Ante Rebić

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ante Rebić
Ante Rebić.jpg
Rebíc tại World Cup 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ante Rebić[1]
Ngày sinh 21 tháng 9, 1993 (25 tuổi)
Nơi sinh Split, Croatia
Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in)
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Eintracht Frankfurt
Số áo 4
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2002–2008 Vinjani
2008–2010 Imotski
2010–2011 RNK Split
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2011–2013 RNK Split 54 (17)
2013– Fiorentina 8 (2)
2014–2015RB Leipzig (cho mượn) 10 (0)
2016Hellas Verona (cho mượn) 9 (0)
2016–2018Eintracht Frankfurt (cho mượn) 49 (8)
2018– Eintracht Frankfurt 26 (9)
Đội tuyển quốc gia
2011 U-18 Croatia 3 (0)
2011–2012 U-19 Croatia 5 (3)
2012–2013 U-20 Croatia 6 (3)
2012– U-21 Croatia 8 (4)
2013– Croatia 28 (3)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 5.5.2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 24.3.2019

Ante Rebić (sinh ngày 21 tháng 9 năm 1993) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Croatia chơi ở vị trí tiền đạo cho Eintracht Frankfurt. Rebić cũng thi đấu cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Croatia.

Sự nghiệp CLB[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp độ trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Rebić bắt đầu sự nghiệp của mình ở cấp độ trẻ cho Vinjani trước khi chuyển tới Imotski năm 2008, nơi anh đã trải qua hai mùa giải. Sau màn trình diễn xuất sắc của anh tại một giải đấu ở Ý vào năm 2010, anh thi đấu cùng đội trẻ của Hajduk Split, Rebić đã được Darko Butorović đưa đến RNK Split.

RNK Split[sửa | sửa mã nguồn]

Rebić đã có trận đấu đầu tiên trong trận đấu với Dinamo Zagreb vào ngày 21 tháng 5 năm 2011 tại vòng đấu cuối cùng của Prva HNL 2010-11 với tư cách là cầu thủ vào sân thay thế ở hiệp hai. Trận đấu kết thúc với tỷ số hòa 1-1, trong đó có bàn thắng của Rebić. Tháng 8 năm 2011, Rebić đã ký hợp đồng 3 năm với RNK Split. Trong mùa giải 2011-12, Rebić ghi được 5 bàn trong 20 lần ra sân, bốn trong số đó khi được tung vào sân từ băng ghế dự bị. Trong mùa giải 2012-13, Rebić đã ghi 10 bàn trong 26 lần ra sân. Rebić đã thu hút được nhiều sự quan tâm của cả giới truyền thông và bóng đá, dẫn đến sự quan tâm từ một số câu lạc bộ, bao gồm Fiorentina, Tottenham HotspurSwansea City.

Fiorentina[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 28 tháng 8 năm 2013, Rebić ký hợp đồng 5 năm với Fiorentina, với mức phí không tiết lộ. Sau khi vượt qua các cuộc kiểm tra y tế, anh được mang áo số 9. Anh đã có trận đấu đầu tiên cho Fiorentina vào cuối tháng 9 năm 2013, khi được thay vào sân thay thế cho cầu thủ bị chấn thương Giuseppe Rossi, trong trận hòa với Parma. Rebić đã có thêm 3 lần ra sân cho Fiorentina trước khi anh ghi bàn thắng đầu tiên của mùa giải, vào tháng 1 năm 2014, tại Coppa Italia gặp Chievo Verona. Vào ngày 18 tháng 5, anh ghi bàn đầu tiên của mình ở Serie A trong trận hòa 2-2 trước Torino.

Vào ngày 1 tháng 11, anh ghi bàn thắng đầu tiên của mùa giải ở Serie A, trong trận đấu quyết liệt với Frosinone.

RB Leipzig[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 3 tháng 8 năm 2014, Rebić gia nhập câu lạc bộ RB Leipzig trong một hợp đồng mượn dài hạn.

Quay trở lại Fiorentina[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi điều khoản cho mượn của anh với Leipzig kết thúc, Rebić trở lại Fiorentina và được trao chiếc áo số 11, trước đây là của Juan Cuadrado, và được sử dụng chủ yếu ở cánh trái. Sau đó anh lần lượt được cho mượn ở Hellas Verona và Eintracht Frankfurt.

Eintracht Frankfurt[sửa | sửa mã nguồn]

Rebić trong màu áo Eintracht Frankfurt năm 2017

Rebić gia nhập Eintracht Frankfurt dưới dạng cho mượn từ Fiorentina vào ngày 11/7/2016, dưới quyền HLV trưởng Niko Kovač.[2]


Đến 10 tháng 8 2018, sau thành công tại World Cup 2018 cùng đội tuyển Croatia, Rebić là mục tiêu theo đuổi của Manchester United, Tottenham Hotspur, Bayern Munich and Sevilla, và Frankfurt mất cả HLV Kovač, người đã gia nhập Bayern.[3][4]. Tuy nhiên Rebić đã quyết định kí hợp đồng chính thức với Frankfurt sau thời gian dài thuộc biên chế Fiorentina với bản hộp đồng 4 năm tới năm 2022.[5]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 31 tháng 7 năm 2013, Rebić được đưa ra danh sách triệu tập cho đội tuyển quốc gia trong trận đấu với Liechtenstein. Vào ngày 14 tháng 8 năm 2013, anh xuất hiện lần đầu tiên tại tuyển Croatia, và ra sân từ phút 63. Ở phút 67, Rebić ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển quốc gia. Anh được ca ngợi bởi huấn luyện viên Croatia, Igor Štimac. Anh giúp Croatia giành chiếc vé đến World Cup 2014 bằng chiến thắng 2-0 ở vòng đấu cuối cùng loại. Tại Brazil, anh bị đuổi khỏi sân trong trận đấu với Mexico dẫn đến thất bại 1-3 trước đội bóng này và bị loại.

Anh tiếp tục có tên trong danh sách 23 cầu thủ Croatia tham dự World Cup 2018 trên đất Nga, giải đấu mà anh và các đồng đội đã lọt vào trận chung kết, chịu thất thủ 2-4 trước đội tuyển Pháp và giành ngôi á quân.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 5 tháng 5 năm 2019[6]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Giải đấu Cúp quốc gia Châu Âu Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
RNK Split 2010–11 Prva HNL 1 1 0 0 1 1
2011–12 20 5 0 0 3 0 23 5
2012–13 29 10 0 0 29 10
2013–14 4 0 0 0 4 0
Tổng cộng 54 16 0 0 3 0 0 0 57 16
Fiorentina 2013–14 Serie A 4 1 1 1 5 2
Leipzig (mượn) 2014–15 2.Bundesliga 10 0 1 0 11 0
Fiorentina 2015–16 Serie A 4 1 1 0 2 0 7 1
Tổng cộng 8 2 2 1 2 0 0 0 12 3
Verona (mượn) 2015–16 Serie A 10 0 0 0 10 0
Eintracht Frankfurt 2016–17 Bundesliga 24 2 4 1 28 3
2017–18 25 6 3 3 28 9
2018–19 26 9 0 0 8 1 1 0 35 10
Tổng cộng 75 17 7 4 8 1 1 0 91 22
Tổng cộng sự nghiệp 139 35 10 5 13 1 1 0 163 41

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 24 tháng 3 năm 2019[7]
Croatia
Năm Trận Bàn
2013 3 1
2014 5 0
2015 2 0
2016 0 0
2017 2 0
2018 14 1
2019 2 1
Tổng cộng 28 3

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 24 tháng 3 năm 2019.[7]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 14 tháng 8 năm 2013 Sân vận động Rheinpark, Vaduz, Liechtenstein  Liechtenstein
2–1
3–2
Giao hữu
2 21 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Nizhny Novgorod, Nizhny Novgorod, Nga  Argentina
1–0
3–0
World Cup 2018
3 24 tháng 3 năm 2019 Groupama Arena, Budapest, Hungary  Hungary
1–0
1–2
Vòng loại Euro 2020

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “2014 FIFA World Cup Brazil: List of Players” (PDF). FIFA. Ngày 11 tháng 6 năm 2014. tr. 12. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2014. 
  2. ^ “Ante Rebic Joined Eintracht”. 11 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016. 
  3. ^ Van Opdorp, Davis (11 tháng 8 năm 2018). “Why Ante Rebic is the man Eintracht Frankfurt needed to keep”. Deutsche Welle. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2018. 
  4. ^ supercup_sto6887063/story.shtml |accessdate=20 August 2018 |publisher=Eurosport |date=12 August 2018}}
  5. ^ “Croatian top player extended until 2022”. Eintracht Frankfurt. 24 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2018. 
  6. ^ “Ante Rebić”. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019. 
  7. ^ a ă “Ante Rebić”. European Football. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2018.