Ivica Olić

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ivica Olić
Ivica Olić.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ivica Olić
Ngày sinh 14 tháng 9, 1979 (38 tuổi)
Nơi sinh Davor, LBCHXHCN Nam Tư
Chiều cao 1,82 m (6 ft 0 in)[1]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
1860 Munich
Số áo 40
CLB trẻ
Posavac Davor
Marsonia
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1996–1998 Marsonia 42 (17)
1998–2000 Hertha BSC II 30 (10)
1998–2000 Hertha BSC 2 (0)
2000–2001 Marsonia 42 (21)
2001–2002 NK Zagreb 28 (21)
2002–2003 Dinamo Zagreb 27 (16)
2003–2007 CSKA Moscow 78 (35)
2007–2009 Hamburger SV 78 (29)
2009–2012 Bayern Munich 55 (13)
2012–2015 VfL Wolfsburg 78 (28)
2015–2016 Hamburger SV 25 (2)
2016–2017 1860 Munich 21 (5)
Tổng cộng 506 (197)
Đội tuyển quốc gia
1996 Croatia U17 3 (0)
1997 Croatia U18 1 (0)
1997–1998 Croatia U19 9 (1)
1998 Croatia U20 1 (0)
2000–2001 Croatia U21 6 (2)
2002–2015 Croatia 104 (20)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Ivica Olić (sinh ngày 14 tháng 9 năm 1979) là một cựu cầu thủ bóng đá người Croatia hiện đã giải nghệ.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Olic được sinh ra và lớn lên ở thị trận Davor gần Nova Gradiška, Croatia. Anh bắt đầu chơi cho đội bóng địa phương NK Marsonia vào năm 1996, và có hai mùa giải thành công ở đó trước khi anh tới chơi cho Hertha BSC Berlin vào năm 1998. Anh không có nhiều cơ hội chơi ở đó và trở lại Marsonia mùa giải sau đó.

Sau những mùa giải thành công nữa cùng Marsonia - ở mùa giải 2000-01, anh ghi 17 bàn trong 29 trận. Vào năm 2001, anh chuyển tới NK Zagreb nơi anh ghi 21 bàn trong 28 trận và giúp đội bóng vô địch quốc gia. Ở mùa giải sau đó, anh chuyển tới Dinamo Zagreb, nơi anh ghi 16 bàn trong 27 trận, và trở thành tiền đạo số 1 giải vô địch quốc gia Croatia.

CSKA Moscow[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2003, Olic được PFC CSKA Moscow mua về. Phong độ của anh lập tức thăng tiến, vào năm 2005, anh đóng góp 10 bàn. Cùng CSKA Moscow, anh vô địch cúp UEFA vào năm 2005, vô địch quốc gia Nga 3 lần (2003,2005 và 2006), hai lần vô địch cúp quốc gia Nga (2005,2006) và 2 lần vô địch Siêu cúp Nga (2004, 2006).

Hamburg[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 1 năm 2007, Olic chuyển tới Hamburger SV, chơi trận đấu đầu tiên ở Bundesliga gặp Energie Cottbus vào ngày 31 tháng 1.[2] Anh được ký hợp đồng bởi Hamburg đang ở trong khủng hoảng tồi tệ, kết thúc giai đoạn lượt đi ở vị trí xuống hạng. Cuối cùng mọi chuyện đã thay đổi, và Hamburg về đích ở vị trí thứ 7, và có cơ hội dự Intertoto Cup, giải đấu mà họ đã vô địch. Anh ghi 2 bàn trong trận đấu cuối cùng của Bundesliga 2006-07 gặp Alemannia Aachen trong chiến thắng 4-0. Vào tháng 10 năm 2007, Olic ghi một cú hattrick trong trận đấu ở Bundesliga gặp VfB Stuttgart để giúp Hamburg thắng 4-1. Anh là cầu thủ đầu tiên trong lịch sử đội bóng ghi 3 bàn trong một hiệp đấu.

Olic đã thi đấu rất thành công trong chức vô địch Emirates Cup 2008 cùng Hamburg, với hai bàn thắng vào hiệp phụ trước Juventus để nâng số điểm của đội bóng lên. Anh chơi trận cuối cùng cho Hamburg một cách rất thành công. Trong trận đó, anh đã mặc một chiếc áo với dòng chữ "Danke fans" ("cảm ơn các cổ động viên") như một lời tri ân với các fans.

Bayern München[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 3 tháng 1 năm 2009, Olic ký bản hợp đồng 3 năm với Bayern München. Anh gia nhập đội bóng theo dạng tự do vào ngày 1 tháng 7 năm 2009.[3] Ban đầu, anh được đưa về với mục đích là sự thay thế cho bộ đôi Miroslav KloseMario Gómez, nhưng do chấn thương và những vấn đề về thể lực, anh bắt đầu được sử dụng như sự lựa chọn số 1. Vào ngày 8 tháng 8, trong trận ra mắt Bayern, anh ghi bàn mở tỉ số trong trận gặp TSG 1899 Hoffenheim trong trận hoà 1-1 và nhanh chóng được các fans ưa thích. Anh đạt đến một tầm cao mới sau khi ghi bàn thắng ở tứ kết Cúp C1 2010 (lượt đi) vào lưới Manchester United ở phút bù giờ, để đưa Bayern dẫn 2-1. Anh ũng ghi bàn mở tỉ số ở trận lượt về, nhưng là để rút ngắn tỉ số xuống còn 3-1. Trận đấu kết thúc với tỉ số 3-2. Tuy nhiên, Bayern vẫn được vào vòng trong nhờ luật bàn thắng sân khách.[4] Anh ghi cú hattrick đầu tiên cho đội bóng vùng Bavaria gặp Olympique Lyonnais ở trận lượt về bán kết cúp C1 vào ngày 27 tháng 4 năm 2010. Sự đa năng của anh giúp anh có thể ghi bàn theo nhiều cách: một bàn bằng chân phải, một bằng chân trái và một bằng đầu, mặc dù đầu anh đã bị thương trong trận đấu gặp Borussia Mönchengladbach vào ngày 24 tháng 4 năm 2010. Trận thắng Lyon giúp họ có xuất dự trận chung kết Cúp C1 ở Madrid vào ngày 22 tháng 5 năm 2010 gặp Inter Milan.[5]

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Olic là thành viên đội tuyển bóng đá quốc gia Croatia dự World Cup 2002 giải đấu mà anh tham dự 2 trận và ghi 1 bàn, nhưng đó là bàn thắng quan trọng vào lưới Ý giúp Croatia thắng 2-1. Ngay sau ghi bàn thắng, Olic công bố bức ảnh của đứa con trai vừa ra đời ở áo trong của anh. Anh được nhớ là không thể mặc lại chiếc áo của anh vào, khi chất liệu trở nên rối trong khi anh ăn mừng bàn thắng. Olic cũng chơi 3 trận cho Croatia ở giải vô địch bóng đá châu Âu 2004 và 2 trận ở World Cup 2006.

Vào tháng 9 năm 2006, Olic bị loại ra khỏi đội tuyển Croatia do đi chơi khuya cùng 2 đồng đội Darijo SrnaBoško Balaban.[6]

Olic được chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu trong trận đấu cuối cùng ở vòng loại khi Croatia đánh bại Anh 3-2.[7] Anh trở nên nổi tiếng sau khi ghi bàn thắng thứ hai của trận đấu, đưa Croatia dẫn lên 2 bàn và khiến Anh không thể tham dự Euro 2008.[8] Huấn luyện viên tuyển Anh Steve McClaren bị sa thải sau kết quả này.

Olic được gọi vào đội tuyển Croatia cho Euro 2008. Vào ngày 12 tháng 6, anh ghi bàn ở phút 62 trong trận gặp Đức ở loạt trận thứ hai của bảng B giúp Croatia thắng 2-1.[9] Anh được cho nghỉ ở loạt trận cuối do họ đã chắc chắn vào vòng trong. Chiến thắng của Croatia trước đội tuyển bóng đá quốc gia Ba Lan giúp Croatia có thành tích 3 trận thắng tuyệt đối ở vòng bảng Euro 2008. Vào ngày 15 tháng 6, theo nhà tài trợ Castrol Index, anh là cầu thủ nhanh nhất Euro 2008.

Olic cũng được triệu tập cho vòng loại World Cup 2010. Anh đóng góp 3 bàn trong 8 trận, nhưng Croatia không giành được vé dự World Cup.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

NK Zagreb
  • Giải vô địch quốc gia Croatia: 2002
Dinamo Zagreb
  • Giải vô địch quốc gia Croatia: 2003
CSKA Moscow
FC Bayern München
Giải thưởng cá nhân
  • Cầu thủ xuất sắc nhất năm của bóng đá Croatia: 2009
  • Cầu thủ xuất sắc nhất giải vô địch Croatia: 2002, 2003

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 28 tháng 11 năm 2016[10]

Câu lạc bộ Giải đấu Cup Châu lục Khác Tổng cộng
Câu lạc bộ Giải đấu Mùa giải Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Marsonia 1996–97 Prva HNL 9 0
1997–98 Druga HNL 24 9
1998–99 Treća HNL 9 8
Tổng cộng 42 17 42 17
Hertha BSC 1998–99 Bundesliga 2 0 1 0 3 0
Marsonia 1999–2000 Druga HNL 13 4
2000–01 Prva HNL 29 17
Tổng cộng 42 21 42 21
Tổng cộng Marsonia 84 38 84 38
NK Zagreb 2001–02 Prva HNL 28 21
Dinamo Zagreb 2002–03 27 16 4 3 1 0
CSKA Moscow 2003 Premier League 10 7 2 1 0 0 12 8
2004 24 9 3 1 15 0 1 0 43 10
2005 20 10 5 1 0 0 25 11
2006 24 9 5 2 8 3 1 0 38 14
Tổng cộng 78 35 15 5 23 3 2 0 118 43
Hamburger SV 2006–07 Bundesliga 15 5 0 0 0 0 15 5
2007–08 32 14 4 2 14 2 50 18
2008–09 31 10 5 6 14 9 50 25
Tổng cộng 78 29 9 8 28 11 115 48
Bayern Munich 2009–10 Bundesliga 29 11 2 1 10 7 41 19
2010–11 6 0 1 0 2 0 1 0 10 0
2011–12 20 2 4 0 5 2 29 4
Tổng cộng 55 13 7 1 17 9 1 0 80 23
VfL Wolfsburg 2012–13 Bundesliga 32 9 5 4 37 13
2013–14 32 14 5 1 37 15
2014–15 14 5 1 0 5 0 20 5
Tổng cộng 78 28 11 5 5 0 94 33
Hamburger SV 2014–15 Bundesliga 16 2 0 0 2 0 18 2
2015–16 9 0 1 1 10 1
Tổng cộng 25 2 1 1 2 0 28 3
Tổng cộng Hamburg 103 31 10 9 28 11 2 0 143 51
1860 Munich 2016–17 2. Bundesliga 11 3 1 0 12 3
Tổng cộng sự nghiệp 466 185 45 20 77 26 6 0 594 231

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 6 tháng 9 năm 2015.[11]
Đội tuyển bóng đá quốc gia Croatia
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2002 9 2
2003 9 2
2004 10 2
2005 4 0
2006 10 0
2007 8 3
2008 12 2
2009 6 2
2010 5 1
2011 3 1
2012 4 0
2013 9 1
2014 11 3
2015 4 1
Tổng cộng 104 20

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Scores and results list Croatia's goal tally first.[12]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
01. 17 tháng 4 năm 2002 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Bosna và Hercegovina
1 – 0
2 – 0
Giao hữu
02. 8 tháng 6 năm 2002 Sân vận động bóng đá Kashima, Kashima, Nhật Bản  Ý
1 – 1
2 – 1
World Cup 2002
03. 30 tháng 4 năm 2003 Sân vận động Råsunda, Stockholm, Thụy Điển  Thụy Điển
0 – 1
1 – 2
Giao hữu
04. 11 tháng 10 năm 2003 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Bulgaria
1 – 0
1 – 0
Vòng loại Euro 2004
05. 29 tháng 5 năm 2004 Sân vận động Kantrida, Rijeka, Croatia  Slovakia
1 – 0
1 – 0
Giao hữu
06. 5 tháng 6 năm 2004 Sân vận động Parken, Copenhagen, Đan Mạch  Đan Mạch
0 – 2
1 – 2
Giao hữu
07. 16 tháng 10 năm 2007 Sân vận động Kantrida, Rijeka, Croatia  Slovakia
1 – 0
3 – 0
Giao hữu
08. 16 tháng 10 năm 2007 Sân vận động Kantrida, Rijeka, Croatia  Slovakia
3 – 0
3 – 0
Giao hữu
09. 21 tháng 11 năm 2007 Sân vận động Wembley, London, Anh  Anh
0 – 2
2 – 3
Vòng loại Euro 2008
10. 12 tháng 6 năm 2008 Hypo-Arena, Klagenfurt, Áo  Đức
2 – 0
2 – 1
Euro 2008
11. 15 tháng 10 năm 2008 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Andorra
2 – 0
4 – 0
Vòng loại World Cup 2010
12. 12 tháng 8 năm 2009 Sân vận động Dinamo, Minsk, Belarus  Belarus
0 – 1
1 – 3
Vòng loại World Cup 2010
13. 12 tháng 8 năm 2009 Sân vận động Dinamo, Minsk, Belarus  Belarus
1 – 3
1 – 3
Vòng loại World Cup 2010
14. 3 tháng 9 năm 2010 Sân vận động Skonto, Riga, Latvia  Latvia
0 – 2
0 – 3
Vòng loại Euro 2012
15. 11 tháng 11 năm 2011 Türk Telekom Arena, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ  Thổ Nhĩ Kỳ
0 – 1
0 – 3
Vòng loại Euro 2012
16. 22 tháng 3 năm 2013 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Serbia
2 – 0
2 – 0
Vòng loại World Cup 2014
17. 5 tháng 3 năm 2014 AFG Arena, St. Gallen, Thụy Sĩ  Thụy Sĩ
1 – 1
2 – 2
Giao hữu
18. 5 tháng 3 năm 2014 AFG Arena, St. Gallen, Thụy Sĩ  Thụy Sĩ
2 – 2
2 – 2
Giao hữu
19. 18 tháng 6 năm 2014 Arena da Amazônia, Manaus, Brasil  Cameroon
1 – 0
4 – 0
World Cup 2014
20. 28 tháng 3 năm 2015 Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia  Na Uy
3 – 0
5 – 1
Vòng loại Euro 2016

Cuộc sống ngoài đời[sửa | sửa mã nguồn]

Olic có hai con trai lên Luka và Antonio.[8] Không giống với nhiều đồng đội khác, anh tránh giới báo chí và giữ một cuộc sống bình dị.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ivica Olic”. FC Bayern Munich. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2010. [liên kết hỏng]
  2. ^ “Tactical Formation”. Football-Lineups.com. Truy cập 6 tháng 2 năm 2007. 
  3. ^ “Olić set for summer switch to Bayern”. UEFA.com. 3 tháng 1 năm 2009. Truy cập 27 tháng 2 năm 2009. 
  4. ^ a ă “Breitner lobt Olic: Ein Hochgenuss” (bằng tiếng Đức). Abendzeitung. 10 tháng 12 năm 2009. 
  5. ^ Stevenson, Jonathan (27 tháng 4 năm 2010). “Lyon 0-3 Bayern München (agg 0-4)”. BBC News. Truy cập 27 tháng 4 năm 2010. 
  6. ^ “Croatian trio expelled from squad”. cnn.com. 4 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ “Croats punich poor England”. fifa.com. 21 tháng 11 năm 2007. 
  8. ^ a ă “Olic: Nothing's decided yet”. fifa.com. 3 tháng 6 năm 2009. 
  9. ^ “Classy Croats stun Germany”. fifa.com. 12 tháng 6 năm 2009. 
  10. ^ “Ivica Olic” (bằng tiếng Đức). kicker.de. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2014. 
  11. ^ Ivica Olić tại National-Football-Teams.com
  12. ^ “Ivica Olić – Goals in International Matches”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2015. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]