Marcel Sabitzer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Marcel Sabitzer
Marcel Sabitzer 2020 (cropped).jpg
Sabitzer với RB Leipzig năm 2020
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Marcel Sabitzer
Ngày sinh 17 tháng 3, 1994 (28 tuổi)
Nơi sinh Graz, Styria, Áo
Chiều cao 1,78 m (5 ft 10 in)[1]
Vị trí Tiền vệ tấn công
Tiền đạo
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Bayern Munich
Số áo 18
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2000–2001 Admira Villach
2001–2008 Grazer AK
2008–2009 Austria Wien
2009–2010 Admira Wacker
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2010–2012 Admira Wacker II 40 (15)
2010–2012 Admira Wacker 45 (10)
2013–2014 Rapid Wien 45 (10)
2014–2021 RB Leipzig 177 (40)
2014–2015Red Bull Salzburg (mượn) 33 (19)
2021– Bayern Munich 15 (1)
Đội tuyển quốc gia
2009–2010 U-16 Áo 7 (1)
2010–2011 U-17 Áo 9 (3)
2011 U-18 Áo 2 (0)
2012–2013 U-19 Áo 4 (5)
2012–2015 U-21 Áo 7 (1)
2012– Áo 60 (11)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến ngày 19 tháng 2 năm 2021
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia chính xác tính đến ngày 29 tháng 3 năm 2022

Marcel Sabitzer (sinh ngày 17 tháng 3 năm 1994) là một cầu thủ bóng đá người Áo đang chơi cho Bayern Munich tại BundesligaĐội tuyển bóng đá quốc gia Áo. Anh có thể thi đấu ở cả vị trí tiền đạo hoặc Tiền vệ tấn công.

Sabitzer ra mắt đội tuyển Áo vào tháng 6 năm 2012 và đã cùng đội tuyển nước này tham dự hai giải đấu lớn là UEFA Euro 2016UEFA Euro 2020.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Sabitzer bắt đầu chơi bóng từ năm 2000 cho đội trẻ của ESV Admira Villach và sau này lần lượt là đội trẻ Grazer AKSC Magna Wiener Neustadt.

Admira Wacker Mödling[sửa | sửa mã nguồn]

Đến mùa bóng 2009-10, Sabitzer là thành viên của cả hai đội trẻ U-17 và U-19 của Admira Wacker Mödling. Sau khi ghi 13 bàn trong 14 trận cho các đội trẻ này, anh được đôn lên đội hai của Admira Wacker Mödling. Chỉ một thời gian ngắn sau sinh nhật lần thứ 16 ngày 26 tháng 3 năm 2010, anh được huấn luyện viên Dietmar Kühbauer cho ra sân tại giải Regionalliga Ost.

Ngày 14 tháng 9 năm 2010, Sabitzer được chơi trận đấu chuyên nghiệp đầu tiên khi Kühbauer, giờ đây đã trở thành huấn luyện viên đội một Admira Wacker Mödling, quyết định trọng dụng anh. Anh có bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp trong trận thắng 3-0 trước FC Lustenau 07. Anh đã ghi được 2 bàn thắng trong 8 lần ra sân tại giải Bundesliga Áo mùa 2010–11.[2]

Rapid Wien[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2013, anh ký hợp đồng thi đấu cho Rapid Wien đến tháng 6 năm 2014.

RB Leipzig[sửa | sửa mã nguồn]

Cho mượn đến Red Bull Salzburg[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 5 năm 2014, anh ký hợp đồng 4 năm với RB Leipzig và được cho Red Bull Salzburg mượn một mùa giải.[3] Tại đây, anh ghi được 27 bàn thắng sau 51 lần ra sân trên mọi đấu trường. Vào ngày 1 tháng 4 năm 2016, Sabitzer được Leipzig gia hạn hợp đồng đến năm 2021.[4]

Trở lại RB Leipzig[sửa | sửa mã nguồn]

Sabitzer trở lại RB Leipzig trong mùa giải 2015–16 và trở thành nhân tố quan trọng với 8 bàn thắng và 5 pha kiến tạo sau 32 trận giúp câu lạc bộ thăng hạng Bundesliga với thành tích đứng thứ nhì tại 2. Bundesliga.[5]

2016-17[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 8 năm 2016, anh có lần đầu ra sân tại Bundesliga trong trận hòa 2-2 với TSG 1899 Hoffenheim và đã có pha lập công gỡ hòa 2-2 cho Leipzig ở phút 90 của trận đấu.[6] Ngày 29 tháng 10, anh vào sân ở phút 51 thay cho Yussuf Poulsen và lập cú đúp giúp Leipzig đánh bại SV Darmstadt 98 2-0, duy trì chuỗi trận bất bại từ đầu mùa của Leipzig.[7] Chiến thắng 4-1 trên sân SC Freiburg trong đó có một bàn thắng của Sabitzer giúp Leipzig dù mới lên hạng tiếp tục ngự trị trên đỉnh Bundesliga.[8]

Ngày 28 tháng 1 năm 2017, anh ghi bàn ấn định chiến thắng 2-1 trước Hoffenheim, chấm dứt chuỗi trận bất bại từ đầu mùa của đối thủ.[9] Ngày 5 tháng 4, anh mở tỉ số trong chiến thắng 3-2 trước Mainz để củng cố vị trí nhì bảng Bundesliga của Leipzig.[10] Ngày 13 tháng 5, anh là người mở màn cho bữa tiệc 9 bàn thắng tại Red Bull Arena với thắng lợi sau cùng 5-4 thuộc về Bayern München, đội cũng đã vô địch Bundesliga trước đó.[11] Anh tiếp tục lập công trong trận đấu vòng cuối cùng một tuần sau đó hòa Eintracht Frankfurt 2-2.

2019-20[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 8 năm 2019, Sabitzer lập cú đúp ngay trận mở màn mùa giải mới đánh bại đội bóng VfL Osnabrück tại vòng hai Cúp bóng đá Đức. Đây cũng là trận đấu ra mắt của tân huấn luyện viên Julian Nagelsmann.[12]

Ngày 10 tháng 3 năm 2020, Sabitzer ghi hai bàn trong chiến thắng 3–0 trước Tottenham Hotspur ở vòng 16 đội Champions League. Leipzig giành chiến thắng chung cuộc 4–0 và có lần đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ đặt chân vào tứ kết giải đấu danh giá nhất châu Âu.[13]

2020-21[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thềm mùa giải mới 2020/21, Sabitzer được bầu là thủ quân của Leipzig thay thế trung vệ Willi Orbán.[14]

Ngày 21 tháng 2 năm 2021, Sabitzer ghi bàn từ một cú sút xa mở màn cho chiến thắng 3-0 trước Hertha Berlin để rút ngắn khoảng cách điểm số tại Bundesliga với Bayern München còn 2 điểm.[15] Ngày 19 tháng 3, anh ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Arminia Bielefeld.[16]

Bayern Munich[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 30 tháng 8 năm 2021, trang chủ của câu lạc bộ Bayern Munich đã đưa ra thông báo chính thức về việc chiêu mộ thành công Marcel Sabitzer từ RB Leipzig với mức phí 16 triệu Euro. Sabitzer sẽ khoác áo Bayern Munich theo bản hợp đồng có thời hạn 4 năm.

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 5 năm 2012, nhờ phong độ ấn tượng tại Admira Wacker, Sabitzer được huấn luyện viên Marcel Koller triệu tập vào Đội tuyển bóng đá quốc gia Áo.[17] Ngày 5 tháng 6 năm 2012, anh có trận đấu ra mắt đội tuyển ở trận hòa 0-0 với Romania.[18] Ngày 30 tháng 5 năm 2014, anh có bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Áo trong trận giao hữu với Iceland.

Tại vòng loại Euro 2016, Sabitzer đóng góp một bàn thắng, đó là pha lập công ở phút 90 ấn định chiến thắng 3-2 trước Montenegro ngày 9 tháng 10 năm 2015.[19] Anh là một trong 23 cầu thủ Áo được huấn luyện viên Marcel Koller chọn tham dự Euro 2016.[20] Anh có lần ra sân đầu tiên tại sân đấu Euro khi vào sân ở phút 60 thay Zlatko Junuzović trong trận thua Hungary 2-0 ở trận mở màn bảng F. Anh được vào sân ngay từ đầu trong cả hai trận đấu còn lại với Bồ Đào NhaIceland. Đội tuyển Áo đã rời giải ngay sau đó với chỉ vỏn vẹn 1 điểm, đứng cuối bảng F với 1 trận hòa và 2 trận thua.

Đến Euro 2020, Sabitzer tiếp tục có tên trong danh sách các cầu thủ Áo tham dự giải đấu này.[21] Trong trận đấu mở màn bảng C với Bắc Macedonia, anh là người chuyền bóng cho Stefan Leiner mở tỉ số trận đấu nhưng cũng chính anh vô tình dẫn đến bàn gỡ hòa 1-1 của Bắc Macedonia khi cú phá bóng của Martin Hinteregger chạm vào anh dội ngược lại thành cơ hội cho Goran Pandev ghi bàn. Chung cuộc Áo thắng 3-1 và đây cũng là trận thắng đầu tiên của đội tuyển Áo tại Giải vô địch bóng đá châu Âu sau ba lần tham dự giải.[22]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 22 tháng 5 năm 2021.
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Châu lục Tổng cộng
Hạng Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Admira Wacker Mödling 2010–11 Austrian Bundesliga 8 2 0 0 8 2
2011–12 20 5 1 0 21 5
2012–13 17 4 2 0 4 0 23 4
Tổng cộng 45 11 3 0 4 0 52 11
Rapid Wien 2012–13 Austrian Bundesliga 16 3 1 0 0 0 17 3
2013–14 29 7 1 0 10 2 40 9
Tổng cộng 45 10 2 0 10 2 57 12
RB Leipzig 2014–15 2. Bundesliga 0 0 0 0 0 0
2015–16 32 8 2 0 34 8
2016–17 Bundesliga 32 8 1 1 33 9
2017–18 22 3 2 2 10 0 34 5
2018–19 30 4 5 0 8 1 43 5
2019–20 32 9 3 3 8 4 43 16
2020–21 27 8 5 1 7 0 39 9
Tổng cộng 175 40 18 7 34 5 227 52
Red Bull Salzburg (mượn) 2014–15 Austrian Bundesliga 33 19 6 7 12 1 51 27
Tổng sự nghiệp 298 80 29 14 60 8 387 102

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Sabitzer trong màu áo đội tuyển Áo
Tính đến 29 tháng 3 năm 2022[23]
Đội tuyển quốc gia Áo
Năm Số trận Bàn thắng
2012 1 0
2013 2 0
2014 6 2
2015 7 1
2016 9 1
2017 4 1
2018 4 0
2019 9 2
2020 4 1
2021 12 2
2022 2 1
Tổng cộng 60 11

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng và kết quả của Áo được liệt kê trước.
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 30 tháng 5 năm 2014 Tivoli-Neu, Innsbruck, Áo  Iceland 1–0 1–1 Giao hữu
2. 3 tháng 6 năm 2014 Sân vận động Andrův, Olomouc, Cộng hòa Séc  Cộng hòa Séc 2–1
3. 9 tháng 10 năm 2015 Sân vận động Podgorica City, Podgorica, Montenegro  Montenegro 3–2 3–2 Vòng loại Euro 2016
4. 9 tháng 10 năm 2016 Sân vận động Sao Đỏ, Beograd, Serbia  Serbia 1–1 2–3 Vòng loại World Cup 2018
5. 14 tháng 11 năm 2017 Sân vận động Ernst Happel, Viên, Áo  Uruguay 1–0 2–1 Giao hữu
6. 6 tháng 9 năm 2019 Sân vận động Wals-Siezenheim, Wals-Siezenheim, Áo  Latvia 2–0 6–0 Vòng loại Euro 2020
7. 10 tháng 10 năm 2019 Sân vận động Ernst Happel, Viên, Áo  Israel 3–1 3–1
8. 4 tháng 9 năm 2020 Sân vận động Ullevaal, Oslo, Na Uy  Na Uy 2–0 2–1 UEFA Nations League 2020-21
9. 9 tháng 10 năm 2020 Tórsvøllur, Tórshavn, Quần đảo Faroe  Quần đảo Faroe 2–0 2–0 Vòng loại World Cup 2022
10. 12 tháng 11 năm 2020 Sân vận động Wörthersee, Klagenfurt, Áo  Israel 4–2 4–2
11. 24 tháng 3 năm 2022 Sân vận động Cardiff City, Cardiff, Wales  Wales 1–2 1–2

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “RasenBallsport Leipzig - Marcel Sabitzer”. redbulls. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2020.
  2. ^ “Marcel Sabitzer » Club matches”. World Football. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2018.
  3. ^ “NEUVERPFLICHTUNG: NATIONALSPIELER MARCEL SABITZER WIRD EIN ROTER BULLE!” (bằng tiếng Đức). dierotenbullen.com. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2014.
  4. ^ “VORZEITIGE VERTRAGSVERLÄNGERUNG MIT MARCEL SABITZER BIS 2021!” (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2016.
  5. ^ “MARCEL SABITZER RENEWS UNTIL 2022”. RB Leipzig. ngày 11 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  6. ^ “Bundesliga debutants Leipzig earn draw at Hoffenheim”. Bundesliga. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  7. ^ “Sabitzer at the double as Leipzig down Darmstadt”. Bundesliga. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  8. ^ “RB Leipzig giữ ngôi đầu Bundesliga, hơn Bayern tới sáu điểm”. VnExpress. ngày 26 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  9. ^ “Leipzig end Hoffenheim's undefeated record”. Bundesliga. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  10. ^ “Leipzig steal the show and the points with stunning second-half in Mainz”. Bundesliga. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  11. ^ “RB Leipzig 4-5 Bayern Munich”. BBC Sport. ngày 13 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  12. ^ “Julian Nagelsmann celebrates winning debut as RB Leipzig beat Osnabrück in DFB Cup”. Bundesliga. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  13. ^ “RB Leipzig 3–0 Tottenham Hotspur”. BBC Sport. ngày 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  14. ^ “Tỏa sáng ở Champions League, Sabitzer trở thành đội trưởng mới của Leipzig”. Bóng Đá +. ngày 1 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  15. ^ “RB Leipzig cut the gap to Bayern Munich after Marcel Sabitzer rocket against Hertha Berlin”. Bundesliga. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  16. ^ “Marcel Sabitzer on target at Arminia Bielefeld as RB Leipzig maintain pressure on Bayern Munich”. Bundesliga. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  17. ^ “Koller holt Sabitzer ins Team” (bằng tiếng Đức). Kleine Zeitung. ngày 15 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  18. ^ “Zwei gelungene Experimente” (bằng tiếng Đức). laola1.at. ngày 5 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  19. ^ “Österreich besiegt Montenegro auswärts 3:2” (bằng tiếng Đức). Sky Sport Austria. ngày 9 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  20. ^ “Austria Euro 2016 Squad”. The Telegraph. ngày 1 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  21. ^ “Austria call up David Alaba and Marko Arnautovic in 26-man Euro 2020 squad”. The Athletic. ngày 24 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  22. ^ “Austria 3-1 North Macedonia: Marko Arnautovic seals victory over Euro 2020 tournament minnows after Goran Pandev had pounced on defensive blunder to equalise”. Mail Online. ngày 13 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2021.
  23. ^ “Sabitzer, Marcel”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập 8 tháng 9 năm 2019.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]