Maxwell Cabelino Andrade

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Maxwell
Maxwell Cabelino Andrade.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Maxwell Scherrer Cabelino Andrade
Ngày sinh 27 tháng 8, 1981 (34 tuổi)
Nơi sinh Cachoeiro de Itapemirim[1], Brasil
Chiều cao 1,77 m (5 ft 9 12 in)
Vị trí Hậu vệ trái
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Paris Saint-Germain
Số áo 17
CLB trẻ
2000–2001 Cruzeiro
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2001–2006 Ajax 114 (9)
2006–2009 Internazionale 79 (2)
2009–2012 Barcelona 57 (0)
2012– Paris Saint-Germain 107 (9)
Đội tuyển quốc gia
2004 U-23 Brasil 6 (0)
2013–2014 Brasil 10 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào ngày 21 tháng 11 năm 2015.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Maxwell Scherrer Cabelino Andrade (sinh ngày 27 tháng 8 năm 1981), thường được gọi là Maxwell, là một cầu thủ bóng đá Brasil hiện đang chơi cho câu lạc bộ Paris Saint Germain tại Ligue 1. Anh là một hậu vệ trái.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ajax[sửa | sửa mã nguồn]

Maxwell bắt đầu sự nghiệp của mình tại CLB Cruzeiro - Brazil. Tháng 6 năm 2001, anh đã ký một hợp đồng 3 năm với Ajax. Mùa giải mà anh chơi tốt nhất cho Ajax là mùa giải 2003-04. Anh chỉ không thi đấu 3 trận cho nhà vô địch Eredivisie vì nhiệm vụ ĐTQG và trở thành cầu thủ của năm giải VĐQG Hà Lan.

Tháng 4 năm 2005, anh bị chấn thương nặng và không chơi cho Ajax một trận nào nữa.

Inter Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Hợp đồng của Maxwell với Ajax đã được rút ngắn để hết hạn vào ngày 2 tháng 1 năm 2006, do đó anh có thể gia nhập Inter theo hình thức chuyển nhươ ngdtư o. Do EU không yêu cầu đăng ký hạn ngạch hàng năm, anh đã được ký kết bởi Empoli cho đến cuối mùa trước khi chính thức chuyển đến Inter trong một thoả thuận tương tự như của Júlio César đến Chievo, tuy nhiên, anh không thi đấu trận nào.

Trong tháng 7 năm 2006, Inter chính thức công bố việc ký kết Maxwell 4 năm hợp đồng như là một vụ chuyển nhượng trong nước.

Maxwell thi đâấu n tượng trong mùa giải đầu tiên tại Serie A, nhất là trong trận gặp Parma FC tại San Siro khi anh ghi bàn sau một nỗ lực solo tốt mà được bình chọn là bàn thắng đẹp nhất của Inter trong mùa giải bởi người xem kênh Inter bi

Ban đầu anh được đặt ở vị trí hậu vệ trái, mùa 2007-08, anh chơi nhiều vị trí sau khi Cristian Chivu chân thương. Khi Chivu trở lại, Maxwell tla i chơi ơi viề triu tiê n vên caành trayi trở nên rất có hiệu quả như Maxwell thích nghi tốt với vai trò cầu thủ chạy cánh đó nhờ vào tốc độ của anh. Trong mùa giải đó, ông đã giàanhđược Scudetto thứ hai liên tiếp của ông vớ Trong 2008-09, ômuna giagi bị chấn anh ng nghiêm trọng khi mùa giải đã diễn ra sáu tuần. Tuy nhiên, sau khi khi trở lại anh luôn ra sân, anh luôn có vị trí trong đội hình chính thức trước. Anh ghi bàn thắng thứ hai của mình cho Inter ngày 14 tháng 12 vào lưới Chievo Verona, trận mà họ chiến thắng 4-2 sau một pha kiến tạo đẹp từ Dejan Stankovic.

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 7 năm 2009, có thông báo rằng FC BarcelonaInter Milan đã đạt được thỏa thuận để Maxwell gia nhập câu lạc bộ Catalan với mức giá € 4.5m và 0.5m sau này. Nó có nghĩa rằng Barcelona là câu lạc bộ thứ ba Maxwell chơi cùng Zlatan Ibrahimović, sau khi lần đầu tiên chơi cùng nhau tại Ajax Amsterdam và sau đó Inter trước khi gia nhập Barcelona. Hai ngày sau Maxwell đã ký hợp đồng 4+1 năm và đã được giới như là một tân binh của Barca. Maxwell bắt đầu sự nghiệp của mình cho câu lạc bộ ở trận thứ hai của 2009 Supercopa de España khi chơi tất cả 90 phút.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Maxwell được triệu tập năm 2004 cho giải CONMEBOL Nam trước Olympic đấu với Brazil U-23 trong tháng 1 năm 2004. Trong tháng 10 năm 2004, anh nhận được lần gọi đầu tiên của mình lên cho đội tuyển quốc gia cho các trận đấu vòng loại World Cup, nhưng đã không ra sân lần nào. Sau World Cup 2014, Maxwell tuyên bố chia tay đội tuyển Brasil chỉ sau 1 năm gắn bó.

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 21 tháng 11, 2015
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch quốc gia Cúp quốc gia Châu Âu Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Ajax
2001–02 24 0 2 0 2 0 28 0
2002–03 30 4 1 0 10 0 41 4
2003–04 31 2 2 0 7 0 40 2
2004–05 29 3 4 0 5 0 38 3
2005–06 0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng cộng 114 9 9 0 24 0 147 9
Internazionale
2006–07 22 1 0 0 2 0 24 1
2007–08 32 0 0 0 7 0 39 0
2008–09 25 1 0 0 4 0 29 1
Tổng cộng 79 2 0 0 13 0 92 2
Barcelona
2009–10 25 0 4 0 7 0 36 0
2010–11 25 0 9 1 7 0 41 1
2011–12 7 0 2 1 3 0 12 1
Tổng cộng 57 0 15 2 17 0 89 2
Paris Saint-Germain 2011–12 14 1 1 0 0 0 15 1
2012–13 33 2 5 0 10 1 48 3
2013–14 24 3 4 0 8 0 36 3
2014–15 26 3 2 1 8 0 36 4
2015–16 10 0 0 0 0 0 10 0
Tổng cộng 107 9 12 1 26 1 150 11
Tổng cộng sự nghiệp 357 20 36 3 75 1 469 24

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ajax[sửa | sửa mã nguồn]

Internazionale[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ Hà Lan của năm: 2004

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]