Victor Moses

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Victor Moses
Victor Moses 1.png
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Victor MosesVictor Moses[1]
Ngày sinh 12 tháng 12, 1990 (23 tuổi)
Nơi sinh Lagos, Nigeria
Chiều cao 1,77 m (5 ft 9 12 in)
Vị trí Tiền đạo cánh, Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Liverpool (mượn từ Chelsea)
CLB trẻ
2004–2007 Crystal Palace
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2007–2010 Crystal Palace 58 (11)
2010–2012 Wigan Athletic 73 (8)
2012– Chelsea 22 (1)
2013- Liverpool (cho mượn) 15 (1)
Đội tuyển quốc gia
2005 U-16 Anh 1 (0)
2006–2007 U-17 Anh 15 (9)
2008-2009 U-19 Anh 12 (2)
2010 U-21 Anh 1 (0)
2012- Nigeria 17 (6)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 23 tháng 2, 2014.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 16 tháng 11, 2013 (UTC)

Victor Moses (sinh ngày 12 tháng 12 năm 1990) là cầu thủ bóng đá người Nigeria đang chơi tại giải Ngoại hạng Anh cho câu lạc bộ Liverpool theo bản hợp đồng cho mượn từ Chelseađội tuyển Nigeria. Vị trí sở trường của anh là bên cánh trái dù là tiền đạo hay tiền vệ. Sinh ra ở Nigeria, anh bắt đầu sang Anh năm 11 tuổi và đã chơi cho các đội U-16, U-17, U-19 và U-21 của Anh nhưng anh đã chọn Nigeria làm đội tuyển quốc gia của mình.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Crystal Palace[sửa | sửa mã nguồn]

Moses sinh ra tại Lagos, Nigeria.[1] Năm 11 tuổi, cha mẹ anh trở thành nạn nhân của các cuộc bạo động tôn giáo ở Nigeria[2] và sau đó anh phải tị nạn đến Anh.[3] Anh học trường Trung học Kỹ thuật Stanley tại South Norwood, sau đó được các tuyển trách viên của câu lạc bộ Crystal Palace phát hiện và Moses đã đồng ý vào học viện đào tạo trẻ của câu lạc bộ.

Một thời gian ngắn sau khi gia nhập học viện, Palace đã đề nghị anh chuyển đến học tại trường Whitgift ở Croydon, nơi có huấn luyện viên Steve Kember và cựu danh thủ Colin Pates đang tham gia huấn luyện đội bóng trường này, với hi vọng cơ sở vật chất và huấn luyện viên của Whitgift sẽ phút phát triển tài năng của Moses.

Moses ở tuổi 14 đã ghi 50 bàn cho đội trẻ U-14 của Palace và giúp Whitgift vô địch nhiều giải đấu trường, trong đó có Giải Quốc gia, trong đó có 5 bàn trong trận chung kết với trường Healing tại ở sân vận động Walkers, Leicester.[3]

Anh có trận đấu tiên tại Giải hạng Nhất vào ngày 6 tháng 11 năm 2007 trong trận sân khách với Cardiff. Trong đội hình chính của Palace, Moses đã ghi ba bàn trong mùa giải 2007-08. Tháng 7 năm 2008, anh gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ đến năm 2012.[4] Tuy nhiên mùa giải sau đó anh chỉ ghi được hai bàn.

Wigan Athletic[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 1 năm 2010, Moses hoàn tất vụ chuyển nhượng trị giá 2,5 triệu £ đến câu lạc bộ tại Premier LeagueWigan Athletic.[5] Ngày 6 tháng 2 năm 2010, anh có trận đấu đầu tiên cho Wigan khi vào sân thay người trong trận hòa Sunderland 1–1.[6] Ngày 20 tháng 3 năm 2010, Moses vào sân từ băng ghế dự bị trong trận đấu với Burnley và có đường chuyền thành bàn đầu tiên cho Hugo Rodallega trong những phút bù giờ.[7] Bàn thắng đầu tiên của anh cho Wigan đến vào ngày 3 tháng 5 năm 2010 trong trận hòa 2-2 với Hull City.[8]

Moses đã gặp phải hai chấn thương vào đầu mùa giải 2010-11[9] và gặp khó khăn trong việc cạnh tranh suất đá chính sau đó. Anh có bàn thắng đầu tiên trong Giải ngoại hạng mùa này khi ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu ngày 13 tháng 11 năm 2010 với West Bromwich Albion.[10]

Khi Charles N'Zogbia ra đi, Moses trở thành cầu thủ đá chính thường xuyên cho Wigan trong mùa giải 2011-12.

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 8 năm 2012, cuộc đàm phán giữa Wigan và Chelsea về việc chuyển nhượng Moses đã thành công sau bốn lần đàm phán bất thành trước đó.[11] Ước tính phí chuyển nhượng của anh là 9 triệu bảng.[12] Ngày 24 tháng 8, anh chính thức là cầu thủ của câu lạc bộ Chelsea sau khi hoàn tất thủ tục kiểm tra y tế.[13] Tại Chelsea, Moses khoác áo số 13, số áo trước đây thuộc về tiền vệ người Đức Michael Ballack.[14]

Ngày 15 tháng 9, Moses có trận đấu đầu tiên cho Chelsea tại Premier League trên sân Loftus Road của QPR khi vào sân từ băng ghế dự bị. Trận đấu đã kết thúc với tỷ số 0-0.[15] Bàn thắng đầu tiên của anh cho The Blues đến trong chiến thắng 6-0 tại vòng 3 Cúp Liên đoàn trước Wolverhampton [16] Ngày 31 tháng 10 năm 2012, anh được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu vòng 4 Cúp liên đoàn giữa Chelsea và Manchester United, trận đấu mà Chelsea đã thắng 5-4.[17]

Ngày 3 tháng 11, Moses có bàn thắng đầu tiên tại Premier League trong màu áo Chelsea khi ghi bàn mở tỉ số trong trận hòa 1-1 với Swansea City.[18] 4 ngày sau đó, anh trở thành người hùng của Chelsea khi ghi bàn thắng ở những phút bù giờ để đem lại chiến thắng 3-2 trước Shakhtar Donetsk tại lượt trận thứ tư vòng bảng UEFA Champions League 2012-13.[19]

Moses có bàn thắng đầu tiên trong năm 2013 trong chiến thắng 5-1 trước Southampton tại vòng 3 cúp FA 2013.[20] Ngày 5 tháng 4 năm 2013, anh có bàn thắng đầu tiên tại Cúp UEFA Europa League với bàn thắng nâng tỉ số lên 2-0 trong chiến thắng 3-1 trước Rubin Kazan.[21]

Liverpool[sửa | sửa mã nguồn]

Sự có mặt của các tân binh WillianAndré Schürrle ở mùa giải 2013-14 đã khiến cho vị trí của Moses tại Chelsea không còn được bảo đảm. Ngày 1 tháng 9 năm 2013, Liverpool đã chính thức mượn được Moses trong thời hạn một mùa giải với khoản phí 1 triệu £.[22] Ngay trong trận đầu tiên ra mắt Liverpool vào ngày 16 tháng 9 gặp Swansea, anh đã có pha lập công nâng tỉ số lên 2-1.[23] Ngày 25 tháng 1 năm 2014, anh ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 2-0 trước Bournemouth tại vòng 4 Cúp FA.[24]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội trẻ Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù sinh ra tại Nigeria, Moses đã chọn thi đấu cho đội trẻ U-16 của Anh và giành danh hiệu Victory Shield năm 2005. Năm 2007, anh cùng đội tuyển U-17 Anh tham dự Giải vô địch U-17 Châu Âu tại Bỉ. Tại giải đấu này anh ghi được 3 bàn (cú đúp trong trận gặp U-17 Hà Lan[25] và bàn thắng duy nhất trong trận bán kết với U-17 Pháp[26]), giành được danh hiệu Chiếc giày Vàng và đội tuyển U-17 Anh đứng thứ hai giải đấu sau U-17 Tây Ban Nha. Cùng năm đó, anh tiếp tục cùng U-17 Anh tham dự Giải vô địch U-17 thế giới, ghi được 3 bàn ở vòng bảng nhưng U-17 Anh bị loại ở tứ kết.

Moses sau đó tiếp tục được gọi vào đội tuyển U-19 Anh, tham dự Giải vô địch U-19 Châu Âu nhưng U-19 Anh bị loại ngay vòng bảng. Đầu mùa giải 2010-2011, anh được gọi vào đội tuyển U-21 Anh và có trận đầu tiên gặp U-21 Uzbekistan.[27]

Nigeria[sửa | sửa mã nguồn]

Moses được gọi vào Nigeria cho trận đấu với Guatemala vào tháng 2 năm 2011, nhưng trận giao hữu này đã bị hoãn.[28] 1 tháng sau, anh lại được triệu tập cho các trận đấu với EthiopiaKenya.[29] Tuy nhiên, anh không được thi đấu do việc đăng kí đổi quốc tịch của anh với FIFA chưa hoàn tất. Phải đến ngày 1 tháng 11 năm 2011, FIFA chính thức cho Moses và Shola Ameobi khoác áo Nigeria.[30] Anh có trận đấu đầu tiên cho Nigeria vào ngày 29 tháng 2 năm 2012 trong trận gặp Rwanda.

Ngày 13 tháng 10 năm 2012, anh có bàn thắng đầu tiên cho Nigeria với một cú đúp trong chiến thắng 6-1 trước Liberia và đưa đội bóng chính thức giành vé tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2013.[31]

Moses được triệu tập vào danh sách đội tuyển Nigeria tham dự CAN 2013, giải đấu chính thức đầu tiên của anh trong màu áo đội tuyển quốc gia Nigeria.[32] Ngày 29 tháng 1, trong trận đấu cuối cùng của vòng bảng với Ethiopia, anh đã lập cú đúp đều từ chấm phạt đền giúp Nigeria lọt vào vòng sau ở vị trí nhì bảng.[33] Chung cuộc, Nigeria đã giành chức vô địch châu lục lần đầu tiên kể từ năm 1994 và Moses cũng giành được danh hiệu Cầu thủ thi đấu Fair Play nhất giải đấu.[34]

Ngày 16 tháng 11, Moses ghi bàn thắng mở tỉ số trong chiến thắng 2-0 trước Ethiopia tại lượt về vòng loại World Cup khu vực Châu Phi lượt đấu cuối cùng, chính thức đưa Nigeria tham dự World Cup 2014 tại Brasil.[35] Thành tích xuất sắc trong màu áo đội tuyển và câu lạc bộ trong năm 2013 đã giúp anh giành danh hiệu Cầu thủ Nigeria xuất sắc nhất năm vào ngày 27 tháng 11. Sau khi nhận giải thưởng, Moses đã chia sẻ trên Twitter rằng: "Đó là giấc mơ trở thành sự thật khi chơi cho đất nước của mình, tôi rất cảm ơn các bạn."[36]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

CLB Mùa giải Giải vô địch quốc gia Giải đấu cúp[37] Châu Âu Các giải đấu khác Tổng
Cấp giải đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Crystal Palace 2007–08 Hạng nhất Anh 13 3 1 0 0 0 2[38] 0 16 3
2008–09 Hạng nhất Anh 27 2 3 0 2 0 32 2
2009–10 Hạng nhất Anh 18 6 1 0 2 0 21 6
Tổng cộng 58 11 5 0 4 0 2 0 69 11
Wigan Athletic 2009–10 Ngoại hạng Anh 14 1 0 0 0 0 14 1
2010–11 Ngoại hạng Anh 21 1 2 0 3 1 26 2
2011–12 Ngoại hạng Anh 38 6 1 0 0 0 39 6
2012–13 Ngoại hạng Anh 1 0 0 0 0 0 1 0
Tổng cộng 74 8 3 0 3 1 80 9
Chelsea 2012–13 Ngoại hạng Anh 22 1 5 2 3 2 10[39] 5 2[40] 0 42 10
Tổng cộng 22 1 5 2 3 2 10 5 2 0 42 10
Tổng cộng sự nghiệp 154 20 13 2 10 3 10 5 4 0 191 30

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 13 tháng 10, 2012 Sân vận động U. J. Esuene, Calabar, Nigeria  Liberia 6–1 Thắng Vòng loại CAN 2013
2 13 tháng 10, 2012 Sân vận động U. J. Esuene, Calabar, Nigeria  Liberia 6–1 Thắng Vòng loại CAN 2013
3 29 tháng 1, 2013 Sân vận động Royal Bafokeng, Rustenburg, Nam Phi  Ethiopia 2–0 Thắng CAN 2013
4 29 tháng 1, 2013 Sân vận động Royal Bafokeng, Rustenburg, Nam Phi  Ethiopia 2–0 Thắng CAN 2013
5. 7 tháng 9, 2013 Sân vận động U.J. Esuene, Calabar, Nigeria  Malawi 2–0 2–0 Vòng loại World Cup 2014
6. 16 tháng 11, 2013 Sân vận động U.J. Esuene, Calabar, Nigeria  Ethiopia 1–0 2–0 Vòng loại World Cup 2014

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Chelsea

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

U-16 Anh

Đội tuyển quốc gia Nigeria

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ Nigeria xuất sắc nhất năm: 2013
  • Chiếc giày Vàng Giải vô địch bóng đá U-17 Châu Âu 2007
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất tháng của Football League: Tháng 12 năm 2009.[41]
  • Cầu thủ thi đấu Fair Play nhất Cúp bóng đá châu Phi 2013.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Hugman, Barry J. biên tập (2010). The PFA Footballers' Who's Who 2010–11. Mainstream Publishing. tr. 297. ISBN 978-1-84596-601-0. 
  2. ^ Holt, Oliver (18 tháng 2 năm 2009). “Crystal Palace starlet Victor Moses was playing street football with a 'sticky tape' ball when he heard both his parents had been murdered.”. The Mirror (London). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ a ă Kelso, Paul (20 tháng 5 năm 2005). “14-year-old asylum seeker becomes school's football hero”. The Guardian (London). Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2008. 
  4. ^ “Moses Signs Four Year Deal”. Crystal Palace F.C. 28 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011. 
  5. ^ SAMI MOKBEL (31 tháng 1 năm 2010). “Victor Moses makes a £2.5m exodus from Crystal Palace to Wigan”. Mail Online. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  6. ^ “Sunderland 1–1 Wigan”. BBC Sport. 6 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. 
  7. ^ “Victor-ious”. 22 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  8. ^ “Wigan 2–2 Hull”. BBC. 3 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  9. ^ “Wigan Athletic winger Victor Moses wants Tottenham Hotspur shot > Wigan Athletic FC > Sport”. Click Lancashire. 26 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012. 
  10. ^ Witcoop, Darren (14 tháng 11 năm 2010). “Moses and N'Zogbia lead Wigan out of wilderness”. The Independent (London). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  11. ^ “Club confirm Victor Moses bid accepted”. Wigan Athletic F.C. 23 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2012. 
  12. ^ “Chelsea đạt được thỏa thuận chiêu mộ Moses từ Wigan”. Dân trí. 24 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2012. 
  13. ^ “Moses Transfer Completed”. Chelseafc.com. 24 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2012. 
  14. ^ “CÔNG BỐ SỐ ÁO CHÍNH THỨC CỦA BỘ ĐÔI TÂN BINH”. Chelseafc.com.vn. 28 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012. 
  15. ^ “VICTOR MOSES: CHO LẦN ĐẦU TIÊN”. Chelseafc.com.vn. 18 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012. 
  16. ^ James McManus (25 tháng 9 năm 2012). “Player Ratings: Chelsea 6-0 Wolves”. Goal.com. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  17. ^ “ROBERTO Di Matteo reveals : Moses, my trickster”. The Nation Newspaper. 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  18. ^ “Swansea 1-1 Chelsea”. ESPN Soccernet. 3 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2012. 
  19. ^ “MOSES HẠNH PHÚC VỚI BÀN THẮNG VÀNG”. Chelseafc.com.vn. 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2012. 
  20. ^ “Tân binh Demba Ba lập cú đúp, Chelsea đại thắng Southampton”. Dân trí. 5 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2013. 
  21. ^ “Chấm điểm Chelsea 3-1 Rubin Kazan: Ngày của Cascadeur”. Bóng Đá +. 5 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2013. 
  22. ^ “Guardian: Liverpool to sign Moses”. The Guardian. 1 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013. 
  23. ^ “Màn trình diễn 'kỳ quặc' của Jonjo Shelvey khiến Swansea và Liverpool chia điểm tại Liberty”. Bongda.com.vn. 17 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2013. 
  24. ^ “Bournemouth 0 - 2 Liverpool”. BBC Sport. 25 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  25. ^ “Slick England reach last four”. UEFA.com. 7 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011. 
  26. ^ “Moses sends England into final”. UEFA.com. 10 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011. 
  27. ^ “Teamsheets”. TheFA.com. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012. 
  28. ^ Ameobi, Moses get Nigeria call, kickoff.com, 2011-01-14
  29. ^ “Victor Moses gets late Nigeria call”. BBC News. 24 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012. 
  30. ^ “Fifa clears Shola Ameobi, Moses to play for Nigeria”. BBC Sport. 1 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  31. ^ “Eagles through to SA”. Daily Times Nigeria. 13 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2012. 
  32. ^ “ĐỘI TUYỂN NIGERIA ĐÃ SẴN SÀNG CHO CHIẾN DỊCH CAN 2013”. Chelseafc.com.vn. 20 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  33. ^ “Bảng C - CAN 2013: Moses lập đại công, Nigeria vào tứ kết”. Bóng Đá +. 30 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  34. ^ “Mikel, Moses win MVP, Fair Play awards”. Soccerstarng.com. 11 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013. 
  35. ^ “Nigeria 2 Ethiopia 0: Moses penalty and Obinna free-kick secure Super Eagles' flight to World Cup in Brazil”. Mail Online. 16 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  36. ^ “Moses claims top Nigerian honour”. Liverpool FC. 27 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  37. ^ Bao gồm Cúp FA, Cúp Liên đoànFA Community Shield
  38. ^ Play-of giải hạng nhất 2008
  39. ^ 4 trận và 1 bàn tạiUEFA Champions League, 6 trận và 4 bàn tại UEFA Europa League
  40. ^ Tại FIFA Club World Cup
  41. ^ “Football League Young Player of the Month 2009/10”. The Football League. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]