Pepe (cầu thủ bóng đá)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Critiano Ronaldo
Tập tin:Ro 2018.jpg
Pepe trong màu áo Bồ Đào Nha tại FIFA World Cup 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Kepler Laveran de Lima Ferreira[1]
Ngày sinh 26 tháng 2, 1983 (38 tuổi)[1]
Nơi sinh Maceió, Brasil
Chiều cao 1,88 m (6 ft 2 in)[2]
Vị trí Trung vệ
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Porto
Số áo 3
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1995–2001 Corinthians-AL
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2001–2002 Marítimo B 14 (1)
2002–2004 Marítimo 63 (3)
2004–2007 Porto 64 (6)
2007–2017 Real Madrid 229 (13)
2017–2019 Beşiktaş 33 (5)
2019– Porto 65 (5)
Đội tuyển quốc gia
2007– Bồ Đào Nha 123 (7)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải vô địch quốc gia và chính xác tính đến 20 tháng 5 năm 2021 (UTC)
‡ Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia và số bàn thắng chính xác tính đến 14 tháng 11 năm 2021 (UTC)

Deca Kepler Laveran de Lima Ferreira (sinh ngày 26 tháng 2 năm 1983), được biết đến là Pepe (phát âm tiếng Bồ Đào Nha[ˈpɛpi]; phát âm tiếng Bồ Đào Nha[-pɨ]), là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bồ Đào Nha thi đấu ở vị trí trung vệ cho Portođội tuyển quốc gia Bồ Đào Nha.

Trong suốt thời gian thi đấu chuyên nghiệp, Pepe thi đấu cho Marítimo, Porto, Real Madrid và PSG, và anh có được thành công tập thể lẫn cá nhân với Porto và Real Madrid.[3] Anh giành ba danh hiệu La Liga, ba danh hiệu UEFA Champions League, hai danh hiệu Copa del Rey và thi đấu 334 trận cho Real Madrid.[4] Anh cũng vô địch Primeira Liga ba lần và Taça de Portugal hai lần với S.C. Sopting Libon

Sinh ra và lớn lên ở Brasil nhưng Pepe chọn thi đấu cho đội tuyển quốc gia Bồ Đào Nha, và đã có 123 lần ra sân kể từ lần đầu tiên vào năm 2007. Anh đã thi đấu tại ba kỳ FIFA World Cup và bốn kỳ UEFA Euro, và là thành viên của đội bóng đã giành chức vô địch UEFA Euro 2016, ngoài ra cũng đi đến vòng bán kết của UEFA

Sự Nghiệp

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Marítimo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 18 tuổi, Pepe cùng một người bạn rời đội trẻ Corinthians Alagoano của Brasil và đến Bồ Đào Nha thi đấu cho đội hình B của C.S. Marítimo trên đảo Madeira. Sau một mùa với 10 trận được thi đấu, Pepe được đưa lên đội hình chính ở mùa giải 2002/03. Anh thi đấu ngày càng xuất sắc và được huấn luyện viên Mitchell van der Gaag cho vào đội hình thi đấu chính thức.

Đến cuối mùa bóng dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên mới, Anatoliy Byshovets, Pepe được thử nghiệm thi đấu ở nhiều vị trí từ hậu vệ, tiền vệ đến hộ công. Tại mùa giải này anh cũng có bàn thắng đáng nhớ vào lưới Sporting Braga giúp Marítimo giành thắng lợi 1-0.

Trước mùa giải 2003/04, Marítimo cho phép Pepe tập luyện với câu lạc bộ Sporting Club de Portugal trong 2 tuần để có thể chuyển nhượng anh cho câu lạc bộ này. Tuy nhiên sau đó cả hai câu lạc bộ không thống nhất trong các điều khoản hợp đồng nên vụ chuyển nhượng đi đến thất bại. Mùa hè 2004, Pepe đến F.C. Porto với phí chuyển nhượng 1 triệu euro cộng với 3 cầu thủ Tonel, Evaldo và Antonielton Ferreira. Ngoài ra Marítimo sẽ nhận được 20% phí chuyển nhượng trong tương lai của Pepe.

FC Porto[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa giải đầu tiên với huấn luyện viên Víctor Fernández, Pepe thường xuyên phải ngồi ghế dự bị cho các cựu binh như Pedro Emanuel, Jorge Costa và Ricardo Costa.

Mùa giải 2005/06 dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Co Adriaanse, Pepe có mùa giải vô cùng thành công và trở thành một trong những hậu vệ xuất sắc nhất giải nhờ đội hình 3-4-3 mà trong đó anh đóng vai trò hạt nhân của hàng hậu vệ. Thành công trên đã khiến Pepe được nhiều câu lạc bộ theo đuổi, trong đó có câu lạc bộ Tây Ban Nha Real Madrid.

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 7 năm 2007, Pepe ký hợp đồng 5 năm với Real Madrid cùng phí chuyển nhượng 30 triệu €.[5]

Mùa giải đầu tiên Pepe bị chấn thương dài hạn và không thi đấu nhiều cho Real. Trận cầu đáng nhớ của anh là vào ngày 23 tháng 12 năm 2007 trong trận thắng 1-0 của Real Madrid trước FC Barcelona, Pepe đã thi đấu rất xuất sắc khi không mắc một sai lầm nào và nhận danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu. Nhưng sau đó vào cuối tháng 1 anh lại mắc phải chấn thương và không thể tham dự trận đấu lượt về tại vòng 1/16 Champion League gặp AS Roma.[6]

Ngày 22 tháng 4 năm 2009, trong trận đấu với Getafe ở La Liga, Pepe đã dùng tay đẩy ngã Javier Casquero trong vòng cấm. Sau đó, anh còn tung ra hai cú đá liên tiếp nhằm vào đùilưng của Casquero. Trọng tài không ngần ngại cho đội khách hưởng phạt đền, đồng thời rút thẻ đỏ truất quyền thi đấu của Pepe. Pepe phát biểu sau trận đấu: "Tôi rất buồn và thất vọng với thái độ của mình. Lúc đó, tôi đã không thể kiềm chế bản thân. Tuy nhiên, ai chả có lúc mắc sai lầm. Điều quan trọng là tôi đã nhận ra sai lầm của mình. Tôi xin lỗi cổ động viên Real Madrid và tất nhiên cả Casquero nữa".[7] Tuy nhiên, ngoài hai cú đá mang tính triệt hạ Casquero, Pepe còn vung tay đấm vào mặt Albin và có những lời lẽ hăm dọa trọng tài thứ 4 ở ngoài đường biên.[8] Cuối cùng, Uỷ ban kỉ luật thuộc Liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha đã đưa ra quyết định treo giò anh 10 trận, trong đó một trận vì chiếc thẻ đỏ, 8 trận vì hành vi trút giận vào Casquero của Getafe và thêm một trận nữa do thóa mạ trọng tài.[9]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Pepe trở thành công dân Bồ Đào Nha từ tháng 8 năm 2007 và vào ngày 30 tháng 8 cùng năm, anh có mặt trong đội hình đội tuyển Bồ Đào Nha lần đầu tiên trong trận đấu tại vòng loại Euro 2008 gặp đội tuyển Ba Lan.[10] Nhưng chấn thương trong lúc thi đấu cho Real Madrid khiến anh vắng mặt ở nhiều trận đấu vòng loại và chỉ trở lại trong trận cuối cùng gặp Phần Lan vào ngày 21 tháng 11.

Tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008, giải đấu quốc tế lớn đầu tiên mà Pepe tham dự, trong trận mở màn của Bồ Đào Nha gặp Thổ Nhĩ Kỳ, Pepe ghi bàn mở tỉ số sau khi phối hợp bật tường với Nuno Gomes, chung cuộc Bồ Đào Nha thắng 2-0.[11] Cùng với việc thi đấu chắc chắn trong trận này, anh được nhận danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu. Ngoài ra Goal.com còn đưa anh vào đội hình tiêu biểu của Euro 2008 sau lượt đấu thứ nhất vòng đấu bảng.[12] Anh cũng thi đấu trong 2 trận còn lại của vòng bảng gặp đội tuyển Cộng hòa Sécđội tuyển Thụy Sĩ. Tuy nhiên, cuộc phiêu lưu của Pepe và các đồng đội trong đội tuyển Bồ Đào nha đã dừng lại ở tứ kết khi họ để thua đội tuyển Đức 3-2. Tuy vậy, anh vẫn được tiểu ban kỹ thuật UEFA chọn vào danh sách 23 cầu thủ xuất sắc nhất tại Euro 2008.[13]

Ngày 1 tháng 6 năm 2010, vừa bình phục chấn thương, Pepe đã được chọn vào danh sách 23 cầu thủ Bồ Đào Nha tham dự Giải bóng đá vô địch thế giới 2010 tại Nam Phi của huấn luyện viên Carlos Queiroz.[14] Bồ Đào Nha sau đó bị Tây Ban Nha loại ở vòng 2.

Tại Euro 2012, anh chỉ có được một bàn thắng trong chiến thắng 3-2 của Bồ Đào Nha trước đối thủ Đan Mạch. Kết thúc giải đấu, Pepe một lần nữa xuất hiện trong đội hình xuất sắc nhất giải đấu dù Bồ Đào Nha phải dừng bước tại bán kết.

Anh tiếp tục có tên trong danh sách đội tuyển Bồ Đào Nha tham dự Euro 2016 tổ chức tại Pháp. Tại giải đấu này, anh không ghi được bàn thắng nào nhưng là một trong những cá nhân thi đấu ấn tượng nhất để giúp đội tuyển Bồ Đào Nha giành chức vô địch Euro đầu tiên sau 12 năm chờ đợi kể từ Euro 2004. Trong trận chung kết, sau khi Ronaldo rời sân do chấn thương, anh trở thành một người thủ lĩnh, một tấm lá chắn vững chắc trước khung thành thủ môn Rui Patricio sau những đợt uy hiếp khung thành của tuyển Pháp và được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết. Và với những màn trình diễn ấn tượng của mình, anh đã có tên trong đội hình tiêu biểu Euro 2016.

Tại World Cup 2018, anh chỉ có được một bàn thắng trong trận thua 1-2 trước Uruguay ở vòng 16 đội.

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Pepe là mẫu trung vệ có lối chơi rắn, đôi khi là thô bạo nhằm triệt hạ đối phương, không ngán bất kỳ một đối thủ nào, thường có xu hướng “chặt chém” cầu thủ đối phương và khiến cho tất cả tiền đạo luôn phải e dè khi đối đầu với anh. Pepe là cầu thủ dễ nổi nóng, sẵn sàng gây gổ hay thậm chí là gây sự với cầu thủ đối phương hoặc trọng tài khi họ gây bất lợi cho mình. Cũng vì thế mà anh được mệnh danh là một “gã đồ tể” trên sân cỏ.

Thống kê câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 19 tháng 5 năm 2021[15]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia1 Châu Âu Khác2 Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Marítimo 2001–02 10 34 555 20 0 0 0 0 565 74
2002–03 29 2 1 0 0 0 0 0 30 2
2003–04 30 1 1 0 0 0 0 0 31 1
Tổng cộng 63 3 3 0 0 0 0 0 66 3
Porto 2004–05 15 1 1 0 5 0 0 0 21 1
2005–06 24 1 4 0 5 2 0 0 33 3
2006–07 25 4 1 0 9 0 0 0 35 4
Tổng cộng 64 6 6 0 18 2 0 0 88 8
Real Madrid 2007–08 19 0 3 0 3 0 0 0 25 0
2008–09 26 0 1 0 5 0 0 0 32 0
2009–10 10 1 1 0 6 0 0 0 17 1
2010–11 26 1 4 0 8 0 0 0 38 1
2011–12 29 1 7 0 9 0 0 0 45 1
2012–13 28 1 3 0 11 1 0 0 42 2
2013–14 30 4 7 1 11 0 0 0 48 5
2014–15 27 2 2 0 6 0 3 0 38 2
2015–16 21 1 1 0 9 0 31 1
2016–17 13 2 2 0 3 0 0 0 18 2
Tổng cộng 229 13 31 1 71 1 3 0 334 15
Besiktas 2017–18 23 2 5 0 6 0 1 0 35 2
2018–19 10 3 0 0 7 2 17 5
Tổng cộng 33 5 5 0 13 2 1 0 52 7
Porto 2018–19 13 2 3 0 3 0 2 0 21 2
2019–20 25 1 2 0 9 0 1 0 37 1
2020–21 27 2 4 0 6 0 3 0 40 2
Tổng cộng 65 5 9 0 18 0 6 0 98 5
Tổng cộng sự nghiệp 454 32 44 1 120 5 19 0 637 38

1 Bao gồm Supercopa de España.
2 Bao gồm UEFA Super CupFIFA Club World Cup.

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Thời gian Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 7-6-2008 Stade de Genève, Genève, Thụy Sĩ  Argentina 1–0 2–0 Euro 2008
2. 9-9-2009 Sân vận động Ferenc Puskás, Budapest, Hungary  Hungary 0–1 0–1 Vòng loại World Cup 2010
3. 13-6-2012 Arena Lviv, Lviv, Ukraina  Đan Mạch 0–1 2–3 Euro 2012
4. 1-9-2016 Sân vận động Bessa, Porto, Bồ Đào Nha  Đức 5–0 5–0 Giao hữu
5. 2-7-2017 Otkrytie Arena, Moscow, Nga  México 1–1 2–1 Confed Cup 2017
6. 30-6-2018 Sân vận động Olympic Fisht, Sochi, Nga  Uruguay 1–1 8-1 World Cup 2018
7. 6-9-2018 Sân vận động Algarve, Loulé, Bồ Đào Nha  Ba Lan 1–1 5-1 Giao hữu

Danh hiệu 4 Quả Bóng Vàng[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

S.C.Sopoting Libon[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b “FIFA Confederations Cup Russia 2017: List of players: Portugal” (PDF). FIFA. ngày 20 tháng 3 năm 2018. tr. 7. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2018.
  2. ^ https://www.fpf.pt/Jogadores/Pepe
  3. ^ “Pepe: Real Madrid defender leaving club after 10 years at Bernabeu”. BBC Sport. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2017.
  4. ^ Lowe, Sid (ngày 7 tháng 6 năm 2017). “Pepe leaves Real Madrid a touch bitter but with inner Hannibal Lecter tamed | Sid Lowe”. the Guardian.
  5. ^ “Madrid pick up Pepe from Porto (Madrid mua Pepe từ Porto)”. UEFA. ngày 11 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
  6. ^ Pepe chấn thương phải nghỉ thi đấu 3 tuần[liên kết hỏng]
  7. ^ Hoàng Hiệp (ngày 22 tháng 4 năm 2009). “Pepe đối mặt với án kỷ luật nặng sau vụ "tung cước". Báo điện tử Dân trí. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
  8. ^ Anh Tuấn (ngày 25 tháng 4 năm 2009). “Pepe lãnh án treo giò đến hết mùa”. Báo điện tử Dân trí. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
  9. ^ Thùy Dương (ngày 25 tháng 4 năm 2009). “Pepe bị treo giò 10 trận vì chơi xấu”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
  10. ^ Scolari chama Pepe e Maniche (Scolari calls Pepe and Maniche) Lưu trữ 2008-12-08 tại Wayback Machine (tiếng Bồ Đào Nha)
  11. ^ Minh Kha (ngày 8 tháng 6 năm 2008). “Bồ Đào Nha 2-0 Thổ Nhĩ Kỳ, lộ diện ứng viên vô địch”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
  12. ^ Đội hình tiêu biểu lượt trận đầu tiên[liên kết hỏng]
  13. ^ Danh sách 23 cầu thủ xuất sắc nhất Euro 2008[liên kết hỏng]
  14. ^ H.N (ngày 2 tháng 6 năm 2010). “Pepe vẫn có tên trong đội hình Seleccao”. Báo An ninh Thủ đô điện tử. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
  15. ^ “Pepe”. Soccerway. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2014.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]