Courtney Barnett

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Courtney Barnett
Courtney Barnett 2014.jpg
Barnett biểu diễn năm 2014
Thông tin nghệ sĩ
Sinh3 tháng 11, 1988 (31 tuổi)
Sydney, Úc
Nguyên quánMelbourne, Úc
Thể loạiIndie rock
Nghề nghiệpCa sĩ, nhạc sĩ, người chơi guitar
Nhạc cụHát, guitar
Năm hoạt động2006–nay
Hãng đĩaMilk! Records, Marathon Artists, Mom + Pop Music, House Anxiety
Websitewww.courtneybarnett.com.au

Courtney Barnett (sinh ngày 3 tháng 11 năm 1988)[1] là một ca sĩ-nhạc sĩ từ Melbourne, Úc. Barnett bắt đầu chơi guitar từ năm 10 tuổi.[2] Năm 2012, cô thành lập hãng đĩa Milk! Records và phát hành EP đầu tay, I've Got a Friend called Emily Ferris. EP thứ hai, How to Carve a Carrot into a Rose (2013), nhận được đánh giá cao từ các nhà phê bình. "Avant Gardener" được trang web Pitchfork Media chọn làm 'Best New Track' và có mặt trong danh sách "Top 100 Tracks of 2013".[3]

Album phòng thu đầu tay của Barnett, Sometimes I Sit and Think, and Sometimes I Just Sit, được phát hành ngày 23 tháng 3 năm 2015. Album đạt vị trí số #4 tại Úc.

Thành viên khi biểu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Thông tin Vị trí bảng xếp hạng
AUS
[4]
IRE
[5]
NLD
[6]
NZ
[7]
UK
[8]
US
[9]
Sometimes I Sit and Think,
and Sometimes I Just Sit
4 28 26 19 16 20

EP[sửa | sửa mã nguồn]

Year Title Format Released Label
2012 I've Got a Friend Called Emily Ferris CD/Digital ngày 2 tháng 4 năm 2011 Milk! Records
2013 How to Carve a Carrot into a Rose CD/Digital ngày 15 tháng 10 năm 2013 Milk! Records
2013 The Double EP: A Sea of Split Peas 12" vinyl
CD/Digital
ngày 20 tháng 5 năm 2013 Milk! Records
Marathon Artists
House Anxiety
Mom + Pop Music

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • "History Eraser" - Milk!/Marathon/V2 (14 tháng 10 năm 2013)
  • "Pedestrian at Best" - Milk!/Marathon/V2 (16 tháng 2 năm 2015)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “SXSW: Indie ‘it’ girl Courtney Barnett is bracing for the backlash”. Thestar.com. Ngày 18 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2015. 
  2. ^ “Courtney Barnett interview: Why the rising star is happy to sing about panic attacks, parents and masturbating”. The Independent. Truy cập 1 tháng 4 năm 2015. 
  3. ^ “The Top 100 Tracks of 2013”. Pitchfork Media. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015. 
  4. ^ “Discography Courtney Barnett”. australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015. 
  5. ^ “TOP 100 ARTIST ALBUM, WEEK ENDING ngày 26 tháng 3 năm 2015”. GFK Trach Chart. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015. 
  6. ^ [hhttp://www.dutchcharts.nl/showitem.asp?interpret=Courtney+Barnett&titel=Sometimes+I+Sit+and+Think%2C+and+Sometimes+I+Just+Sit&cat=a “Discography Courtney Barnett”]. dutch-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015. 
  7. ^ Hung, Steffen. “Discography Courtney Barnett”. New Zealand Charts Portal. Hung Medien. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2015. 
  8. ^ Charts, Official. “Courtney Barnett”. Official Charts Company. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  9. ^ “Courtney Barnett Chart History” (select "Billboard 200" link). RIAA (bằng tiếng Anh). Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015.