Radja Nainggolan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Radja Nainggolan
CSKA-Roma (5).jpg
Nainggolan thi đấu cho AS Roma vào năm 2014
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Radja Nainggolan
Ngày sinh 4 tháng 5, 1988 (31 tuổi)
Nơi sinh Antwerp, Bỉ
Chiều cao 1,75 m (5 ft 9 in)
Vị trí Tiền vệ trung tâm
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Cagliari
(mượn từ Inter Milan)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2000–2005 Germinal Beerschot
2005–2007 Piacenza
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2006–2010 Piacenza 71 (4)
2010Cagliari (cho mượn) 7 (0)
2010–2014 Cagliari 131 (7)
2014Roma (cho mượn) 17 (2)
2014–2018 Roma 138 (26)
2018– Inter Milan 29 (6)
2019–Cagliari (mượn) 0 (0)
Đội tuyển quốc gia
2004 U-16 Bỉ 1 (0)
2007 U-19 Bỉ 2 (0)
2008–2009 U-20 Bỉ 2 (0)
2007–2010 U-21 Bỉ 13 (1)
2009–2018 Bỉ 29 (6)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 20 tháng 5 năm 2018

Radja Nainggolan (sinh ngày 4 tháng 5 năm 1988) là cầu thủ bóng đá người Bỉ gốc Indonesia đang thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm cho câu lạc bộ Cagliari theo dạng cho mượn từ Inter Milan.

Anh có biệt danh là Il Ninja,[1], sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp cấp câu lạc bộ của Nainggolan chỉ bao gồm các đội bóng tại Ý Piacenza, Cagliari, AS RomaInter Milan.

Tháng 5 năm 2009, anh được triệu tập vào đội tuyển Bỉ. Tuy nhiên phải 7 năm sau anh mới cùng đội tuyển Bỉ tham dự giải đấu lớn đầu tiên là Euro 2016 tổ chức tại Pháp. Nainggolan tuyên bố từ giã đội tuyển quốc gia vào tháng 5 năm 2018 khi không được triệu tập tham dự World Cup 2018.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 10 tuổi, Nainggolan thi đấu cho đội bóng địa phương K.F.C. Germinal Beerschot.[2] Sau đó, anh được một tuyển trạch viên người Thụy Sĩ Alessandro Beltrami phát hiện tài năng và đưa đến Ý thi đấu cho Piacenza tại giải Serie B vào năm 2005.[3] Sau bốn năm thi đấu tại Serie B, anh đã chuyển đến câu lạc bộ Cagliari tại giải Serie A.[4]

Cagliari[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 1 năm 2010, Nainggolan được đem cho mượn tại câu lạc bộ Cagliari Calcio[5], với điều khoản cho phép đội bóng vùng Sardinia có quyền mua anh sau khi kết thúc mùa giải. Anh có trận đấu đầu tiên tại giải đấu cao nhất nước Ý vào ngày 7 tháng 2, trong trận thua Inter Milan 3-0.

Ngày 21 tháng 6 năm 2010, Cagliari chính thức mua Nainggolan. Ngày 29 tháng 9 năm 2013, anh ghi bàn từ cú sút xa giúp Cagliari giành lại 1 điểm trước Inter Milan.[6] Tháng 10 năm 2013, sau ba mùa bóng thường xuyên thi đấu ở vị trí chính thức, hợp đồng giữa anh và Cagliari được gia hạn đến năm 2016.[7] Anh đã có tổng cộng 7 bàn thắng cho Cagliari tại Serie A sau 131 lần ra sân trước khi đến AS Roma vào tháng 1 năm 2014.[8]

AS Roma[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 1 năm 2014, Nainggolan được đem cho mượn tại AS Roma với mức phí 3 triệu € và đội bóng thủ đô được quyền ưu tiên mua anh với mức phí 6 triệu € vào năm sau.[9]

Nainggolan có trận đấu đầu tiên cho Roma vào ngày 9 tháng 1 năm 2014, trong chiến thắng 1–0 trước U.C. Sampdoria tại Coppa Italia.[10] Ngày 22 tháng 2 năm 2014, Nainggolan có bàn thắng đầu tiên cho AS Roma và đó cũng là bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Bologna.[11] Bàn thắng thứ hai, vào ngày 19 tháng 4, cũng là bàn thắng duy nhất giúp Roma thắng ACF Fiorentina và có được suất tham dự UEFA Champions League vào mùa sau.[12]

Ngày 14 tháng 12 năm 2014, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Genoa tại Serie A.[13]

Trong trận đấu đầu tiên của Roma tại UEFA Champions League 2015-16 với Barcelona, Nainggolan đã có pha vào bóng từ phía sau khiến cầu thủ Rafinha của đối phương bị rách dây chằng đầu gối và nghỉ thi đấu đến hết giải.[14] Ngày 25 tháng 3 năm 2016, anh ghi bàn thắng ở phút 85 giành lại 1 điểm cho Roma trước Inter Milan tại vòng đấu thứ 30 Serie A.[15]

Ngày 18 tháng 11 năm 2017, Nainggolan có cú sút thành bàn từ ngoài vòng cấm giúp Roma giành chiến thắng 2-1 trước Lazio trong trận derby thành Rome.[16] Trong trận bán kết lượt đi UEFA Champions League 2017-18 với Liverpool, Nainggolan là người châm ngòi cho cả hai bàn vào lưới Liverpool nhưng Roma đã để thua đậm đội bóng Anh 5-2.[17] Trong trận lượt về sau đó một tuần, anh đã bất cẩn tạo điều kiện cho Liverpool mở tỉ số nhưng đã lập cú đúp ở những phút cuối, trong đó có một quả phạt đền giúp Roma giành chiến thắng 4-2, nhưng thua chung cuộc 7-6.[18]

Inter Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 6 năm 2018, Nainggolan ký hợp đồng với Inter Milan sau khi hoàn thành vụ chuyển nhượng trị giá 33 triệu £ (trong đó Inter trả 21 triệu £ cùng với hai cầu thủ Davide SantonNicolò Zaniolo).[19]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Nainggolan có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển Bỉ vào ngày 29 tháng 5 năm 2009 gặp Chile tại Cúp Kirin. Tuy nhiên gần 5 năm sau đó, anh mới có bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Bỉ trong trận giao hữu hòa 2-2 với Bờ Biển Ngà.[12] Ngày 13 tháng 5 năm 2014, Nainggolan được đưa vào đội hình sơ bộ tham dự World Cup 2014[20] nhưng sau cùng đã bị loại khỏi danh sách 23 cầu thủ cuối cùng.

Trong suốt vòng loại Euro 2016, Nainggolan có mặt trong 9/10 trận vòng loại[4], ghi được hai bàn thắng trong các trận đấu với Bosnia và Herzegovina[21]Andorra.[22] Kết thúc vòng loại, đội tuyển Bỉ giành quyền tham dự giải vô địch châu Âu sau 16 năm vắng bóng.

Nainggolan có tên trong danh sách 23 tuyển thủ Bỉ tham dự Euro 2016 tại Pháp.[23] Anh có trận đấu đầu tiên tại một giải đấu quốc tế lớn vào ngày 13 tháng 6, trong trận thua 2-0 trước Ý. Sau khi chỉ được vào sân từ ghế dự bị trong chiến thắng 3-0 trước CH Ireland, anh trở lại đội hình xuất phát trong trận cuối cùng vòng bảng với Thụy Điển và ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu từ một cú sút xa.[24] Trong trận đấu tứ kết với Wales, anh giúp Bỉ vươn lên dẫn trước từ sớm bằng một cú sút xa đẹp mắt nhưng chung cuộc Bỉ đã để thua ngược 1–3.[25]

Sau khi không được triệu tập vào đội tuyển Bỉ tham dự World Cup 2018 tại Nga, Radja Nainggolan chia tay đội tuyển quốc gia sau 9 năm gắn bó, tổng cộng anh đã thi đấu 29 trận và ghi được 6 bàn thắng.[26]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội hình xuất sắc nhất năm của Serie A: 2014–15[27]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 26 tháng 5 năm 2019[28][29]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Piacenza 2005–06 Serie B 1 0 0 0 1 0
2006–07 1 0 0 0 1 0
2007–08 10 0 1 0 11 0
2008–09 38 3 1 0 39 3
2009–10 21 1 1 0 22 1
Tổng cộng 71 4 3 0 74 4
Cagliari 2009–10 Serie A 7 0 0 0 7 0
2010–11 36 2 2 0 38 2
2011–12 37 1 2 0 39 1
2012–13 34 2 1 0 35 2
2013–14 17 2 1 0 18 2
Tổng cộng 131 7 6 0 137 7
Roma 2013–14 Serie A 17 2 3 0 20 2
2014–15 35 5 2 0 9 0 46 5
2015–16 35 6 0 0 7 0 42 6
2016–17 36 11 4 2 12 1 46 15
2017–18 31 4 0 0 11 2 42 6
Tổng cộng 155 28 9 2 39 3 203 33
Inter Milan 2018–19 Serie A 29 6 1 0 6 1 36 7
Tổng cộng sự nghiệp 376 45 19 2 45 4 450 51

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 27 tháng 3 năm 2018[30]
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Bỉ 2009 1 0
2011 1 0
2012 1 0
2013 1 0
2014 4 2
2015 9 2
2016 9 2
2017 3 0
2018 1 0
Tổng cộng 30 6

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 2 tháng 7 năm 2016[30]
# Ngày Địa điểm Phút Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 5 tháng 3 năm 2014 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Bruxelles, Bỉ 5  Bờ Biển Ngà 2–0 2–2 Giao hữu
2 13 tháng 10 năm 2014 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina 8  Bosna và Hercegovina 1–1 1–1 Vòng loại Euro 2016
3 7 tháng 6 năm 2015 Stade de France, Paris, Pháp 11  Pháp 3–0 4–3 Giao hữu
4 10 tháng 10 năm 2015 Sân vận động quốc gia Andorra, Andorra la Vella, Andorra 15  Andorra 1–0 4–1 Vòng loại Euro 2016
5 22 tháng 6 năm 2016 Allianz Riviera, Nice, Pháp 22  Thụy Điển 1–0 1–0 Euro 2016
6 2 tháng 7 năm 2016 Sân vận động Pierre-Mauroy, Lille, Pháp 13  Wales 1–0 1–3 Euro 2016

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nainggolan sinh tại Antwerp, Bỉ, có mẹ là người Bỉ và cha là người Indonesia. Cha anh đã bỏ rơi sáu mẹ con khi anh chỉ mới 5 tuổi. Mẹ anh sau đó đã phải làm nhiều việc để kiếm sống và nuôi những đứa con.[31] Mẹ Nainggolan, bà Lizy Bogaerts, mất năm 2010 vì ung thư[32] và anh đã xăm ngày sinh và ngày mất của mẹ mình lên lưng để tưởng nhớ bà.[33]

Nainggolan có khả năng nói được bốn thứ tiếng là tiếng Hà Lan, tiếng Ý, tiếng Anhtiếng Pháp.[34]

Ngày 19 tháng 11 năm 2015, khi đang đi nghỉ mát tại Antwerp cùng gia đình, một số vị khách ở cùng khách sạn với Nainggolan đã gọi điện báo cảnh sát vì cho rằng anh có vẻ ngoài giống khủng bố. Cuối cùng sự hiểu lầm đã được giải quyết.[35][36] Tháng 3 năm 2016, anh may mắn không trở thành nạn nhân của vụ khủng bố tại Brussels khi anh đổi chuyến bay vào phút cuối cùng để không có mặt tại Brussels khi vụ nổ bom diễn ra.[37]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ora il Belgio rivuole il suo Ninja Nainggolan convocato in nazionale” [Now Belgium wants their Ninja Nainggolan back in national team]. L'Unione Sarda (bằng tiếng Italian). 5 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  2. ^ “Radja Nainggolan: The Indonesia icon Serie A have been screaming out for”. Tribal Football. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  3. ^ “Born into poverty, established in Italy, ready for England: meet Radja Nainggolan”. Four Four Two. Ngày 23 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  4. ^ a ă “Would reported Chelsea target Radja Nainggolan suit the Premier League?”. Sky Sports. Ngày 28 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  5. ^ “Nainggolan: "Vengo per migliorare" – "La Serie A è un sogno"” [Nainggolan: "I come to improve" – "Serie A is a dream"] (bằng tiếng Ý). Cagliari Calcio. Ngày 27 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  6. ^ “Inter sa lầy, bỏ lỡ cơ hội chiếm ngôi đầu Serie A”. VnExpress. 30 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  7. ^ “Cagliari, Nainggolan: rinnovo e scaramanzia per allontanare le big” [Cagliari, Nainggolan: renewal and good luck to stave off the big] (bằng tiếng Ý). Tutto Mercato Web. Ngày 5 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  8. ^ “AS Roma sign Belgian international Radja Nainggolan”. Sportskeeda. Ngày 8 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  9. ^ “Nainggolan coming to Roma”. UEFA. Ngày 8 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  10. ^ “Coppa Italia, Roma-Sampdoria 1–0, decide Torosidis: c'è la Juventus nei quarti” [Italian Cup, Roma-Sampdoria 1–0, Torosidis decides it: it's Juventus in last-eight] (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Ngày 9 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  11. ^ “Nainggolan's first Roma goal sinks Bologna”. Reuters. Ngày 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  12. ^ a ă “World Cup watch: Lionel Messi, Radamel Falcao & Carlos Tevez”. BBC Sport. Ngày 21 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  13. ^ “Juventus tiếp tục sẩy chân, Roma thừa cơ áp sát”. VnExpress. 14 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  14. ^ “Rafinha nghỉ hết mùa: Chấn thương oanh tạc Nou Camp”. Bóng Đá +. Ngày 18 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  15. ^ “Roma 1-1 Inter Milan”. BBC Sport. Ngày 19 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  16. ^ “Roma hạ Lazio bằng hai bàn ghi trong bốn phút”. VnExpress. 19 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  17. ^ “Salah ghi dấu giày vào bốn bàn, Liverpool đè bẹp Roma”. VnExpress. 25 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  18. ^ “Liverpool vào chung kết Champions League đấu Real”. VnExpress. 3 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  19. ^ “Radja Nainggolan: Roma midfielder joins Inter in £33m swap deal”. BBC Sport. 26 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  20. ^ “Januzaj makes Belgium provisional World Cup squad”. Goal.com. Ngày 13 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  21. ^ “Belgium make point at Bosnia and Herzegovina”. UEFA.com. Ngày 13 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  22. ^ “Belgium stroll past Andorra to qualify”. UEFA.com. Ngày 10 tháng 10 năm 2015. Truy cập 2016. 
  23. ^ “Marc Wilmots unveils Belgium squad for Euro 2016”. Sky Sports. Ngày 31 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  24. ^ “Sweden 0-1 Belgium”. BBC Sport. Ngày 22 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  25. ^ “Wales 3-1 Belgium”. BBC Sport. Ngày 1 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  26. ^ “Radja Nainggolan left out of Belgium World Cup squad”. Sky Sports. 21 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  27. ^ “Oscar del Calcio, dominio Juve. Buffon: "Donnarumma ha doti da grande"” [Serie A Oscars, Juve dominate. Buffon: "Donnarumma has the characteristics to be great"] (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Ngày 14 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  28. ^ “R. Nainggolan”. Soccerway. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2015. 
  29. ^ “Radja Nainggolan”. Footballdatabase. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015. 
  30. ^ a ă “Radja Nainggolan”. Royal Belgian Football Association. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2016. 
  31. ^ “Radja Nainggolan: Cậu bé mồ côi mẹ trong trận chiến Bỉ - Italy”. Vnexpress. Ngày 13 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  32. ^ “Grave lutto per Nainggolan” [Serious mourning for Nainggolan] (bằng tiếng Ý). Tutto Cagliari. Ngày 19 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  33. ^ “Chelsea target Radja Nainggolan is the perfect midfield enforcer to embody Antonio Conte's personality on the pitch... Belgium's 'ninja' is coming to England”. Daily Mail Online. Ngày 4 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  34. ^ “Which Languages are mostly using Football Players”. Savarejo Times. Ngày 2 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  35. ^ “Radja Nainggolan has his photograph taken with police officers sent to arrest him after being reported as a terrorist in Antwerp”. Daily Mail Online. Ngày 20 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  36. ^ “Cầu thủ AS Roma bị nhầm là khủng bố”. Vnexpress. Ngày 20 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 
  37. ^ “Nainggolan fortunate to avoid Brussels attacks”. Goal.com. Ngày 23 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]