển Anh chỉ trong 67 ngày và một trận thắng.[4]

Crystal Palace[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 12 năm 2016, Allardyce ký hợp đồng có thời hạn 2 năm rưỡi với Crystal Palace, sau khi đội bóng này sa thải Alan Pardew.[81] Ông đã giúp đội bóng đánh bại lần lượt Chelsea (2-1),[82], Arsenal (3-0)[83] và Liverpool (2-1)[84] trước khi đánh bại Hull City với tỷ số 4-0 để trụ hạng Premier League.[85] Sau mùa giải 2016-17 Allardyce tuyên bố nghỉ hưu.[86][87]

Everton[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi sa thải Ronald Koeman, ngày 30 tháng 11 năm 2017 Everton bổ nhiệm Allardyce làm huấn luyện viên trưởng.[88] Ông đã giúp đội bóng này leo lên nửa trên bảng xếp hạng sau những kết quả bết bát hồi đầu mùa giải.[89]

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Vai trò cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Allardyce làm huấn luyện viên của West Ham United năm 2014.
Câu lạc bộ Mùa giải Hạng đấu Giải đấu Cúp FA Khác[A] Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Bolton Wanderers 1973–74 Hạng hai 7 0 1 0 1 0 9 0
1974–75 Hạng hai 18 3 0 0 0 0 18 3
1975–76 Hạng hai 40 5 6 1 1 0 47 6
1976–77 Hạng hai 41 6 0 0 13 0 54 6
1977–78 Hạng hai 41 4 4 0 6 1 51 5
1978–79 Hạng nhất 20 1 0 0 5 0 25 1
1979–80 Hạng nhất 17 2 4 1 2 2 23 5
Tổng cộng 184 21 15 2 28 3 227 26
Sunderland 1980–81 Hạng nhất 25 2 0 0 2 0 27 2
Millwall 1981–82 Hạng ba 36 1 4 2 1 0 41 3
1982–83 Hạng ba 27 1 1 0 8 0 36 1
Tỏng cộng 63 2 5 2 9 0 77 4
Tampa Bay Rowdies[90] 1983 North American Soccer League 11 1 0 0 0 0 11 1
Coventry City 1983–84 Hạng nhất 28 1 1 0 3 0 32 1
Huddersfield Town 1984–85 Hạng hai 37 0 3 0 2 0 42 0
Bolton Wanderers 1985–86 Hạng ba 14 0 0 0 3 0 17 0
Preston North End 1986–87 Fourth Division 37 2 5 0 7 1 49 3
1987–88 Hạng ba 39 0 2 0 5 1 46 1
1988–89 Hạng ba 14 0 2 0 5 0 21 0
Tổng cộng 90 2 9 0 17 2 116 4
West Bromwich Albion 1989–90 Hạng hai 1 0 0 0 0 0 1 0
1990–91 Hạng hai 0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng cộng 1 0 0 0 0 0 1 0
Limerick 1991–92 Giải hạng nhất vô địch Ireland 23 3 0 0 0 0 23 3
Preston North End 1992–93 Hạng hai 3 0 2 0 0 0 5 0
Tổng cộng sự nghiệp 479 32 35 5 64 5 578 42
A. ^ Cột "Khác" nhằm chỉ số lần ra sân và số bàn thắng tại Cúp Liên đoàn, Football League Trophy, và Full Members Cup.

Vai trò huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 27 tháng 9 năm 2016
Thống kê huấn luyện và đội bóng dẫn dắt
Đội bóng Từ Đến Kỷ lục Chú thích
Số trận Thắng Hòa Thua Tỉ lệ thắng
Preston North End (trợ lý HLV) 30 tháng 9 năm 1992 30 tháng 11 năm 1992 &0000000000000012.00000012 &0000000000000003.0000003 &0000000000000004.0000004 &0000000000000005.0000005 0&0000000000000025.00000025,0 [91][92]
Blackpool 19 tháng 7 năm 1994 29 tháng 5 năm 1996 &0000000000000102.000000102 &0000000000000044.00000044 &0000000000000023.00000023 &0000000000000035.00000035 0&0000000000000043.10000043,1 [93]
Notts County 16 tháng 1 năm 1997 14 tháng 10 năm 1999 &0000000000000145.000000145 &0000000000000056.00000056 &0000000000000039.00000039 &0000000000000050.00000050 0&0000000000000038.60000038,6 [93]
Bolton Wanderers 19 tháng 10 năm 1999 29 tháng 4 năm 2007 &0000000000000371.000000371 &0000000000000153.000000153 &0000000000000104.000000104 &0000000000000114.000000114 0&0000000000000041.20000041,2 [93]
Newcastle United 15 tháng 5 năm 2007 9 tháng 1 năm 2008 &0000000000000024.00000024 &0000000000000008.0000008 &0000000000000006.0000006 &0000000000000010.00000010 0&0000000000000033.30000033,3 [93]
Blackburn Rovers 17 tháng 12 năm 2008 13 tháng 12 năm 2010 &0000000000000090.00000090 &0000000000000032.00000032 &0000000000000024.00000024 &0000000000000034.00000034 0&0000000000000035.60000035,6 [93]
West Ham United 1 tháng 6 năm 2011 24 tháng 5 năm 2015 &0000000000000181.000000181 &0000000000000068.00000068 &0000000000000046.00000046 &0000000000000067.00000067 0&0000000000000037.60000037,6 [93][94]
Sunderland 9 tháng 10 năm 2015 22 tháng 7,2016 &0000000000000031.00000031 &0000000000000009.0000009 &0000000000000009.0000009 &0000000000000013.00000013 0&0000000000000029.00000029,0 [93]
Anh 22 tháng 7 năm 2016 27 tháng 9 năm 2016 &0000000000000001.0000001 &0000000000000001.0000001 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 &0000000000000100.000000100,0 [93]
Crystal Palace 23 tháng 12 năm 2016 23 tháng 5 năm 2017 &0000000000000024.00000024 &0000000000000009.0000009 &0000000000000003.0000003 &0000000000000012.00000012 0&0000000000000037.50000037,5 [93]
Tỏng cộng &0000000000000957.000000957 &0000000000000374.000000374 &0000000000000255.000000255 &0000000000000328.000000328 0&0000000000000039.10000039,1

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Sam Allardyce”. Barry Hugman's Footballers. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2016. 
  2. ^ “Sam Allardyce: If I don't buy at least two players then I fear all our good work will be wasted”. London Evening Standard. 14 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ “Sam Allardyce on the brink of being sacked as England manager after Telegraph investigation”. Daily Telegraph. 27 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ a ă “Sam Allardyce updates LIVE!”. Sky. Sky Sports News. 27 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2016. 
  5. ^ Winter, Henry (24 tháng 10 năm 2014). “Sam Allardyce: West Ham's owners are best I've ever had and deserve this success after not sacking me”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  6. ^ Allardyce 2015, tr. 16
  7. ^ Allardyce 2015, tr. 11
  8. ^ “Q and A Bolton boss Sam Allardyce”. BBC News. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2014. 
  9. ^ Allardyce 2015, tr. 19
  10. ^ Allardyce 2015, tr. 20
  11. ^ Allardyce 2015, tr. 22
  12. ^ Allardyce 2015, tr. 24
  13. ^ Allardyce 2015, tr. 31
  14. ^ Allardyce 2015, tr. 32
  15. ^ a ă Allardyce 2015, tr. 34
  16. ^ Allardyce 2015, tr. 35
  17. ^ Allardyce 2015, tr. 36
  18. ^ a ă Allardyce 2015, tr. 52
  19. ^ Allardyce 2015, tr. 53
  20. ^ Allardyce 2015, tr. 54
  21. ^ a ă Allardyce 2015, tr. 55
  22. ^ Allardyce 2015, tr. 60
  23. ^ Allardyce 2015, tr. 69
  24. ^ Allardyce 2015, tr. 70
  25. ^ Allardyce 2015, tr. 72
  26. ^ Lynch, Tony (1995). The Official P.F.A. Footballers Heroes. Random House. tr. 146. ISBN 0-09-179135-9. 
  27. ^ a ă Allardyce 2015, tr. 76
  28. ^ a ă Allardyce 2015, tr. 37
  29. ^ Taylor, Daniel (13 tháng 2 năm 2001). “Bolton buzzing again as Allardyce builds for future”. theguardian.com. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016. 
  30. ^ Allardyce 2015, tr. 38
  31. ^ Walsh, David; "The Big Interview: Sam Allardyce" TimesOnline.co.uk, 2 January 2005 (Retrieved 25 July 2009)
  32. ^ Allardyce 2015, tr. 79
  33. ^ Allardyce 2015, tr. 81
  34. ^ Allardyce 2015, tr. 85
  35. ^ Allardyce 2015, tr. 90
  36. ^ Allardyce 2015, tr. 98
  37. ^ Allardyce 2015, tr. 99
  38. ^ a ă Allardyce 2015, tr. 100
  39. ^ Allardyce 2015, tr. 101
  40. ^ Allardyce 2015, tr. 102
  41. ^ “Blackpool”. Football Club History Database. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2008. 
  42. ^ Jackson, Jamie (19 tháng 3 năm 2006). “Is Sam the big man for England?”. The Guardian (London). 
  43. ^ Allardyce 2015, tr. 111
  44. ^ Allardyce 2015, tr. 112
  45. ^ a ă Allardyce 2015, tr. 114
  46. ^ Allardyce 2015, tr. 123
  47. ^ a ă Allardyce 2015, tr. 127
  48. ^ Allardyce 2015, tr. 129
  49. ^ Allardyce 2015, tr. 130
  50. ^ Allardyce 2015, tr. 217
  51. ^ “Newcastle name Allardyce as boss”. BBC. 15 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2008. 
  52. ^ Allardyce 2015, tr. 222
  53. ^ Allardyce 2015, tr. 223
  54. ^ Allardyce 2015, tr. 228
  55. ^ a ă Allardyce 2015, tr. 230
  56. ^ “2008–09 Premier League”. ESPN. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2014. 
  57. ^ “Blackburn Rovers v West Bromwich Albion, 24 May 2009”. 11v11.com. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2014. 
  58. ^ “Sam's the man”. West Ham United F.C. 1 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2011. 
  59. ^ Wilson, Jeremy (1 tháng 6 năm 2011). “West Ham appoint former Bolton manager Sam Allardyce on a two-year contract”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2011. 
  60. ^ “Allardyce bemused”. goal.com. 2 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 
  61. ^ “Hammers snap up Faye”. West Ham United F.C. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  62. ^ “Hammers nab Nolan”. West Ham United F.C. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  63. ^ “West Ham sign former Bolton midfielder Joey O'Brien”. BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  64. ^ “West Ham sign Bolton midfielder Matt Taylor”. BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  65. ^ “Carew completes Hammers move”. football.co.uk. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  66. ^ “West Ham sign George McCartney on loan from Sunderland”. BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  67. ^ “Hammers bag Baldock”. West Ham United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  68. ^ “Hammers snap up Papa”. West Ham United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  69. ^ “Hammers grab guy”. West Ham United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  70. ^ “Hammers nick Maynard”. West Ham United F.C. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2016. 
  71. ^ “West Ham United sign Ricardo Vaz Te from Barnsley”. BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  72. ^ “West Ham move for Morrison”. West Ham United F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  73. ^ Allardyce 2015, tr. 260
  74. ^ a ă “Sunderland appoint Sam Allardyce as new manager on two-year deal”. BBC Sport. 9 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2015. 
  75. ^ “Sunderland bổ nhiệm Sam Allardyce: Sự lép vế của các HLV Anh”. Bongda.plus. 10 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016. 
  76. ^ Sam Allardyce is first manager to take charge of both Newcastle and Sunderland after accepting job at Black Cats. Metro.co.uk
  77. ^ “Sunderland 3–0 Newcastle”. BBC Sport. 25 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2015. 
  78. ^ “Sunderland 0-1 Liverpool: Fifth defeat in a row leaves Black Cats deep in the relegation zone”. soccernews.com. 
  79. ^ “Sam Allardyce named England manager by the Football Association”. BBC Sport. 22 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2016. 
  80. ^ McNulty, Phil (4 tháng 9 năm 2016). “Slovakia 0-1 England”. BBC Sport. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2016. 
  81. ^ Ornstein, David (23 tháng 12 năm 2016). “Sam Allardyce appointed Crystal Palace manager as Alan Pardew's successor”. BBC Sport. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2016. 
  82. ^ http://dantri.com.vn/the-thao/chelsea-1-2-crystal-palace-cu-nga-bat-ngo-20170401232038924.htm
  83. ^ http://dantri.com.vn/the-thao/crystal-palace-3-0-arsenal-noi-dau-lon-cua-wenger-20170411054138655.htm
  84. ^ http://bongdaplus.vn/nguoi-cu-benteke-khien-liverpool-om-han-truoc-crystal-palace-1849251704.html
  85. ^ Malyon, Ed (15 tháng 5 năm 2017). “Allardyce put out the flames at Palace, now the rebuilding starts”. The Independent. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2017. 
  86. ^ “Sam Allardyce resigns as Crystal Palace manager after five months”. BBC Sport. 23 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  87. ^ Smith, Phil (23 tháng 5 năm 2017). “Odds slashed on sensational Sunderland return but Big Sam confirms he is to retire from football”. Sunderland Echo. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  88. ^ “Sam Allardyce: New Everton boss signs deal until the summer of 2019”. BBC Sport. 30 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2017. 
  89. ^ Rimmer, Joe (26 tháng 12 năm 2017). “Everton fans argue over Allardyce style after WBA draw”. Liverpool Echo. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2017. 
  90. ^ Allardyce's NASL statistics nasljerseys.com
  91. ^ “Past Managers”. Preston North End F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2011. 
    “Preston: Manager history”. Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2011. 
    “Preston North End 1992–1993: Results”. Statto Organisation. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2011. 
  92. ^ “West Ham manager Sam Allardyce – club-by-club record”. The Daily Telegraph (London). 1 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2016. 
  93. ^ a ă â b c d đ e ê “Managers: Sam Allardyce”. Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016. 
  94. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên West Ham confirm Sam Allardyce's contract will not be renewed

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]