Sergio Ramos

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sergio Ramos
Sergio Ramos Euro 2012 vs France 01.jpg
Sergio Ramos trong màu áo Tây Ban Nha năm 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Sergio Ramos García[1]
Ngày sinh 30 tháng 3, 1986 (32 tuổi)
Nơi sinh Camas, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,83 m (6 ft 0 in)
Vị trí Hậu vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Real Madrid
Số áo 4
CLB trẻ
1996–2003 Sevilla
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2003–2004 Sevilla B 26 (2)
2004–2005 Sevilla 39 (2)
2005– Real Madrid 395 (55)
Đội tuyển quốc gia
2002 U17 Tây Ban Nha 1 (0)
2004 U19 Tây Ban Nha 6 (0)
2004 U21 Tây Ban Nha 6 (0)
2005– Tây Ban Nha 158 (14)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 1 tháng 9 năm 2018.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 11 tháng 9 năm 2018

Sergio Ramos García (sinh ngày 30 tháng 3 năm 1986 tại Camas, Sevilla) được biết đến nhiều nhất với tên Sergio Ramos, là một cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha. Anh hiện chơi tại vị trí hậu vệ và hiện đang là đội trưởng của CLB Real Madridđội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Ramos từng có một thời rèn luyện tại tuyển trẻ Sevilla.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Sevilla[sửa | sửa mã nguồn]

Ramos bắt đầu sự nghiệp ở vị trí hậu vệ cánh phải, đây cũng là vị trí thường trụ của anh trong thời kỳ đầu của sự nghiệp cầu thủ. Sau 2 năm chơi bóng tại La Liga, với Sevilla, anh thể hiện được khả annanjakaj thủ.

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid ký hợp đồng với Ramos sau khi giao cho Sevilla 27 triệu Euro vào mùa hè năm 2005 [2]. Cuộc chuyển nhượng biến anh thành cầu thủ dưới 20 tuổi có giá đắt thứ 3 sau Wayne Rooney. Tại Real, anh được mặc áo số 4, số áo của huyền thoại Fernando Hierro một thời.

Ramos ghi bàn thắng đầu tiên tại Champions League trong trận Real Madrid gặp Olympiakos, mà Real đã bị đánh bại với tỉ số 2-1. Anh bắt đầu chơi ở vị trí trung vệ của Real, và còn được sử dụng như một tiền vệ phòng ngự, cánh phải ở một số trường hợp. Cho đến khi có sự xuất hiện của Christoph MetzelderPepe, Ramos chuyển sang cánh phải và giữ vững ở vị trí đó. Mùa giải 2006-07, anh đã có một màn trình diễn rất ấn tượng sau khi tạo cơ hội tốt cho Raúl ghi bàn vào lưới Barcelona tại Santiago Bernabéu, ngay phút thứ hai của trận đấu.

Ramos đã chứng tỏ khả năng ghi bàn của mình tại Madrid vào mùa giải sau với Real, khi ghi 20 bàn thắng trong màu áo Kền kền trắng. Vào một buổi trả lời phỏng vấn với Grada Blanca, anh tiết lộ rằng mình từng chơi ở vị trí tiền đạo khi còn nhỏ[3].

Vào 4 tháng 5 năm 2008, Ramos tạo cơ hội ghi bàn cho Gonzalo Higuain vào phút thứ 89, trong trận gặp Osasuna, đưa Real Madrid lên ngôi vô địch La Liga lần thứ 31.

Bàn thắng thứ 4 và thứ năm của mùa giải được Ramos ghi trong trận đấu cuối mùa với Levante mà Real đã thắng 5-2. Sergio Ramos từ đó đã có ý định chơi ở Real Madrid cho đến hết sự nghiệp.

Vào ngày 13 tháng 7 năm 2008, có tin rằng đội bóng Manchester United đã liên hệ với hậu vệ trẻ này. Anh phát biểu trên đài Radio Canal Sur: "Đó là một cơ hội tốt để đến với câu lạc bộ lớn mà tôi luôn hâm mộ, nhưng vào thời điểm này tôi không muốn bận tâm nhiều. Tôi có một hợp đồng dễ chịu với Madrid và tôi đang tập trung cho đội tuyển quốc gia. Khi World Cup 2010 kết thúc, tôi mới quyết định được." [4].

Kỷ lục về kỷ luật[sửa | sửa mã nguồn]

Ramos giữ kỷ lục bị phạt thẻ đỏ nhiều nhất cho một cầu thủ Real Madrid (24 tính đến cuối năm 2017);[5][6] Trong giải Spanish league anh ta đã bị cho ra khỏi sân 19 lần, vượt qua kỷ lục được Xavier AguadoPablo Alfaro giữ chung.[7]

Sự nghiệp cấp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2004, Ramos là một trong những cầu thủ nổi bật của đội U21 Tây Ban Nha, chơi 6 trận quốc tế. Cho đến 26 tháng 3 năm 2005, năm 19 tuổi, tại Salamanca, anh trở thành cầu thủ trẻ nhất chơi cho đội tuyển Tây Ban Nha trong 55 năm trở lại, ở trận gặp Trung Quốc. Một ít lâu sau kỷ lục này đã bị phá vỡ bởi Cesc Fàbregas.

Anh đã ghi dấu ấn trong sự nghiệp quốc tế của mình trong trận gặp Serbia và Montenegro, một trận đấu vòng loại của World Cup 2006. Ramos được gọi vào đội tham dự World Cup 2006 vào 15 tháng 5 năm 2006, Bởi vì Míchel Salgado vắng mặt, anh trở thành lựa chọn tốt nhất ở vị trí hậu vệ cánh phải.

Tại Euro 2008, anh là một cầu thủ nổi bật của đội tuyển, cùng với những cầu thủ trẻ khác, đã đưa Tây Ban Nha lần thứ 2 lên ngôi vô địch châu Âu sau khi đánh bại Đức 1-0.

Vào ngày 27 tháng 5 năm 2018 (giờ Việt Nam), Sergio Ramos đã có tình huống khóa tay cầu thủ LiverpoolMohamed Salah trong trận chung kết UEFA Champions League 2018 và buộc cầu thủ đó phải rời sân vì chấn thương vai. Sau trận đấu, các fan Liverpool tố Ramos chơi bẩn và pha bẻ vai của đội trưởng Real Madrid với Mohamed Salah chẳng khác nào trong một trận đấu MMA hay vật tự do. Các bác sĩ ở Liverpool xác nhận thủ môn Karius bị chấn thương vùng đầu sau pha giật cùi chỏ của anh trong trận đấu tại Kiev. Không loại trừ đây có thể là nguyên nhân khiến anh thi đấu thiếu tập trung và liên tục mắc sai lầm trong hiệp hai. Bác sĩ Ross Zafonte ở Boston, Mỹ cho biết: "Sau buổi kiểm tra toàn diện, chúng tôi xác nhận Karius phải thi đấu với chấn thương vùng đầu vào ngày 26/5. Cậu ấy có triệu chứng rối loạn thị giác gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chơi bóng".[8]

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 1 tháng 9 năm 2018[9][10]
Câu lạc bộ Giải đấu Mùa giải La Liga Cup1 Châu Âu Khác2 Tổng cộng
Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Sevilla La Liga 2003–04 7 0 0 0 0 0 0 0 7 0
2004–05 31 2 5 0 5 1 0 0 41 3
2005–06 1 0 0 0 0 0 0 0 1 0
Tổng cộng 39 2 5 0 5 1 0 0 49 3
Real Madrid 2005–06 33 4 6 1 7 1 0 0 46 6
2006–07 33 5 3 0 6 1 0 0 42 6
2007–08 33 5 5 1 7 0 0 0 45 6
2008–09 32 4 2 1 8 1 0 0 42 6
2009–10 33 4 0 0 7 0 0 0 40 4
2010–11 31 3 7 1 8 0 0 0 46 4
2011–12 34 3 6 0 11 1 0 0 51 4
2012–13 26 4 5 0 9 1 0 0 40 5
2013–14 32 4 8 0 11 3 0 0 51 7
2014–15 27 4 4 1 8 0 3 2 42 7
2015–16 23 2 0 0 10 1 33 3
2016–17 28 7 3 1 11 1 2 1 44 10
2017–18 26 4 1 0 11 1 4 0 42 5
2018–19 3 2 0 0 0 0 1 1 4 3
Tổng cộng 395 55 43 4 114 11 19 6 569 76
Tổng cộng sự nghiệp 434 57 48 4 120 12 19 6 619 79

1 Bao gồm Supercopa de España.
2 Bao gồm UEFA Super CupFIFA Club World Cup.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 11 tháng 9 năm 2018[11]
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2005 7 2
2006 13 0
2007 10 2
2008 15 0
2009 11 0
2010 16 1
2011 10 1
2012 16 2
2013 17 1
2014 9 1
2015 6 0
2016 9 0
2017 9 3
2018 10 1
Tổng cộng 158 14

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 13 tháng 10 năm 2005 Sân vận động Olimpico, San Marino, San Marino  San Marino 0–3 0–6 Vòng loại World Cup 2006
2. Sân vận động Olimpico, San Marino, San Marino 0–4 0–6
3. 13 tháng 10 năm 2007 Sân vận động Atletion, Aarhus, Đan Mạch  Đan Mạch 0–2 1–3 Vòng loại Euro 2008
4. 17 tháng 11 năm 2007 Sân vận động Santiago Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha  Thụy Điển 3–0 5–0
5. 3 tháng 3 năm 2010 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Pháp 0–2 0–2 Giao hữu
6. 6 tháng 9 năm 2011 Sân vận động Las Gaunas, Logroño, Tây Ban Nha  Liechtenstein 4–0 6–0 Vòng loại Euro 2012
7. 16 tháng 10 năm 2012 Sân vận động Vicente Calderón, Madrid, Tây Ban Nha  Pháp 1–0 1–1 Vòng loại World Cup 2014
8. 14 tháng 11 năm 2012 Sân vận động Rommel Fernández, Panama City, Panama  Panama 4–0 5–1 Giao hữu
9. 22 tháng 3 năm 2013 Sân vận động El Molinón, Gijón, Tây Ban Nha  Phần Lan 1–0 1–1 Vòng loại World Cup 2014
10. 8 tháng 9 năm 2014 Sân vận động Ciutat de València, Valencia, Tây Ban Nha  Macedonia 1–0 5–1 Vòng loại Euro 2016
11. 5 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Rheipark, Vaduz, Liechtenstein  Liechtenstein 1–0 8–0 Vòng loại World Cup 2018
12. 14 tháng 11 năm 2017 Sân vận động Krestovsky, Saint Petersburg, Nga  Nga 2–0 3–3 Giao hữu
13. 3–2
14. 11 tháng 9 năm 2018 Sân vận động Manuel Martínez Valero, Elche, Tây Ban Nha  Croatia 5–0 6–0 UEFA Nations League 2018–19

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Cúp Nhà Vua (1): 2010-2011; 2013-2014

Champion League (4): 2013-2014, 2015-2016, 2016-2017, 2017-2018

  • Runner-up (1): 2007

Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vô địch (1): 2004
  • Vô địch (1): 2010

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “FIFA World Cup South Africa 2010: List of players” (PDF). FIFA. Ngày 4 tháng 6 năm 2010. tr. 29. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013. 
  2. ^ footballdatabase.com
  3. ^ Real Madrid C.F. Web Oficial - Real Madrid C.F. Official Web Site
  4. ^ Ramos welcomes United interest
  5. ^ “Real Madrid, profondo rosso Sergio Ramos: già 18 espulsioni” [Real Madrid, profoundly red Sergio Ramos, 18 expulsions already] (bằng tiếng Ý). Tutto Mercato. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014. 
  6. ^ “Sergio Ramos and his 24 Real Madrid red cards: a retrospective”. The Guardian. 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018. 
  7. ^ “Sergio Ramos' red card record makes grim reading”. Diario AS. 3 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018. 
  8. ^ Thủ môn Karius bị rối loạn thị giác sau cú giật cùi chỏ của Ramos,bongda24h.vn 5.6.2018
  9. ^ “Sergio Ramos”. Soccerway. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2014. 
  10. ^ Bản mẫu:ESPNsoccernet
  11. ^ “Sergio Ramos”. European Football. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015. 
  12. ^ [1]