Milan Baroš

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Milan Baro
Milan Baros.JPG
Baroš trong màu áo Galatasaray năm 2012
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Milan Baroš
Ngày sinh 28 tháng 10, 1981 (36 tuổi)
Nơi sinh Valašské Meziříčí, Tiệp Khắc
Chiều cao 1,84 m (6 ft 12 in)
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Slovan Liberec
Số áo 27
CLB trẻ
1987–1991 Vigantice
1991–1993 Rožnov p. Radhoštěm
1993–1998 Baník Ostrava
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1998–2001 Baník Ostrava 76 (23)
2002–2005 Liverpool 68 (19)
2005–2007 Aston Villa 42 (9)
2007–2008 Lyon 24 (7)
2008Portsmouth (mượn) 12 (0)
2008–2013 Galatasaray 93 (48)
2013 Baník Ostrava 9 (5)
2013-2014 Antalyaspor 13 (2)
2014-2015 Baník Ostrava 11 (2)
2015-2016 Mladá Boleslav 21 (6)
2016- Slovan Liberec 10 (1)
Đội tuyển quốc gia
1996–1997 U-15 Cộng hòa Séc 7 (3)
1997–1998 U-16 Cộng hòa Séc 5 (1)
1998 U-17 Cộng hòa Séc 4 (1)
1998–2000 U-18 Cộng hòa Séc 19 (5)
1999–2002 U-21 Cộng hòa Séc 19 (9)
2001–2012 Cộng hòa Séc 93 (41)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 31 tháng 8 năm 2015.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Milan Baroš (sinh ngày 28 tháng 10 năm 1981 tại Vigantice, Tiệp Khắc, nay là Cộng hoà Séc) là một cầu thủ bóng đá người cộng hòa Séc hiện anh thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Slovan Liberec.

Thành tích nổi bật nhất trong sự nghiệp của Baroš là danh hiệu Vua phá lưới Euro 2004 với 5 bàn thắng. Anh cũng từng giành danh hiệu vô địch UEFA Champions League cùng Liverpool vào năm 2005.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Liverpool[sửa | sửa mã nguồn]

Baroš gia nhập Liverpool năm 2002 và mang áo số 5. Mùa giải đầu tiên anh chỉ được ra sân 1 lần duy nhất. Đến mùa giải tiếp theo anh ghi được 12 bàn. Mùa giải 2003/2004, Baros chấn thương mắt cá chân nặng nên phải nghỉ thi đấu 6 tháng và chỉ ghi được 2 bàn cả mùa giải.

Sau khi giành danh hiệu vua phá lưới Euro 2004, Baros tiếp tục ở lại Liverpool dưới thời Rafael Benitez. Mùa giải 2004/2005, anh ghi được 13 bàn và cùng Liverpool giành danh hiệu vô địch UEFA Champions League khi đánh bại AC Milan trong trận chung kết. Tuy nhiên sau đó Baros phải rời câu lạc bộ khi nhiều tiền đạo khác chuyển đến như Peter Crouch từ Southampton.

Aston Villa[sửa | sửa mã nguồn]

Baroš chuyển đến Aston Villa với phí chuyển nhượng 6,5 triệu bảng Anh vào tháng 8 năm 2005 cùng bản hợp đồng 4 năm.[1]. Tại đây anh mang áo số 10. Anh kết thúc mùa giải với 8 bàn thắng trong 25 trận và 3 bàn ở Cúp F.A., 1 bàn ở Cúp Liên đoàn.

Mùa giải tiếp theo Baroš thi đấu rất tệ. Đầu mùa giải anh được Martin O'Neill cho đá chính thức bên cạnh Juan Pablo Ángel nhưng anh sớm dính chấn thương và mất vị trí chính thức. Bàn thắng cuối cùng của Baros cho Aston Villa là bàn thắng vào lưới Manchester United tại Cúp F.A. trước khi anh chuyển đến Lyon theo bản hợp đồng trao đổi với John Carew.

Tại Aston Villa, Baroš ghi được 14 bàn sau 51 lần ra sân.

Lyon[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 1 2007, Baroš ký hợp đồng với Lyon và tại đây anh gặp lại huấn luyện viên cũ Gérard Houllier.

Đến mùa giải 2007/2008, Gérard Houllier ra đi và Alain Perrin trở thành huấn luyện viên trưởng Lyon. Trong 2 mùa bóng thi đấu cho Lyon (nửa cuối 2006/2007 và nửa đầu 2007/2008), Baros ghi được 7 bàn qua 24 lần ra sân. Trong thời gian thi đấu cho Lyon, anh còn gặp 1 rắc rối về pháp luật khi lái xe hơi quá tốc độ và bị cảnh sát Pháp bắt.[2].

Portsmouth[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 1 2008, Milan hoàn tất hợp đồng cho mượn từ Lyon đến Portsmouth F.C cho đến hết mùa 2007/2008 với điều khoản Portsmouth có thể mua đứt anh với giá 7.000.000 [3]. Baroš có trận đầu tiên với Portsmouth khi gặp Manchester United vào ngày 30 tháng 1 2008.

Trong 16 trận ra sân cho Portsmouth, Baroš không ghi được bàn nào. Trận đấu cuối cùng tại mùa giải 2007/2008 là trận chung kết Cúp F.A. gặp Cardiff City tại sân Wembley khi anh vào sân thay Kanu vào phút 87 và cùng Portsmouth giành FA Cup lần đầu tiên.

Galatasaray[sửa | sửa mã nguồn]

Baroš chính thức chuyển đến thi đấu cho câu lạc bộ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ Gatalasagay với hợp đồng 3 năm cùng phí chuyển nhượng 5.5 triệu từ Lyon vào ngày 26 tháng 8 2008. Anh có trận đầu tiên trong cuộc đối đầu Kayserispor, nhưng anh chỉ thi đấu 15 phút cuối trận.

Baroš có cú đúp đầu tiên tại UEFA Cup trong trận gặp đội bóng Thụy Sĩ Bellinzona ngày 18 tháng 12 năm 2008.[4] 3 ngày sau đó, tại giải trong nước, anh tiếp tục ghi 2 bàn nữa trong cuộc đối đầu Kocaelispor, giúp Galatasaray giành chiến thắng 4-1.[5]

Ngày 21 tháng 12 năm 2008, với 14 bàn thắng, Baroš đã dẫn đầu danh sách các cầu thủ ghi bàn hàng đầu tại Turkcell Süper Lig trong đó có hat-trick vào lưới Beşiktaş giúp Galatasaray giành chiến thắng 4-2.[6] Anh kết thúc mùa giải 2008-2009 bằng danh hiệu vua phá lưới với 20 bàn thắng.

Baroš bắt đầu mùa giải mới 2009-10 bằng cú đúp trong trận thắng 4-1 trước Kayserispor.[7] Hai bàn thắng kế tiếp của anh đến vào ngày 13 tháng 9 trong trận Galatasaray giành chiến thắng 3-0 trước Beşiktaş.[8]

Antalyaspor[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 6 năm 2013,anh gia nhập câu lạc bộ Thổ Nhĩ Kỳ Antalyaspor,bản hợp đồng có giá trị 1 năm.

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Baroš được gọi vào đội tuyển quốc gia từ năm 2001. Tại Euro 2004, Baros ghi được 5 bàn vào lưới Latvia, Đức, Hà LanĐan Mạch để giành giải vua phá lưới Euro và nhận danh hiệu Chiếc giày vàng.

Tại World Cup 2006, chấn thương khiến anh vắng mặt ở 2 trận gặp MỹGhana. Anh chỉ xuất hiện trong trận cuối gặp Ý và thất bại 2-1 của Cộng hòa Séc khiến họ bị loại ngay vòng bảng.

Đến Euro 2008, Baroš tiếp tục được huấn luyện viên Karel Brückner gọi vào đội tuyển dù anh bị nhiều người chỉ trích vì phong độ của mình. Trận đầu tiên gặp Thụy Sĩ anh không được ra sân. Đến trận gặp Bồ Đào Nha anh được ra sân từ đầu nhưng không ghi được bàn thắng nào. Trong trận gặp Thổ Nhĩ Kỳ, Baroš không được thi đấu phút nào nhưng cũng bị lãnh một thẻ vàng vì lỗi phản ứng với trọng tài. Kết quả Séc thua 3-2 và bị loại khỏi giải ngày sau vòng đấu bảng.

Baroš sau đó đã bị nhận một án kỷ luật từ đội tuyển do một buổi nhậu nhẹt qua đêm cùng năm cầu thủ khác vào ngày 8 tháng 4 năm 2009.[9] Tuy nhiên, tân huấn luyện viên trưởng đội tuyển Cộng hòa Séc Ivan Hašek đã gọi anh trở lại đội tuyển vào ngày 12 tháng 8, 2009. Anh đánh dấu sự trở lại bằng bàn thắng từ chấm phạt đền trong chiến thắng 3-1 trước Bỉ trong một trận giao hữu. Ngày 9 tháng 9, Baroš ghi được 4 bàn trong trận đấu gặp San Marino tại vòng loại World Cup 2010. Chung cuộc CH Séc thắng San Marino 7-0.[10]

Ngay sau khi Cộng hòa Séc để thua 0-1 trước Bồ Đào Nha tại tứ kết Euro 2012, Milan Baroš đã quyết định giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế với 41 bàn thắng sau 93 trận đấu.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 5 tháng 4 năm 2015
Câu lạc bộ Mùa Giải quốc gia Cúp quốc gia Cúp Liên đoàn Châu Âu Tổng
Hạng Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Baník Ostrava 1998–99 Giải VĐ CH Séc 6 0 0 0 6 0
1999–2000 Giải VĐ CH Séc 29 6 0 0 29 6
2000–01 Giải VĐ CH Séc 26 6 0 0 26 6
2001–02 Giải VĐ CH Séc 15 11 0 0 15 11
Tổng 76 23 0 0 76 23
Liverpool 2001–02 Premier League 0 0 0 0 0 0 1 0 1 0
2002–03 Premier League 27 9 1 0 4 2 9 1 42[A] 12
2003–04 Premier League 13 1 1 0 0 0 4 1 18 2
2004–05 Premier League 26 9 1 0 4 2 14 2 45 13
2005–06 Premier League 2 0 0 0 0 0 0 0 2 0
Tổng 68 19 3 0 8 4 28 4 108 27
Aston Villa 2005–06 Premier League 25 8 3 3 2 1 30 12
2006–07 Premier League 17 1 1 1 3 0 21 2
Tổng 42 9 4 4 5 1 51 14
Lyon 2006–07 Ligue 1 12 4 0 0 1 0 1 0 14 4
2007–08 Ligue 1 12 3 0 0 0 0 3 0 15 3
Tổng 24 7 0 0 1 0 4 0 29 7
Portsmouth 2007–08 Premier League 12 0 4 0 0 0 16 0
Tổng 12 0 4 0 0 0 16 0
Galatasaray 2008–09 Süper Lig 31 20 0 0 9 5 40 25
2009–10 Süper Lig 17 11 0 0 6 5 23 16
2010–11 Süper Lig 17 9 0 0 2 2 19 11
2011–12 Süper Lig 28 8 0 0 28 8
2012–13 Süper Lig 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng 93 48 0 0 17 12 110 60
Baník Ostrava 2012–13 12 5 0 0 12 5
Tổng 12 5 0 0 12 5
Antalyaspor 2013–14 Süper Lig 13 2 3 2 16 4
Tổng 13 2 3 2 16 4
Baník Ostrava 2014–15 Giải VĐ CH Séc 9 2 0 0 9 2
Tổng 9 2 0 0 9 2
Mladá Boleslav 2015–16 Giải VĐ CH Séc
Tổng
Tổng sự nghiệp 349 115 14 6 14 5 49 16 427 142

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

[11]

Đội tuyển bóng đá quốc gia Cộng hòa Séc
Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
2001 8 4
2002 6 4
2003 7 4
2004 13 9
2005 11 5
2006 8 4
2007 8 1
2008 9 1
2009 8 6
2010 1 0
2011 7 1
2012 7 2
Tổng cộng 93 41

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng của CH Séc liệt kê trước.[12]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 25 tháng 4 năm 2001 Prague, Cộng hòa Séc  Bỉ 1–1 Hòa Giao hữu
2. 6 tháng 6 năm 2001 Teplice, Cộng hòa Séc  Bắc Ireland 3–1 Thắng Vòng loại World Cup 2002
3. 5 tháng 9 năm 2001 Teplice, Cộng hòa Séc  Malta 3–2 Thắng Vòng loại World Cup 2002
4. 6 tháng 10 năm 2001 Prague, Cộng hòa Séc  Bulgaria 6–0 Thắng Vòng loại World Cup 2002
5. 6 tháng 9 năm 2002 Prague, Cộng hòa Séc  Nam Tư 5–0 Thắng Giao hữu
6.
7. 16 tháng 10 năm 2002 Teplice, Cộng hòa Séc  Belarus 2–0 Thắng Vòng loại Euro 2004
8. 20 tháng 11 năm 2002 Teplice, Cộng hòa Séc  Thụy Điển 3–3 Hòa Giao hữu
9. 12 tháng 2 năm 2003 Saint-Denis, Pháp  Pháp 2–0 Thắng Giao hữu
10. ngày 30 tháng 4 năm 2003 Teplice, Cộng hòa Séc  Thổ Nhĩ Kỳ 4–0 Thắng Giao hữu
11. 6 tháng 9 năm 2003 Minsk, Belarus  Belarus 3–1 Thắng Vòng loại Euro 2004
12. 10 tháng 9 năm 2003 Prague, Cộng hòa Séc  Hà Lan 3–1 Thắng Vòng loại Euro 2004
13. 31 tháng 3 năm 2004 Dublin, Ireland  Cộng hòa Ireland 2–1 Thua Giao hữu
14. 2 tháng 6 năm 2004 Prague, Cộng hòa Séc  Bulgaria 3–1 Thắng Giao hữu
15. 6 tháng 6 năm 2004 Teplice, Cộng hòa Séc  Estonia 2–0 Thắng Giao hữu
16.
17. 15 tháng 6 năm 2004 Aveiro, Bồ Đào Nha  Latvia 2–1 Thắng Euro 2004
18. 19 tháng 6 năm 2004 Aveiro, Bồ Đào Nha  Hà Lan 3–2 Thắng Euro 2004
19. 23 tháng 6 năm 2004 Lisbon, Bồ Đào Nha  Đức 2–1 Thắng Euro 2004
20. 27 tháng 6 năm 2004 Porto, Bồ Đào Nha  Đan Mạch 3–0 Thắng Euro 2004
21.
22. 12 tháng 2 năm 2005 Teplice, Cộng hòa Séc  Phần Lan 4–3 Thắng Vòng loại World Cup 2006
23. 30 tháng 3 năm 2005 Andorra la Vella, Andorra  Andorra 4–0 Thắng Vòng loại World Cup 2006
24. 4 tháng 6 năm 2005 Liberec, Cộng hòa Séc  Andorra 8–1 Thắng Vòng loại World Cup 2006
25. 8 tháng 6 năm 2005 Teplice, Cộng hòa Séc  Macedonia 6–1 Thắng Vòng loại World Cup 2006
26. 7 tháng 9 năm 2005 Olomouc, Cộng hòa Séc  Armenia 4–1 Thắng Vòng loại World Cup 2006
27. 26 tháng 5 năm 2006 Innsbruck, Áo  Ả Rập Xê Út 2–0 Thắng Giao hữu
28. 7 tháng 10 năm 2006 Liberec, Cộng hòa Séc  San Marino 7–0 Thắng Vòng loại Euro 2008
29.
30. 15 tháng 11 năm 2006 Prague, Cộng hòa Séc  Đan Mạch 1–1 Hòa Giao hữu
31. 24 tháng 3 năm 2007 Prague, Cộng hòa Séc  Đức 2–1 Thua Vòng loại Euro 2008
32. 20 tháng 8 năm 2008 London, Anh  Anh 2–2 Hòa Giao hữu
33. 12 tháng 8 năm 2009 Teplice, Cộng hòa Séc  Bỉ 3–1 Thắng Giao hữu
34. 5 tháng 9 năm 2009 Bratislava, Slovakia  Slovakia 2–2 Hòa Vòng loại World Cup 2010
35. 9 tháng 9 năm 2009 Uherske Hradiste, Cộng hòa Séc  San Marino 7–0 Thắng Vòng loại World Cup 2010
36.
37.
38.
39. 29 tháng 3 năm 2011 České Budějovice, Cộng hòa Séc  Liechtenstein 2–0 Thắng Vòng loại Euro 2012
40. 29 tháng 2 năm 2012 Dublin, Ireland  Cộng hòa Ireland 1–1 Hòa Giao hữu
41. 26 tháng 5 năm 2012 Styria, Áo  Israel 2–1 Thắng Giao hữu

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Liverpool
Olympique Lyon
Portsmouth
Galatasaray

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Milan Baroš đã kết hôn với Tereza Franková.[13] Con trai của họ, Patrick, ra đời vào ngày 1 tháng 9 năm 2009.[14]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Baros chuyển sang Villa” (bằng tiếng Anh). BBC Sport. 23 tháng 8 năm 2005. Truy cập 27 tháng 1 năm 2008. 
  2. ^ “Ligue 1 - Baros vi phạm luật lái ô tô quá tốc độ 170 mph (270 km/h)”. Eurosport. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập 26 tháng 1 năm 2008. 
  3. ^ “Portsmouth seal Baros loan deal”. BBC Sport. Ngày 27 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2008. 
  4. ^ “Match Report - Bellinzona:3 Galatasaray:4”. Galatasaray.org. 18 tháng 12 năm 2008. Truy cập 24 tháng 12 năm 2008. 
  5. ^ “Match Report - Kocaeli:1 Galatasaray:4”. Galatasaray.org. 21 tháng 12 năm 2008. Truy cập 24 tháng 12 năm 2008. 
  6. ^ “Match Report - Galatasaray:4 Beşiktaş:2”. Galatasaray.org. 21 tháng 12 năm 2008. Truy cập 24 tháng 12 năm 2008. 
  7. ^ Baros scores first two goals of season Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009
  8. ^ Baros scores twice against Besiktas Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009
  9. ^ Czechs ban Hammer after late night out. This is London (ngày 8 tháng 4 năm 2009). Truy cập: ngày 8 tháng 4 năm 2009.
  10. ^ Baros bags four in Czech romp
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên NFTprofile
  12. ^ Thống kê quốc tế của Milan Baroš trên trang của Hiệp hội bóng đá Cộng hòa Séc (Tiếng Séc)
  13. ^ “Milan Baros gizlice evlendi”. Hürriyet. Ngày 2 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2009. 
  14. ^ “Milan Baroš je tatínkem”. Milan Baroš Official Website. Ngày 2 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]