Karl-Heinz Riedle

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Karl-Heinz Riedle
6121Karl-Heinz Riedle.JPG
Karl-Heinz Riedle (2012)
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Karl-Heinz Riedle
Ngày sinh 16 tháng 9, 1965 (53 tuổi)
Nơi sinh Weiler im Allgäu, Tây Đức
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)
Vị trí Tiền đạo
CLB trẻ
TSV Ellhofen
SV Weiler
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1983–1986 FC Augsburg
1986–1987 Blau-Weiß Berlin 34 (10)
1987–1990 SV Werder Bremen 86 (38)
1990–1993 Lazio 84 (30)
1993–1997 Borussia Dortmund 87 (24)
1997–1999 Liverpool 60 (11)
1999–2001 Fulham 34 (6)
Tổng cộng 385 (119)
Đội tuyển quốc gia
1986–1987 U-21 Đức 4 (1)
1988 Olympic Đức 1 (0)
1988–1994 Đức 42 (16)
Huấn luyện
2000 Fulham

* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Karl-Heinz "Air" Riedle (đọc tiếng Việt như là: Các Hai Rít-lờ; sinh ngày 16 tháng 9 năm 1965 tại Weiler im Allgäu) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Đức, người giành danh hiệu vô địch thế giới trong màu áo đội Tây Đức và vô địch UEFA Champions League năm 1997 với Borussia Dortmund. Riedle kết thúc sự nghiệp thi đấu quốc tế với 42 trận và 16 bàn thắng.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Karlheinz Riedle bắt đầu sự nghiệp với đội bóng ít tên tuổi của Đức TSV Ellhofen năm 1984 trước khi chuyển đến SV Weiler. Mùa bóng 1985-86 anh đã ghi 22 bàn thắng cho câu lạc bộ và được gọi vào đội tuyển U-21 Đức. Sau đó ông chuyển câu lạc bộ 1 lần nữa, gia nhập Blau-Weiss Berlin.

Năm 1987, đánh dấu 1 cột mốc quan trọng trong sự nghiệp bóng đá của Riedle bằng việc ký hợp đồng với Werder Bremen. Anh góp công giúp Bremen dành chức vô địch ngay mùa bóng đầu tiên với 18 bàn thắng ghi được sau 33 trận đấu. Cũng trong năm này anh ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Đức cũng vào năm đó trong chiến thắng 4-0 trước Phần Lan.

Năm 1990, Riedle gia nhập Lazio trước khi trở lại Đức thi đấu cho Borussia Dortmund năm 1993. Tại đây, anh cùng Dortmund giành danh hiệu Bundesliga năm 1995 và 1996. Đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp khi ghi 2 bàn thắng trong trận chung kết cúp C1 giúp Dortmund vượt qua Juventus với tỉ số 3-1.

Anh đến Liverpool năm 1997 sau khi Stan Collymore chuyến đến Aston Villa. Anh đã ghi hơn 10 bàn thắng ở mùa đầu tiên, Riedle được câu lạc bộ kéo dài hợp đồng thêm 1 năm. Sau đó Riedle đã quyết định chuyển sang thi đấu cho đội bóng hạng nhất Fulham vào tháng 9 năm 1999.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]