Phil Neville

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phil Neville
England Women 0 New Zealand Women 1 01 06 2019-1360 (47986481842) (cropped).jpg
Neville trong vai trò huấn luyện viên trưởng Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Anh năm 2019
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Philip Neville[1]
Ngày sinh 21 tháng 1, 1977 (45 tuổi)
Nơi sinh Bury, Anh
Chiều cao 5 ft 11 in (1,80 m)[2][3]
Vị trí Hậu vệ
Tiền vệ
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Inter Miami
(Huấn luyện viên)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1990–1995 Manchester United
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1995–2005 Manchester United 263 (5)
2005–2013 Everton 242 (4)
Tổng cộng 505 (9)
Đội tuyển quốc gia
1992–1993 U-16 Anh 10 (0)
1993–1995 U-18 Anh 6 (0)
1995–1996 U-21 Anh 7 (0)
2007 Anh B 1 (0)
1996–2007 Anh 59 (0)
Các đội đã huấn luyện
2015 Salford City
2018–2021 Anh (đội nữ)
2021– Inter Miami
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia

Phillip John "Phil" Neville (sinh 1977) là một cựu cầu thủ và là huấn luyện viên bóng đá người Anh từng chơi vị trí hậu vệtiền vệ. Hiện tại anh là huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ Inter Miami tại Major League Soccer.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Anh sinh ngày 21 tháng 1 năm 1977 ở Bury, Manchester là em của huyền thoại Manchester United Gary Neville

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Anh gia nhập lò đào tạo trẻ của Manchester United vào năm 1990 và lên đội 1 vào năm 1995. Trong sự nghiệp của mình, Neville đã có 6 cup Priemier League, 3 cup FA, 1 Champions League khi chơi cho Manchester United. Anh nằm trong đội hình đoạt cú ăn ba lịch sử Manchester United

Everton[sửa | sửa mã nguồn]

Anh gia nhập Everton vào ngày 4 tháng 4 năm 2005 với giá 3.5 triệu bảng anh. Từ khi gia nhập thì anh không có được 1 danh hiệu nào. Neville trở thành đội trưởng Everton vào năm 2007 sau khi David Weir chuyển đến Ranger FC Vào ngày 9 tháng 4 năm 2013, anh rời Everton sau mùa giải năm ấy khi hết hạn hợp đồng. Huấn luyện viên Everton David Moyes nói rằng "Đó là 1 cầu thủ hay. Chúng tôi sẽ khó khăn khi mất cậu ấy".

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Anh được gọi vào đội tuyển Anh vào năm 1996 trong trận đấu với đội tuyển Trung Quốc. Anh đã chơi trọn vẹn trận đấu với người anh Gary Neville trong sinh nhật thứ 19 của mình.

Sự nghiệp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

11 tháng 7 Neville theo David Moyes để trở thành trợ lý cho Moyes cùng vớiRyan Giggs cầu thủ\huấn luyện viên

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hugman, Barry J. (2005). The PFA Premier Football League Players' Records 1946–2005. Queen Anne Press. tr. 454. ISBN 1-85291-665-6.
  2. ^ Hugman, Barry J. biên tập (2008). The PFA Footballers' Who's Who 2008–09. Edinburgh: Mainstream Publishing. tr. 310. ISBN 978-1-84596-324-8.
  3. ^ Rollin, Glenda; Rollin, Jack biên tập (2008). Sky Sports Football Yearbook 2008–2009. London: Headline Publishing Group. tr. 471. ISBN 978-0-7553-1820-9.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]