David Silva

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
David Silva
David Silva.jpg
Silva thi đấu cho Manchester City năm 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ David Josué Jiménez Silva
Ngày sinh 8 tháng 1, 1986 (31 tuổi)
Nơi sinh Arguineguín, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,70 m (5 ft 7 in)
Vị trí Tiền vệ công / Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Manchester City
Số áo 21
CLB trẻ
San Fernando
2000–2003 Valencia
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2003–2004 Valencia B 14 (1)
2004–2010 Valencia 119 (21)
2004–2005 Eibar (cho mượn) 35 (4)
2005–2006 Celta Vigo (cho mượn) 34 (4)
2010- Manchester City 214 (39)
Đội tuyển quốc gia
2001–2002 U-16 Tây Ban Nha 6 (2)
2002–2003 U-17 Tây Ban Nha 20 (5)
2004–2005 U-19 Tây Ban Nha 14 (5)
2005 U-20 Tây Ban Nha 5 (4)
2004–2006 U-21 Tây Ban Nha 9 (7)
2006– Tây Ban Nha 113 (32)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 21 tháng 5 năm 2017.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 11 tháng 6 năm 2017

David Josué Jiménez Silva (sinh ngày 8 tháng 1 năm 1986) là một cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha đang chơi cho câu lạc bộ của Giải bóng đá ngoại hạng Anh Manchester Cityđội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha.

Silva có khả năng chơi tiền vệ cánh hoặc tiền vệ tổ chức và đôi khi anh còn chơi như một tiền đạo lùi. Anh đã có 6 năm thi đấu tại La Liga cho Valencia trước khi chuyển đến Anh.

David Silva được các CĐV tại Manchester City gọi là “Il Maestro” (nhạc trưởng) hay là witch small (phù thủy nhỏ) của đội bóng bởi khả năng chơi bóng tinh tế cùng kỹ năng dẫn dắt lối chơi tuyệt vời của anh.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Valencia CF[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ở Arguineguín, Las Palmas de Gran Canaria, Canary Islands, Silva có trận ra mắt ở cấp độ chuyên nghiệp ở mùa giải 2004-05, tại giải hạng hai Tây Ban Nha trong màu áo ED Eibar, theo dạng cho mượn từ Valencia CF, chơi 35 trận và ghi 5 bàn. Ở mùa giải sau đó, anh lại được đem cho mượn, tới Celta de Vigo, nơi anh chơi 34 trận, ghi 4 bàn. Sau hai lần được vào sân từ ghế dự bị ở những phút cuối, trận, Silva cuối cùng cũng có tên trong đội hình chính thức khi đội Galician được vào thẳng cúp UEFA.

Silva trở lại Valencia ở mùa hè 2006, trở thành sự lựa chọn số 1 mặc dù còn trẻ (mới 20 tuổi). Trong hai mùa giải tiếp đó, anh chỉ lỡ 6 trận đấu trong khi ghi tới 14 bàn. Vào tháng 8 năm 2008, anh gia hạn hợp đồng thêm 5 năm, mặc dù nhận được nhiều sự quan tâm từ các đội bóng thuộc Premier League.

Sau khi không xuất hiện trong ba tháng đầu tiên của mùa giải 2008-09 do một chấn thương mắt cá, Silva trở lại vào giữa tháng 12. Vào ngày 3 tháng 1 năm 2009, anh ghi 2 bàn trong chiến thắng 3-1 ở sân nhà trước Atlético de Madrid, vẫn đóng góp thêm được 19 trận (ghi 4 bàn) và Los Che được tham dự Europa League.

Ở mùa giải 2009-10, Silva có mùa giải ghi nhiều bàn thắng nhất tính tới lúc đó với 8 bàn, khi Valencia về đích ở vị trí thứ 3 và trở lại thi đấu ở cúp C1. Vào ngày 15 tháng 4 năm 2010, anh ghi 2 bàn trong chiến thắng 2-0 trước Athletic Bilbao, có ba đường kiến tạo trong trận hoà 4-4 với Werder Bremen ở vòng 16 đội Europa League.[1]

Manchester City[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 30 tháng 6 năm 2010, Manchester City cho biết họ đã đạt được thoả thuận với Valencia về vụ chuyển nhượng Silva, và anh sẽ gia nhập đội bóng này sau World Cup 2010, theo hợp đồng 4 năm.[2] Ngày 14 tháng 7, bản hợp đồng đã chính thức hoàn thành với phí chuyển nhượng xấp xỉ 25 triệu £ và Silva sẽ khoác áo số 21 tại đội bóng mới.[3][4]

Ngày 14 tháng 8, anh có trận đấu đầu tiên cho Manchester City tại Premier League trong trận hoà 0-0 với Tottenham Hotspur trên sân White Hart Lane.[5] Silva có bàn thắng đầu tiên cho Manchester City khi ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 2-0 trước Salzburg tại UEFA Europa League 2010–11 ngày 16 tháng 9 năm 2010.[6]

Và các mùa sau đó tuy đã dần hòa nhập với đội bóng và được xem như là số 10 hay nhất Manchester city nói riêng và EPL nói chung nhưng điểm yếu về mặt thể hình và khá nhạy cảm với chấn thương của anh lại là rào cản khi anh luôn thường xuyên bị đối phương chơi xấu với các pha vào bóng triệt hạ khiến số 21 của Man city không tránh khỏi những chấn thương. nặng.Nhưng sau tất cả anh vẫn là 1 cầu thủ rất quan trọng của đội bóng khi luôn là 1 ngòi nổ cực kỳ nguy hiểm.Khả năng tầm nhìn,nhãn quan chiến thuật,kỹ thuật cá nhân và đặc biệt là những đường chuyền ngắn,dài và chọc khe ở mức siêu hạng khi chính xác ở mọi cự ly,góc độ trên sân cỏ mang thương hiệu của '' phù thủy nhỏ''. Luôn là thứ vũ khí nguy hiểm chết người khi mở toang đường vào khung thành nhờ những đường chuyền sắc như dao cạo hay những pha xoay compa,rê dắt bóng vượt qua từ 3 đến 4 cầu thủ đối phương của số 21 luôn gây đột biến rất cao và ở những mùa giải sung sức trước kia khi đá với vai trò 1 cầu thủ tự do anh còn thường xuyên ghi những bàn thắng quan trọng cho đội bóng nhờ cái chân trái đầy ma lực của mình.Các thành công vang dộ ivà đóng góp rất quan trọng của anh đã biến ânh gần như trở thành 1 huyền thoại đương đại của đội bóng cùng 4 cầu thủ ở 4 tuyến thuộc thế hệ vàng và mùa giải lịch sử 2011 cũng như các mùa giải thành công sau đó.

sự kết hợp của David Silva với các vệ tinh khác của Man city cũng được xem là tuyệt vời khi gần như Silva phối hợp cực kỳ ăn ý với những tiền vệ xuất sắc khác như: Nasri (đã sang Sevilla),Yaya Toure,Kevin De Bruyne.....giúp cho man city luôn có các vệ tinh xuất sắc và đưa đội bóng đi đến các thành công bắt đầu từ tuyến giữa khi ở tuyến trên là hàng tiền đạo cũng đã có 1 siêu trung cự phách luôn biết cách biến các cơ hội của Silva và đồng đội thành bàn thắng là khẩu đại pháo hạng nặng: trung phong huyền thoại Sergio Aguero (người ghi bàn thắng quyết định vào lưới QPR ở trận thắng 3-2 vòng cuối giúp Man city có màn lên ngôi lịch sử và nghẹt thở ngay trước mặt đại kình địch Manchester United sau hơn 40 năm chờ đợi) ở trận đấu đó Silva cũng đóng góp 1 pha kiến tạo khi anh đá phạt góc cho số 10 Edin Dzeko đánh đầu gỡ hòa 2-2 cho Man xanh ở phút 90+1 của trận đấu để rồi sau đó taọ tiền đề cho Aguero viết ra lịch sử cho Man city....

và ở thời điểm hiện tại anh cùng số 10 của Man city vẫn là 1 cặp đôi ăn ý rất nguy hiểm khi Sergio Aguero rất thường xuyên được hưởng lợi nhờ phong độ thi đấu ổn định của nhạc trưởng Silva.

Trở lại với mùa giải này dưới thời của huấn luyện viên Pep Guardiola thì anh vẫn thi đấu rất ấn tượng và là 1 cầu thủ quan trọng đến mức không thể thay thế khi là 1 trạm trung chuyển bóng của nửa xanh thành man khi gần như không có anh Man city sẽ rơi vào thế bế tắc không thể triển khai được bóng và thường thi đấu thiếu nét,đáng thất vọng mặc dù anh chơi ở 1 vai trò hoàn toàn khác khi đá lùi rất sâu và nhường lại hoàn toàn khoảng không phía trên cho những Kevin De Bruyne,Raheem Sterling,Leroy Sane...tự do chơi bóng.Anh thi đấu rất hay trong vai trò mới lùi sâu này và mang dáng dấp của 1 Andreas Iniesta hay xavi đỉnh cao mà trước đó ở Barca,Pep Guardiola từng sỡ hửu.Anh cũng rất thường xuyên được người thầy TBN này lên tiếng khen ngợi trên mặt báo và ông cũng nói số 21 của Man city là lí do khiến chiến lược gia này muốn được dẫn dắt nửa xanh thành Man.Silva mùa này cũng tiến bộ rõ rệt về mặt thể lực khi gần như luôn thi đấu đủ 90 phút và không còn bị chấn thương hành hạ nữa mà theo như chính anh chia sẻ là nhờ vì phương pháp tập luyện,ăn uống và đặc biệt là tập yoga rất quy cách và hiệu quả.

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên Silva xuất hiện ở đội tuyển Tây Ban Nha cùng Cesc Fabregas là ở giải FIFA U-17 World Championship tổ chức vào năm 2003 ở Phần Lan, ghi 3 bàn. Vào năm 2006, anh trở thành một tuyển thủ U21 và ghi 4 bàn ở giải FIFA World Youth Championship vào năm 2005; đó là đủ để anh lọt vào top 4 trong danh sách ghi bàn hàng đầu cùng tiền đạo của Ý là Graziano Pellè.

Silva có lần ra sân đầu tiên ở đội tuyển quốc gia là trong trận giao hữu thua 0-1 trước Romania vào ngày 15 tháng 11 năm 2006.[7] Anh tiếp tục được gọi vào đội tuyển sau những đóng góp lớn ở những trận đầu tiên. Vào ngày 22 tháng 8 năm 2007, Silva ghi 2 bàn cho đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha trong chiến thắng 3-2 trước đội tuyển bóng đá quốc gia Hi Lạp. Sau đó anh được triệu tập vào đội hình dự giải Euro 2008.

Trong trận bán kết gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Nga, Silva ghi bàn thứ ba sau một pha phản công nhanh khi Fabregas tạt cánh cho anh và cầu thủ này đệm lòng chính xác vào lưới Igor Akinfeev.[8]

Silva hiện nay đang dần thay thế vai trò của Iniesta và Xavi tại TBN khi thi đấu rất hay và đang góp mặt trong top 4 ghi bàn của ĐTQG với 30 bàn thắng sau 111 trận đấu.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Manchester City:

  • FA CUP: 2010
  • Bacrclays Premire League: 2011, 2013
  • league cup: 2014,2016
  • FA Community shield: 2012

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 13 tháng 5 năm 2017.[9][10]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch quốc gia Cúp Giải châu Âu Tổng cộng
Số trận Số bàn thắng Số trận Số bàn thắng Số trận Số bàn thắng Số trận Số bàn thắng
Eibar 2004–05 35 4 0 0 35 4
Tổng cộng 35 4 0 0 35 4
Celta Vigo 2005–06[11] 34 4 0 0 34 4
Tổng cộng 34 4 0 0 34 4
Valencia 2006–07[12] 36 4 2 1 11 3 49 8
2007–08[13] 34 5 8 1 6 0 48 6
2008–09[14] 19 4 3 0 3 1 25 5
2009–10[15] 30 8 2 1 7 1 39 10
Tổng cộng 119 21 15 3 27 5 161 29
Manchester City 2010–11[16] 35 4 8 1 10 1 53 6
2011–12[17] 36 6 3 0 10 2 49 8
2012–13[18] 32 4 6 1 3 0 41 5
2013–14[19] 27 7 7 0 6 1 40 8
2014–15[20] 32 12 4 0 6 0 42 12
2015–16 24 2 4 0 8 2 36 4
2016–17 26 4 3 2 6 2 35 7
Tổng cộng 212 39 35 4 49 8 296 51
Tổng cộng sự nghiệp 400 68 50 7 76 12 526 88

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 11 tháng 6 năm 2017[10]
Đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2006 1 0
2007 10 2
2008 9 1
2009 12 3
2010 12 4
2011 10 4
2012 15 4
2013 8 2
2014 10 2
2015 6 1
2016 15 5
2017 4 4
Tổng cộng 113 32

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 22 tháng 8 năm 2007 Sân vận động Toumba, Thessaloniki, Hy Lạp  Hy Lạp 2–2 3–2 Giao hữu
2. 3–2
3. 26 tháng 6 năm 2008 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Nga 3–0 3–0 Euro 2008
4. 5 tháng 9 năm 2009 Sân vận động Riazor, A Coruña, Tây Ban Nha  Bỉ 1–0 5–0 Vòng loại World Cup 2010
5. 4–0
6. 14 tháng 10 năm 2009 Sân vận động Bilino Polje, Zenica, Bosna và Hercegovina  Bosna và Hercegovina 1–0 5–2 Vòng loại World Cup 2010
7. 8 tháng 6 năm 2010 Sân vận động Nueva Condomina, Murcia, Tây Ban Nha  Ba Lan 2–0 6–0 Giao hữu
8. 11 tháng 8 năm 2010 Sân vận động Azteca, Mexico City, México  México 1–1 1–1 Giao hữu
9. 3 tháng 9 năm 2010 Sân vận động Rheinpark, Vaduz, Liechtenstein  Liechtenstein 4–0 4–0 Vòng loại Euro 2012
10. 8 tháng 10 năm 2010 Sân vận động El Helmántico, Salamanca, Tây Ban Nha  Litva 3–1 3–1 Vòng loại Euro 2012
11. 9 tháng 2 năm 2011 Sân vận động Bernabéu, Madrid, Tây Ban Nha  Colombia 1–0 1–0 Giao hữu
12. 11 tháng 10 năm 2011 Sân vận động José Rico Pérez, Alicante, Tây Ban Nha  Scotland 1–0 3–1 Vòng loại Euro 2012
13. 2–0
14. 15 tháng 11 năm 2011 Sân vận động quốc gia Costa Rica, San José, Costa Rica  Costa Rica 2–1 2–2 Giao hữu
15. 29 tháng 2 năm 2012 Sân vận động La Rosaleda, Málaga, Tây Ban Nha  Venezuela 2–0 5–0 Giao hữu
16. 3 tháng 6 năm 2012 Sân vận động La Cartuja, Sevilla, Tây Ban Nha  Trung Quốc 1–0 1–0 Giao hữu
17. 14 tháng 6 năm 2012 PGE Arena, Gdańsk, Ba Lan  Cộng hòa Ireland 2–0 4–0 Euro 2012
18. 1 tháng 7 năm 2012 Sân vận động Olympic, Kiev, Ukraina  Ý 1–0 4–0 Euro 2012
19. 20 tháng 6 năm 2013 Sân vận động Maracanã, Rio de Janeiro, Brasil  Tahiti 2–0 10–0 Confed Cup 2013
20. 10–0
21. 8 tháng 9 năm 2014 Sân vận động Ciutat de València, Valencia, Tây Ban Nha  Macedonia 4–1 5–1 Vòng loại Euro 2016
22. 12 tháng 10 năm 2014 Sân vận động Josy Barthel, Luxembourg City, Luxembourg  Luxembourg 1–0 4–0 Vòng loại Euro 2016
23. 14 tháng 6 năm 2015 Borisov Arena, Barysaw, Belarus  Belarus 1–0 1–0 Vòng loại Euro 2016
24. 1 tháng 6 năm 2016 Red Bull Arena, Salzburg, Áo  Hàn Quốc 1–0 6–1 Giao hữu
25. 1 tháng 9 năm 2016 Sân vận động Nhà vua Baudouin, Brussels, Bỉ  Bỉ 1–0 2–0 Giao hữu
26. 2–0
27. 5 tháng 9 năm 2016 Sân vận động Reino de León, León, Tây Ban Nha  Liechtenstein 3–0 8–0 Vòng loại World Cup 2018
28. 8–0
29. 24 tháng 3 năm 2017 Sân vận động El Molinón, Gijón, Tây Ban Nha  Israel 1–0 4–1 Vòng loại World Cup 2018
30. 28 tháng 3 năm 2017 Stade de France, Paris, Pháp  Pháp 1–0 2–0 Giao hữu
31. 7 tháng 6 năm 2017 Sân vận động Condomina, Murcia, Tây Ban Nha  Colombia 1–0 2–2 Giao hữu
32. 11 tháng 6 năm 2017 Philip II Arena, Skopje, Macedonia  Macedonia 1–0 2–1 Vòng loại World Cup 2018

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Villa revels in Valencia's 'crazy' night; UEFA.com, 18 tháng 3 năm 2010
  2. ^ City complete deal for David Silva; Manchester City's official website, 30 tháng 6 năm 2010
  3. ^ New City boy Silva targets Champions League; ESPNsoccernet, 14 tháng 7 năm 2010
  4. ^ Silva seals City switch; Sky Sports, 14 tháng 7 năm 2010
  5. ^ Hoàng Hiệp (ngày 14 tháng 8 năm 2010). “Man City chia điểm may mắn tại White Hart Lane”. Dân Trí. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. 
  6. ^ Vũ Phong (ngày 16 tháng 9 năm 2010). “Man City thắng nhẹ, Juve hòa hú vía trên sân nhà”. Dân Trí. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2010. 
  7. ^ Thông tin về David Silva trên Fifa.com
  8. ^ Nga - TBN 0-3: "Phù thủy" hết phép, Nga dừng cuộc chơi
  9. ^ “David Silva Player Profile”. ESPN FC. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2014. 
  10. ^ a ă “David Silva”. Scocerway. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2015. 
  11. ^ “David Silva | Football Stats | Manchester City | Season 2005/2006 | Soccer Base”. www.soccerbase.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  12. ^ “David Silva | Football Stats | Manchester City | Season 2006/2007 | Soccer Base”. www.soccerbase.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  13. ^ “David Silva | Football Stats | Manchester City | Season 2007/2008 | Soccer Base”. www.soccerbase.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  14. ^ “David Silva | Football Stats | Manchester City | Season 2008/2009 | Soccer Base”. www.soccerbase.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  15. ^ “David Silva | Football Stats | Manchester City | Season 2009/2010 | Soccer Base”. www.soccerbase.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  16. ^ “David Silva | Football Stats | Manchester City | Season 2010/2011 | Soccer Base”. www.soccerbase.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  17. ^ “David Silva | Football Stats | Manchester City | Season 2011/2012 | Soccer Base”. www.soccerbase.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  18. ^ “David Silva | Football Stats | Manchester City | Season 2012/2013 | Soccer Base”. www.soccerbase.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  19. ^ “David Silva | Football Stats | Manchester City | Season 2013/2014 | Soccer Base”. www.soccerbase.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 
  20. ^ “David Silva | Football Stats | Manchester City | Season 2014/2015 | Soccer Base”. www.soccerbase.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2015. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]