Mark Viduka

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Mark Viduka
Mark Viduka 2005 WCQ.jpg
Viduka lúc thi đấu cho đội tuyển Úc vào năm 2005
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Mark Anthony Viduka[1]
Ngày sinh 9 tháng 10, 1975 (46 tuổi)
Nơi sinh Melbourne, Victoria, Úc
Chiều cao 1,88 m (6 ft 2 in)
Vị trí Tiền đạo
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1992–1993 Viện thể thao bóng đá Úc
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1993–1995 Melbourne Knights 48 (40)
1995–1998 Dinamo Zagreb 84 (40)
1998–2000 Celtic 37 (30)
2000–2004 Leeds United 130 (59)
2004–2007 Middlesbrough 72 (26)
2007–2009 Newcastle United 38 (7)
Tổng cộng 491 (251)
Đội tuyển quốc gia
1993–1994 U-20 Úc
1994–1996 U-23 Úc 18 (17)
1994–2007 Úc 48 (13)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải vô địch quốc gia và chính xác tính đến 09:12, ngày 14 tháng 08 năm 2009 (BST)
‡ Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia và số bàn thắng chính xác tính đến 12:00, ngày 22 tháng 07 năm 2007 (UTC)

Mark Anthony Viduka (/vɪˈdkə/ vih-DOOK sinh ngày 09 tháng 10 năm 1975)[2][3][4][5][6] là cầu thủ bóng đá đã giải nghệ người Úc, trước đây anh chơi ở vị trí trung phong. Anh là đội trưởng đội tuyển ÚcWorld Cup 2006 và cùng với đội tuyển Úc lọt vào vòng 16 đội, đây cũng là thành tích tốt nhất của đội tuyển Úc tính đến thời điểm hiện giờ. Mark Viduka ghi được bốn bàn thắng tại UEFA Champions League và là cầu thủ Úc có số bàn thắng nhiều nhất tại giải đấu này.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Melbourne Knights[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1993, Viduka bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp của mình tại Úc cho câu lạc bộ Melbourne Knights vốn được thành lập bởi những người Croatia sang Úc định cư (cho đến mùa giải 1993 thì câu lạc bộ này được gọi bằng cái tên là Melbourne Croatia) và có được lần đầu khoác áo đội tuyển Úc vào tháng 06 năm 1994. Trong hai mùa giải chơi cho Knights, anh là vua phá lưới của giải vô địch quốc gia Úc (NSL) và hai lần giành giải thưởng Johnny Warren Medal tôn vinh cầu thủ xuất sắc nhất năm của NSL[7] vào mùa giải 1993–941994–95. Trong khoảng thời gian thi đấu cho Melbourne Knights, anh cũng giành được danh hiệu vô địch NSL mùa giải 1994–95. Khán đài chính tại sân vận động Knights, sân nhà của câu lạc bộ Melbourne Knights, đã được đặt tên là "Mark Viduka Stand" để vinh danh những đóng góp của anh dành cho câu lạc bộ cùng số tiền chuyển nhượng đã giúp ban lãnh đạo Melbourne Knights có thể hoàn thành sân vận động này.[8]

Dinamo Zagreb[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1995, Viduka chuyển đến Croatia và chơi cho câu lạc bộ GNK Dinamo Zagreb (nay là Dinamo Zagreb). Anh đã có hơn ba mùa giải chơi cho câu lạc bộ và đã giúp Croatia Zagreb giành được cú ăn hai giải quốc nội trong liên tiếp ba mùa giải từ các năm 1995 đến 1998. Anh cũng cùng với Croatia Zagreb lọt vào vòng ba UEFA Europa League năm 1997 và có lần đầu góp mặt tại vòng bảng UEFA Champions League vào năm sau đó. Viduka được ban tổ chức giải vô địch quốc gia Croatia trao tặng giải thưởng cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất trong thời gian anh thi đấu ở Zagreb.[9]

Celtic[sửa | sửa mã nguồn]

Celtic mua Viduka vào tháng 12 năm 1998 với giá 3.5 triệu Bảng Anh. Và ngay khi vừa ký hợp đồng với anh, Celtic đưa ra thông báo Viduka đã rời khỏi câu lạc bộ mà không thi đấu bất cứ một trận đấu nào với lý do là Viduka cảm thấy stress.[10]

Một tuần sau đó, Croatia Zagreb phàn nàn rằng họ đã không nhận được phí thỏa thuận lúc chuyển nhượng cầu thủ. Những vấn đề này cuối cùng đã được giải quyết và Viduka xuất hiện lần đầu tiên trong màu áo Celtic vào ngày 16 tháng 02 năm 1999, anh ghi bàn cho đội U-21 Celtic với tư cách là một cầu thủ quá tuổi trong chiến thắng 4-2 trước đội Greenock Morton. Sau khi có màn ra mắt đội một trong trận đấu với Dundee United vào ngày 27 tháng 02 năm 1999,[11] những bàn thắng đầu tiên của anh cho câu lạc bộ đến trong trận đấu với Greenock Morton khi anh lập cú đúp vào lưới đội bóng này ở Cúp Scotland vào ngày 08 tháng 03 năm 1999.[12] Anh được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA Scotland mùa Giải bóng đá ngoại hạng Scotland 1999–2000 sau khi ghi được 27 bàn ở mùa giải đầu tiên chơi tại Celtic Park. Viduka được đánh giá là một cầu thủ có kỹ thuật điêu luyện, hậu vệ Josip Šimunić nhận xét Viduka có khả năng cầm bóng tốt và khiến các cầu thủ khác cùng hòa vào lối chơi chung của toàn đội.[13]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Mark Viduka”. Barry Hugman's Footballers.
  2. ^ “Mark Viduka”. ESPN. ngày 14 tháng 8 năm 2002.
  3. ^ “Viduka leaves the asylum”. The Guardian. ngày 20 tháng 11 năm 2000.
  4. ^ “VIDUKA from tantrum to talisman Cartoon strips, dressing room rows and a name change... Australia's captain has come a long way since he walked out on Celtic. Mark Wilson reports”. Herald Scotland. ngày 5 tháng 6 năm 2006.
  5. ^ “Celtic consider Viduka legal move”. BBC. ngày 7 tháng 12 năm 1998.
  6. ^ “Viduka progovorio nakon duge šutnje: Kovač je dobar čovjek, igrači će ga pratiti”. Večernji list (bằng tiếng Serbo-Croatian). ngày 6 tháng 6 năm 2014.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  7. ^ Player Of The Year Awards – OzFootball, accessed ngày 8 tháng 7 năm 2006 Lưu trữ 2006-04-27 tại Wayback Machine
  8. ^ “Former Socceroo captain Mark Viduka will never forget his roots”. Sydney Morning Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
  9. ^ “Mark Viduka Interview”. Socceroos.com. ngày 3 tháng 5 năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2019.
  10. ^ “Viduka rejected Celtic”. BBC Sport. bbc.co.uk. ngày 10 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2008. Viduka enjoyed a successful spell at Parkhead, despite a rocky start which saw him walk out four days after signing due to stress.
  11. ^ “Celtic 2 Dundee United 1”. Sporting Life. ngày 27 tháng 2 năm 1999. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2010.[liên kết hỏng]
  12. ^ McKinney, David (ngày 8 tháng 3 năm 1999). “Viduka goals send Celtic cruising through”. The Independent. London, UK. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2010.
  13. ^ “Viduka to be honoured with Alex Tobin medal”. Theroar.com.au. 9 tháng 12 năm 2010. Truy cập 17 Tháng Một năm 2018.