Olivier Giroud

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Olivier Giroud
Olivier Giroud vs Liverpool - 2 November 2013 (cropped).jpg
Giroud chơi cho Arsenal năm 2013
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Olivier Giroud[1]
Ngày sinh 30 tháng 9, 1986 (30 tuổi)
Nơi sinh Chambéry, Pháp
Chiều cao 1,92 m (6 ft 4 in)[2]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Arsenal
Số áo 12
CLB trẻ
1994–1999 Froges
1999–2005 Grenoble
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2005–2008 Grenoble 23 (2)
2007–2009 Istres (cho mượn) 33 (14)
2008–2010 Tours 44 (24)
2010–2012 Montpellier HSC 73 (33)
2010 Tours (cho mượn) 17 (6)
2012– Arsenal 138 (59)
Đội tuyển quốc gia
2011– Pháp 59 (21)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào ngày 29 tháng 10 năm 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào ngày 15 tháng 11 năm 2016

Olivier Giroud (phát âm tiếng Pháp: [ɔlivje ʒiʁu]; sinh ngày 30 tháng 9 năm 1986 tại Chambéry) là một cầu thủ bóng đá người Pháp đang chơi cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp và câu lạc bộ Arsenal của giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Anh chơi ở vị trí tiền đạo và được biết đến là một tiền đạo có khả năng dứt điểm, làm tường và chơi bóng bằng đầu rất tốt.

Anh khởi nghiệp từ Grenoble tại giải Ligue 2 trước khi gia nhập Tours vào năm 2008. Trong mùa giải thứ hai cùng Tours, anh trở thành vua phá lưới với 21 bàn thắng, bước tiến giúp anh gia nhập đội hạng nhất Montpellier. Và một lần nữa Giroud lại trở thành vua phá lưới với 21 bàn thắng ở mùa giải 2011-12, giúp đội nhà lên ngôi vô địch Ligue 1 lần đầu tiên trước khi chuyển đến Arsenal. Giroud đoạt hai cúp FA với Arsenal năm 20142015, đồng thời là một trong bảy cầu thủ duy nhất ghi được 50 thắng tại Premier League cho câu lạc bộ.

Giroud có trận đấu ra mắt quốc tế cho đội tuyển Pháp vào năm 2011. Anh đã có 55 lần khoác áo đội tuyển quốc gia và là một phần của tuyển Pháp giúp đội đi đến trận chung kết Euro 2016 khi giải đấu đó Pháp là chủ nhà và giành ngôi á quân.

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Giroud sinh ra ở Chambéry, Pháp trong vùng Rhône-Alpes, nhưng được nuôi lớn ở ngôi làng kế bên Froges, gần Grenoble.[3] Giroud khởi nghiệp cầu thủ bóng đá khi chơi cho câu lạc bộ quê nhà Olympique Club de Froges. Anh có sáu năm tập luyện ở đội bóng trước khi gia nhập câu lạc bộ chuyên nghiệp Grenoble năm 13 tuổi.[3]

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Grenoble[sửa | sửa mã nguồn]

Giroud trải qua năm năm phát triển ở học viện trẻ của Grenoble trước khi kí hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên của mình ở tuổi 21. Sau đó anh thừa nhận rằng việc kí hợp đồng đầu tiên của mình là một phần quan trọng trong quá trình phát triển của anh khi là một cầu thủ, anh phát biểu: "Đội đã đưa tôi bản hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên của mình để trở thành nhận thức về khả năng của tôi. Nếu bạn [một câu lạc bộ] tin tưởng tôi, đó là bởi tôi phải có một vài phẩm chất tốt".[4] Trước mùa 2005-2006, anh được đôn lên đội dự bị của đội bóng đang chơi ở Championnat de France Amateur 2, giải hạng năm của bóng đá Pháp. Giroud nhanh chóng trở thành cầu thủ quan trọng trong đội với 15 bàn thắng sau 15 trận.[4] Màn trình diễn của anh với đội hình dự bị trong khoảng bảy tháng khiến anh được gọi vào đội một vào tháng ba năm 2006 bởi huấn luyện viên Thierry Goudet. Giroud có trận ra mắt chuyên nghiệp của mình ở cuối trận hòa Gueugnon tại Ligue 2.[5]

Cho mượn đến Istres[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nỗ lực nhằm tìm kiếm một vài lần ra sân, Giroud đã giành mùa bóng 2007-08 dưới dạng cho mượn tại IstresChampionnat National, giải hạng ba của bóng đá Pháp.[4] Dưới sự dìu dắt của huấn luyện viên Frédéric Arpinon, anh tiếp tục quá trình phát triển thành một tiền đạo và trong trận đấu thứ hai của mình với câu lạc bộ, anh có được bàn thắng đầu tiên trong chiến thắng 2-1 trước Laval.[6] Hai tuần sau đó, Giroud tiếp tục ghi bàn trong những trận đấu lội ngược dòng trước VannesCréteil.[7][8] Anh còn lập cú đúp đầu tiên của mình trong mùa giải trong trận thắng 2-0 khi đối đầu Arles-Avignon.[9] Hai tuần tiếp đó, Giroud lặp lại thành tích này lần nữa, lần này là trong chiến thắng 3-2 trước Pau.[10] Sau khi trải qua tháng 11 và 12 mà không ghi bất cứ bàn thắng nào, Giroud nổ súng trở lại trong trận thua trước Vannes và chiến thắng 2-0 trước Beauvais.[11][12] Anh hoàn thành chiến dịch bằng việc ghi bàn trong tháng 4 của giải đấu trước ParisMartigues, nâng tổng số bàn thắng anh ghi được cho Istres lên con số 14.[13][14] Trong số 14 bàn thắng ấy Giroud chỉ ghi vỏn vẹn bốn bàn ở Stade Parsemain, sân nhà của Istres.[15]

Tours[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 5 năm 2008, có thông tin cho biết Giroud đã đồng ý một bản hợp đồng ba năm với câu lạc bộ ở giải Ligue 2 Tours. Tiền đạo này bị thuyết phục bởi giám đốc thể thao của đội bóng là ông Max Marty, người từng là giám đốc điều hành câu lạc bộ cũ của Giroud Grenoble.[4] Giroud cũng rất ưa thích vị huấn luyện viên của Tours là Daniel Sanchez khi phát biểu, "Luôn luôn là một điểm cộng khi có một cựu tiền đạo làm một huấn luyện viên. Lời khuyên của ông ấy đối với tôi thực sự giúp đỡ tôi rất nhiều. Với ông ấy tôi đã tiến bộ trong vị trí của mình và cả trước khung thành nữa".[4] Giroud được trao chiếc áo số 12 và bởi chấn thương, anh có trận ra mắt đội bóng ngày 3 tháng 8 năm 2008 trong trận thua 2-1 trước Boulogne ở Cúp quốc gia Pháp.[16] Anh có trận ra mắt giải vô địch quốc gia một tuần sau đó khi chơi trọn vẹn trận thắng 1-0 trước Nîmes.[17] Một tháng sau, Giroud ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ giúp mở tỉ số trong trận đấu với Lens. Trong hiệp đấu thứ hai, Giroud tiếp tục lập công để đem về chiến thắng 3-1.[18] Hai tuần sau, Giroud ghi bàn thắng thứ ba cho câu lạc bộ trong chiến thắng trước Ajaccio.[19]

Ngày 26 tháng 1 năm 2010, có thông tin cho biết đội bóng ở Ligue 1 là Montpellier đã kí hợp đồng với Giroud với bản hợp đồng ba năm rưỡi.[20] Mức phí chuyển nhượng là 2 triệu euro và nó cũng được công bố rằng Montpellier sẽ mượn Giroud từ Tours đến cuối mùa 2009-10.[20][21] Tiền đạo này thừa nhận việc chuyển đến Montpellier sẽ có lợi cho anh nhất khi phát biểu, "Tôi cảm thấy nơi đây (Montpellier), huấn luyện viên và đội ngũ nhân viên có thể giúp tôi thực sự tiến bộ. Môi trường thật lý tưởng, trung tâm huấn luyện rất tốt, nhóm khỏe mạnh và có một sân vận động tuyệt đẹp với một khán giả hưởng ứng thế này".[22] Ngay sau vụ chuyển nhượng, Giroud trải qua ba tuần mà không ghi bàn thắng nào cho tới ngày 19 tháng 2 năm 2010 với chiến thắng trước Arles-Avignon.[23] Hai tuần sau, anh ghi bàn duy nhất của đội trong trận thua 2-1 trước Nantes.[24] Ngày 19 tháng 3, anh lập cú đúp trong chiến thắng tử thủ khi đối đầu Châteauroux.[25] Một tuần sau, anh tiếp tục ghi bàn trong một chiến thắng tử thủ khác trước Strasbourg.[26] Sau bàn thắng vào lưới Strasbourg, Giroud có bảy trận tiếp theo không ghi bàn thắng, trước khi lập công trong trận đấu cuối cùng của mùa giải vào lưới Nîmes.[27] Anh kết thúc mùa giải với 42 lần ra sân và 24 bàn thắng. Giroud ghi 21 bàn tại giải và trở thành vua phá lưới của giải đấu. Sau mùa giải, anh được Hiệp hội cầu thủ chuyên nghiệp quốc gia (UNFP) bầu là cầu thủ xuất sắc nhất năm ở Ligue 2. Giroud cũng có tên trong đội hình tiêu biểu trong năm của giải đấu.[28]

Montpellier[sửa | sửa mã nguồn]

Giroud chính thức gia nhập Montpellier ngày 1 tháng 7 năm 2010. Anh đồng thời có trận ra mắt đội bóng và châu Âu vào ngày 29 tháng 7 trong trận lượt đi ở vòng sơ loại thứ ba UEFA Europa League của Montpellier với câu lạc bộ Hungary Győri ETO. Trong trận đấu, Giroud ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong hiệp đấu đầu tiên.[29] Montpellier thắng trận đấu một cách lịch sự nhờ bàn thắng của Giroud, nhưng bị đánh bại chung cuộc sau khi để thua trên chấm phạt đền trong trận lượt về.[30] Giroud có trận ra mắt giải vô địch quốc gia ở trận đấu đầu tiên trong chiến dịch của đội, chiến thắng 1-0 trước Bordeaux.[31] Ngày 28 tháng 8, anh ghi bàn thắng đầu tiên tại giải trong chiến thắng 1-0 trước Valenciennes.[32] Vào ngày 25 tháng 9, Giroud ghi hai bàn thắng trong chiến thắng trên sân nhà nhà khi tiếp đón Arles-Avignon.[33] Cú đúp nâng tổng số bàn thắng của anh trong những lần đối đầu với đội bóng vùng Bouches-du-Rhône lên con số chín. Một tuần sau đó, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận thua 3-1 của Montpellier trước Lille.[34] Vào tháng 11 năm 2010, Giroud đều ghi bàn trong các trận thắng ở hai tuần liên tiếp khi đối đầu ToulouseNice.[35][36]

Cúp Liên đoàn bóng đá Pháp, Montpellier đi đến trận chung kết của giải đấu một cách đáng ngạc nhiên.[37][38] Trong trận bán kết đối đầu Paris Saint-Germain, Giroud đã chơi trọn vẹn cả trận đấu, kể cả khi bước vào hiệp phụ. Trong 117 phút, anh ghi bàn giúp đưa Montpellier tới trận chung kết lớn đầu tiên của đội kể từ mùa giải 1993-94 khi câu lạc bộ lọt vào trận chung kết của Cúp Liên đoàn bóng đá Pháp.[39][40] Trong trận chung kết Cúp Liên đoàn bóng đá Pháp năm 2011, Montpellier đối đầu với Marseille và bị đánh bại 1-0 một cách lịch sự bởi bàn thắng của Taye Taiwo.[41][42] Giroud cũng chơi trọn vẹn trận đấu này.[43] Kể từ sau bàn thắng vào lưới Paris Saint-Germain, Giroud tịt ngòi trong gần hai tháng trước khi đạt được cả hai mục tiêu khi ghi bàn trở lại vào lưới cùng đội bóng này trong trận hòa 2-2 tại sân Parc des Princes.[44] Đến cuối của mùa giải, Giroud ghi bàn vào lưới đối thủ cho chức vô địch là Marseille và Lyon, nhưng Montpellier đều để thua cả hai trận đấu này.[45][46] Sau khi kết thúc mùa giải với vị thế chân sút hàng đầu của câu lạc bộ, ngày 31 tháng năm 2011, Giroud đã ký gia hạn hợp đồng với Montpellier cho đến năm 2014.[47]

Giroud khởi động chiến dịch mùa 2011-12 bằng việc ghi bàn ở hai trận đầu tiên trong mùa giải của đội khi chạm trán Auxerre và đương kim vô địch Lille.[48][49] Montpellier giành chiến thắng cả hai trận đấu trên. Sau khi lập cú đúp trong trận hòa 2-2 với Brest,[50] tờ báo Le Parisien của Pháp trìu mến gọi anh là le buteur de charme (tiền đạo quyến rũ).[51] Biệt danh đã ca ngợi khả năng ghi bàn của anh, cũng như cá tính và vẻ ngoài ưa nhìn, sau đó được một số phương tiện truyền thông khác tại Pháp sử dụng để mô tả cầu thủ.[52][53] Trong 18 trận của đội ở tất cả mọi đấu trường, Giroud đã thể hiện mình xứng đáng với biệt danh trên bằng việc ghi 13 bàn thắng. Hiệu suất ấn tượng bao gồm hai hat-trick vào lưới DijonSochaux,[54][55] lập công trong các trận thắng trước Nancy, Lyon và Nice, cũng như một bàn ở mỗi giải Cúp Liên đoàn bóng đá Pháp và Cúp quốc gia Pháp.[56][57][58][59][60]

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2012, Giroud gia nhập câu lạc bộ danh tiếng của giải Ngoại hạng AnhArsenal nhằm thay thế Robin Van Persie và từ đó trở thành tiền đạo số 1 của câu lạc bộ cho tới hiện tại. Mặc dù có những chỉ trích từ phía báo chí và các cổ động viên vì phong độ phập phù và thường xuyên bỏ lỡ những cơ hội một cách khó hiểu, nhưng Giroud vẫn nằm trong top những cầu thủ ghi bàn nhiều nhất giải Ngoại hạng Anh. Anh đã giành hai FA Cup năm 2014 và 2015 và cùng Arsenal luôn nằm trong top 4 Ngoại hạng Anh

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giroud chơi cho tuyển Pháp đối đầu Georgia ngày 22 tháng 3 năm 2013.

Trước khi đại diện cho đội tuyển quốc gia, Giroud chưa chơi một phút nào cho đội tuyển trẻ quốc gia. Năm 2001, anh được gọi lên đội U-16 bên cạnh những cầu thủ như Yoann Gourcuff, Yohan CabayeSylvain Marveaux bởi huấn luyện viên Pierre Mankowski để tham gia một trại huấn luyện ở học viện Clairefontaine.[61] Sau khi tham gia trại, Giroud không được gọi lên trong suốt thời gian chiến dịch U-16 từ 2001-02.

Ngày 3 tháng 11 năm 2011, trong nỗ lực nhằm tưởng thưởng cho màn trình diễn xuất sắc của Giroud trong màu áo Montpellier ở giải đấu nội địa, huấn luyện viên đội tuyển quốc gia Laurent Blanc đã đặt tên tiền đạo này vào đội hình để chơi trong các trận giao hữu gặp tuyển MỹBỉ lần lượt vào ngày 11 và 15 tháng 11 năm 2011.[62][63] Giroud miêu tả cuộc gọi là "một giấc mơ thuở nhỏ trở thành sự thật", trong khi cũng phát biểu rằng anh rất "vô cùng thỏa mãn và một đặc ân" để đại diện cho đội tuyển quốc gia.[64] Anh có trận ra mắt quốc tế đầu tiên của mình trong trận đối đầu tuyển Mỹ khi vào sân thay người. Pháp giành chiến thắng chung cuộc 1-0.[65] Trong trận gặp Bỉ, Giroud kiếm được một lần vào sân thay người khác khi trận đầu kết thúc với tỉ số 0-0.[66] Ngày 29 tháng 2 năm 2012, Giroud ghi bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp thi đấu quốc tế trong trận giao hữu thắng 2-1 trước tuyển Đức. Ba tháng sau anh có tên trong đội hình tham dự Euro 2012.[67] Hai ngày trước khi đợt công bố đội hình chính thức cuối cùng, Giroud kiến tạo hai bàn trong trận giao hữu thắng lội ngược dòng 3-2 của tuyển Pháp trước Iceland.[68]

Tại World Cup 2014 tổ chức tại Brasil, anh chỉ có được một bàn thắng trong trận thắng 5-2 của đội tuyển Pháp trước Thụy Sĩ.

Trong trận mở màn Euro 2016, Pháp đánh bại România 2-1. Giroud đánh dấu lần thứ 50 khoác áo tuyển Pháp bằng việc có tên trong đội hình xuất phát và chơi trọn vẹn cả trận đấu; anh ghi bàn mở tỉ số bằng pha đánh đầu thành bàn từ đường chuyền của Dimitri Payet ở phút thứ 57.[69][70] Ở vòng tứ kết, Giroud tiếp tục tỏa sáng với một cú đúp giúp đội chủ nhà Pháp giành chiến thắng 5-2 trước Iceland. Đội tuyển Pháp sau đó lọt vào trận chung kết và thua Bồ Đào Nha với tỉ số 0-1.

Cuộc sống ngoài bóng đá[sửa | sửa mã nguồn]

Giroud có một người anh trai tên Romain cũng là một cầu thủ bóng đá. Anh chơi ở học viện Auxerre và đại diện cho tuyển Pháp ở lứa U-15 và U-17, bên cạnh những cầu thủ như Thierry Henry, David TrezeguetNicolas Anelka, nhưng cuối cùng bỏ dở sự nghiệp chuyên nghiệp có tiềm năng để nghiên cứu và trở thành một chuyên gia dinh dưỡng.[71]

Giroud kết hôn với Jennifer từ năm 2011.[72] Con gái của họ, Jade được sinh ngày 18 tháng 6 năm 2013. Anh là một người theo Công giáo và có một hình xăm trên cánh tay phải từ Thánh Vịnh 23 trong tiếng Latin: "Dominus regit me et nihil mihi deerit" (Chúa là vị linh mục của tôi; Tôi sẽ không muốn). Anh miêu tả bản thân mình là "một người rất có đức tin [...] Tôi không vượt qua được bản thân trước những trận đấu của mình nhưng tôi ít khi cầu nguyện".[73]

Năm 2013 Giroud từng khỏa thân cho Dieux du Stade, một tờ lịch từ thiện của Pháp có sự góp mặt của những vận động viên nam khỏa thân để làm từ thiện.[74] Năm 2014 anh trở thành gương mặt của nhãn hiệu nước hoa nam Boss Bottled của Hugo Boss.[75] Tháng 2 năm 2015 Giroud được bình chọn là "cầu thủ Premier League nóng bỏng nhất".[76] Trong buổi phỏng vấn với GQ, anh trích dẫn David Beckham là nguồn cảm hứng cho cách anh nhìn, nói rằng "phong cách mang tính biểu tượng" của Beckham.[77]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Montpellier
Arsenal

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vua phá lưới Ligue 1: 2011-12
  • Đội hình của mùa giải Ligue 1 UNFP: 2011-12
  • Đội hình của mùa giải do Những người dùng Premierleague.com bình chọn: 2013-14[78]
  • Cầu thủ Premier League của tháng: tháng 3 năm 2015
  • Cầu thủ Arsenal của tháng: tháng 1 năm 2013, tháng 3 năm 2015[79]
  • Cầu thủ của năm Ligue 2 UNFP: 2009-10
  • Vua phá lưới Ligue 2: 2009-10
  • Đội hình của năm Ligue 2 UNFP: 2009-10
  • Cầu thủ UNFP của tháng Ligue 2: tháng 9 năm 2009, tháng 11 năm 2009.[80]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 2 tháng 11 năm 2016[81][82][83]
Câu lạc bộ Mùa Giải đấu Cúp[nb 1] Cúp quốc gia[nb 2] Cúp châu Âu[nb 3] Khác[nb 4] Tổng cộng
Hạng Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Grenoble 2005–06 Ligue 2 6 0 0 0 0 0 6 0
2006–07 17 2 1 0 1 0 19 2
Tổng cộng 23 2 1 0 1 0 25 2
Istres 2007–08 Championnat National 33 14 0 0 1 0 34 14
Tổng cộng 33 14 0 0 1 0 34 14
Tours 2008–09 Ligue 2 23 9 2 4 1 0 26 13
2009–10 38 21 1 0 2 2 41 23
Tổng cộng 61 30 3 4 3 2 67 36
Montpellier 2010–11 Ligue 1 37 12 1 0 3 1 2 1 43 14
2011–12 36 21 4 2 2 2 42 25
Tổng cộng 73 33 5 2 5 3 2 1 85 39
Arsenal 2012–13 Premier League 34 11 4 2 2 2 7 2 47 17
2013–14 36 16 5 3 1 0 9 3 51 22
2014–15 27 14 5 3 0 0 3 1 1 1 36 19
2015–16 38 16 5 3 2 0 8 5 1 0 54 24
2016–17 4 2 0 0 1 0 2 1 0 0 7 3
Tổng cộng 139 59 19 11 6 2 28 12 2 1 194 85
Tổng cộng sự nghiệp 329 127 28 15 16 7 30 13 2 1 405 176
Ghi chú

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 15 tháng 11 năm 2016.[84]
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn thắng
Pháp 2011 2 0
2012 12 2
2013 12 3
2014 9 4
2015 10 4
2016 14 8
Tổng cộng 59 21

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến trận đấu ngày 1 tháng 9 năm 2016.[85]
Bàn thắng quốc tế bằng ngày, địa điểm, số phút, đối thủ, bàn thắng, kết quả và giải đấu
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 29 tháng 2, 2012 Weserstadion, Bremen, Đức  Đức 1–0 2–1 Giao hữu
2 16 tháng 10, 2012 Sân vận động Vicente Calderón, Madrid, Tây Ban Nha  Tây Ban Nha 1–1 1–1 Vòng loại World Cup 2014
3 22 tháng 3, 2013 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Gruzia 1–0 3–1 Vòng loại World Cup 2014
4 11 tháng 10, 2013 Sân vận động Công viên các Hoàng tử, Paris, Pháp  Úc 2–0
6–0
Giao hữu
5 3–0
6 27 tháng 5, 2014 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Na Uy 2–0
4–0
Giao hữu
7 4–0
8 8 tháng 6, 2014 Sân vận động Pierre-Mauroy, Lille, Pháp  Jamaica 4–0 8–0
9 20 tháng 6, 2014 Arena Fonte Nova, Salvador, Brasil  Thụy Sĩ 1–0 5–2 World Cup 2014
10 29 tháng 3, 2015 Sân vận động Geoffroy-Guichard, Saint-Étienne, Pháp  Đan Mạch 2–0 2–0 Giao hữu
11 11 tháng 11, 2015 Sân vận động Parken, Copenhagen, Đan Mạch  Đan Mạch 1–0
2–0
12 2–0
13 13 tháng 11, 2015 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Đức 1–0 2–0
14 25 tháng 3, 2016 Amsterdam ArenA, Amsterdam, Hà Lan  Hà Lan 2–0 3–2
15 30 tháng 5, 2016 Sân vận động Beaujoire, Nantes, Pháp  Cameroon 2–1 3–2
16 4 tháng 6, 2016 Sân vận động Saint-Symphorien, Metz, Pháp  Scotland 1–0
3–0
17 2–0
18 10 tháng 6, 2016 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  România 1–0 2–1 Euro 2016
19 2 tháng 7, 2016 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Iceland 1–0
5–2
20 5–1
21 1 tháng 9, 2016 Sân vận động San Nicola, Bari, Ý  Ý 2–1 3–1 Giao hữu

Chú thích nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Barclays Premier League Squad Numbers 2013/14”. Premier League. Ngày 16 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2013. 
  2. ^ “Player Profile: Olivier Giroud”. Premier League. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012. 
  3. ^ a ă “Interview Olivier Giroud avant RC Strasbourg – Tours FC”. Tours FC (bằng tiếng French). 27 tháng 10 năm 2009. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  4. ^ a ă â b c “Olivier Giroud, buteur né”. Le Monde (bằng tiếng French). 30 tháng 10 năm 2011. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  5. ^ “Gueugnon v. Grenoble Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 24 tháng 3 năm 2006. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  6. ^ “Laval v. Istres Match Report”. Foot-National (bằng tiếng French). 11 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  7. ^ “Istres v. VannesMatch Report”. Foot-National (bằng tiếng French). 25 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  8. ^ “Créteil v. Istres Match Report”. Foot-National (bằng tiếng French). 1 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  9. ^ “Arles-Avignon v. Istres Match Report”. Foot-National (bằng tiếng French). 22 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  10. ^ “Pau v. Istres Match Report”. Foot-National (bằng tiếng French). 6 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  11. ^ “Vannes v. Istres Match Report”. Foot-National (bằng tiếng French). 26 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  12. ^ “Beauvais v. Istres Match Report”. Foot-National (bằng tiếng French). 16 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  13. ^ “Paris v. Istres Match Report”. Foot-National. 5 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  14. ^ “Martigues v. Istres Match Report”. Foot-National (bằng tiếng French). 19 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  15. ^ “Olivier Giroud: Saison 2007/2008 en National avec Istres”. Foot-National (bằng tiếng French). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  16. ^ “Tours v. Boulogne Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 3 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  17. ^ “Nîmes v. Tours Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 12 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  18. ^ “Tours v. Lens Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 20 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  19. ^ “Tours v. Ajaccio Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 31 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  20. ^ a ă “Olivier Giroud a signé”. Montpellier HSC (bằng tiếng French). 26 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  21. ^ “Olivier Giroud signe à Montpellier à partir de l'été”. Fédération Internationale de Football Association (bằng tiếng French). 26 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  22. ^ “Olivier Giroud: "Cette équipe me plait beaucoup". Montpellier HSC (bằng tiếng French). 26 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  23. ^ “Arles-Avignon v. Tours Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 19 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  24. ^ “Nantes v. Tours Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 5 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  25. ^ “Châteauroux v. Tours Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 19 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  26. ^ “Tours v. Strasbourg Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 26 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  27. ^ “Nîmes v. Tours Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 14 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  28. ^ “Trophées UNFP: Olivier Giroud à l'honneur”. Web MHSC (bằng tiếng French). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  29. ^ “Győr v. Montpellier Report”. Union of European Football Associations (bằng tiếng Pháp). 29 tháng 7 năm 2010. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  30. ^ “Montpellier v. Győr Report”. Union of European Football Associations (bằng tiếng Pháp). 5 tháng 8 năm 2010. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  31. ^ “Montpellier v. Bordeaux Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). 8 tháng 8 năm 2010. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  32. ^ “Valenciennes v. Montpellier Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). 28 tháng 8 năm 2010. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  33. ^ “Montpellier v. Arles-Avignon Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). 25 tháng 9 năm 2010. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  34. ^ “Lille v. Montpellier Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). 3 tháng 10 năm 2010. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  35. ^ “Montpellier v. Toulouse Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 13 tháng 11 năm 2010. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  36. ^ “Nice v. Montpellier Match Report”. Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng French). 20 tháng 11 năm 2010. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  37. ^ “Montpellier et Marseille en finale!” (bằng tiếng French). French Football Federation. 19 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2012. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  38. ^ “Une finale Olympique de Marseille – Montpellier Hérault SC” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 26 tháng 1 năm 2011. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  39. ^ “Montpellier v. Paris Saint-Germain Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 18 tháng 1 năm 2011. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  40. ^ “Late, late goal takes Montpellier through”. Ligue de Football Professionnel. 18 tháng 1 năm 2011. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  41. ^ “L'OM conserve son trophée!” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 23 tháng 4 năm 2011. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  42. ^ “Taiwo paye sa Coupe!” (bằng tiếng French). RMC Sport. 23 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2012. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  43. ^ “Marseille v. Montpellier Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 23 tháng 4 năm 2011. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  44. ^ “Paris Saint-Germain v. Montpellier Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 13 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  45. ^ “Montpellier v. Marseille Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 17 tháng 4 năm 2011. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  46. ^ “Lyon v. Montpellier Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 27 tháng 4 năm 2011. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  47. ^ “Giroud signs new Montpellier contract”. Fox Sports. 31 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2013. Truy cập 14 tháng 6 năm 2016. 
  48. ^ “Montpellier v. Auxerre Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  49. ^ “Lille v. Montpellier Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 14 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  50. ^ “Brest v. Montpellier Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 17 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  51. ^ “Giroud, le buteur de charme”. Le Parisien (bằng tiếng French, Javanese, và Malay). 17 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  52. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên giroud_charme
  53. ^ “Olivier Giroud, qui c'est celui-là?”. L'Express (bằng tiếng French). 10 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  54. ^ “Montpellier v. Dijon Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 15 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  55. ^ “Sochaux v. Montpellier Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 26 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  56. ^ “Montpellier v. Nancy Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 29 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  57. ^ “Montpellier v. Lyon Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 14 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  58. ^ “Nice v. Montpellier Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 28 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  59. ^ “Montpellier v. Lorient Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 26 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  60. ^ “Prix-Lès-Mézières v. Montpellier Report” (bằng tiếng French). Ligue de Football Professionnel. 8 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  61. ^ “La liste des participants au rassemblement du CTNFS” (bằng tiếng French). French Football Federation. 17 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  62. ^ “Top scorer Giroud joins France squad”. France24. 3 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  63. ^ “Giroud and Gonalons out to seize France chance”. Union of European Football Associations. 10 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  64. ^ “Le joueur du MHSC Olivier Giroud sélectionné en équipe de France” (bằng tiếng French). Midi Libre. 3 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  65. ^ “France 1–0 USA”. London: Guardian Media Group. 11 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  66. ^ “Belgium draws 0–0 at France in uneventful friendly”. Mail.com. 15 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  67. ^ “Yoann Gourcuff omitted as France announce Euro 2012 squad”. The Independent (London). 29 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  68. ^ “Ribery, France beat Iceland in Euro warm up”. Sports Illustrated. 27 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2012. 
  69. ^ “Payet's late stunner helps France floor Romania.”. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016. 
  70. ^ “Payet stunner gives hosts France opening win”. www.uefa.com. 10 tháng 6 năm 2016. 
  71. ^ “Arsenal's Olivier Giroud will add intelligence as well as robustness”. The Guardian. 25 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016. 
  72. ^ “Olivier Giroud and Wife Jennifer”. Tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2014. 
  73. ^ “Why Olivier Giroud wants to spend it like Beckham”. London Evening Standard. 20 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2014. 
  74. ^ “REVEALED! Olivier Giroud strips off for French charity calendar”. Daily Express. 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2015. 
  75. ^ “Arsenal star Giroud signs deal with Hugo Boss”. SportsPro Media. 11 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2015. 
  76. ^ “Olivier Giroud: Arsenal striker crowned 'hottest player' in the Premier League...and Burnley are the 'hottest' team”. The Independent. 11 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2015. 
  77. ^ “Will Arsenal be the most stylish team to ever win the FA Cup?”. GQ. 28 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2015. 
  78. ^ “Premierleague.com users' team of the season revealed”. Premier League. 25 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  79. ^ “Giroud is Vitality Player of the Month”. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  80. ^ “Trophées UNFP: Olivier Giroud: Palmarès & trophée”. National Union of Professional Footballers (bằng tiếng French). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2012. 
  81. ^ Thống kê thành tích thi đấu của Olivier Giroud tại Soccerbase
  82. ^ “Olivier Giroud Bio, Stats, News”. 
  83. ^ “Olivier Giroud”. 
  84. ^ “Giroud, Oliver”. National Football Teams. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2015. 
  85. ^ “Olivier Giroud - national football team player”. EU-Football.info. 5 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]