Nacho Monreal

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nacho Monreal
Nacho Monreal Arsenal (cropped).jpg
Monreal đang thi đấu cho Arsenal
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ignacio Monreal Eraso
Chiều cao 1,78 m (5 ft 10 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Vị trí Hậu vệ cánh trái
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Arsenal
Số áo 18
CLB trẻ
Osasuna
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2005–2006 Osasuna B 36 (3)
2006–2011 Osasuna 127 (3)
2011–2013 Málaga 45 (1)
2013– Arsenal 108 (1)
Đội tuyển quốc gia
2004–2005 Tây Ban Nha U19 7 (0)
2007–2009 Tây Ban Nha U21 9 (0)
2009– Tây Ban Nha 18 (1)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào ngày 6 tháng 11 năm 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào ngày 12 tháng 11 năm 2016

Ignacio "Nacho" Monreal Eraso (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [natʃo Monreal eɾaso]; sinh ngày 26 tháng 2 năm 1986) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Tây Ban Nha hiện đang chơi cho câu lạc bộ Arsenal F.C. tại Premier League và đội tuyển Tây Ban Nha, anh chơi ở vị trí hậu vệ cánh trái.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Osasuna[sửa | sửa mã nguồn]

Anh là sản phẩm của lò đào tạo trẻ Osasuna và chính thức ra mắt đội hình 1 của câu lạc bộ trong trận đấu với Valencia CF ngày 22 tháng 10 năm 2006.

Trong năm 2007-2008 Monreal là sự lựa chọn số 1 bên phía hành lang cánh trái của câu lạc bộ Osasuna. Và đến năm 2011 anh đầu quân cho câu lạc bộ Málaga CF

Málaga[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 Tháng Sáu 2011, Monreal đã ký hợp đồng có thời hạn 5 năm với câu lạc bộ Málaga CF với mức giá 6 triệu €.

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 1 năm 2013, câu lạc bộ Arsenal F.C. chính thức ký hợp đồng với Monreal. Anh đã đồng ý gia nhập hàng ngũ "Pháo Thủ" trong một bản hợp đồng với mức phí chuyển nhượng không được tiết lộ.

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 8 năm 2009, Nacho Monreal được gọi vào đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha, anh đã chơi 15 phút cuối của trận đấu sau khi được thay thế bởi Joan Capdevila trong chiến thắng 3-2 trước đội tuyển Macedonia. Ngày 7 tháng 9 năm 2010 anh đã chơi trọn 90 phút trong chiến thắng 4-1 trước các cầu thủ Nam Phi tại giải đấu FIFA World Cup in South Africa

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 2 tháng 10 năm 2016.
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu Âu Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Osasuna B 2004–05 1 0 0 0 1 0
2005–06 35 3 0 0 35 3
Tổng cộng 36 3 0 0 0 0 36 3
Osasuna 2006–07 10 0 3 0 6 0 19 0
2007–08 27 1 0 0 27 1
2008–09 28 0 1 0 29 0
2009–10 31 1 6 0 37 1
2010–11 31 1 1 0 32 1
Tổng cộng 127 3 11 0 6 0 144 3
Málaga 2011–12 31 0 2 0 33 0
2012–13 14 1 3 0 4 0 21 1
Tổng cộng 45 1 5 0 4 0 54 1
Arsenal 2012–13 10 1 1 0 0 0 0 0 11 1
2013–14 23 0 3 0 2 0 8 0 36 0
2014–15 28 0 4 1 0 0 6 0 1 0 39 1
2015–16 37 0 1 0 0 0 6 0 1 0 45 0
2016-17 7 0 0 0 0 0 2 0 9 0
Tổng cộng 105 1 9 1 2 0 22 0 2 0 140 2
Tổng cộng sự nghiệp 313 8 25 1 2 0 32 0 2 0 374 9

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 12 tháng 11, 2016 Sân vận động Los Cármenes, Granada, Tây Ban Nha  Macedonia 3–0 4–0 Vòng loại World Cup 2018

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]