Thuấn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngu Thuấn
虞舜
Vua Trung Quốc (chi tiết...)
帝舜.png
Vua Thuấn, tranh tường thời nhà Hán
Ngũ Đế
Tiền nhiệm Đế Nghiêu
Kế nhiệm Hạ Vũ
Thông tin chung
Vợ
Hậu duệ
Các tên khác Diêu Trọng Hóa (tên khi sinh)
Đô Quân
Hữu Ngu Thị
Bộ lạc Hữu Ngu
Thân phụ Cổ Tẩu
Thân mẫu Ốc Đăng
Mất 2184 TCN
Sông Tương, Trung Quốc

Đế Thuấn (chữ Hán: 帝舜) là một vị vua huyền thoại thời Trung Quốc cổ đại, nằm trong Ngũ Đế. Ông được Đế Nghiêu nhượng vị trở thành vua Trung Hoa, được khắc họa qua sự tích Thiện nhượng (禅让) đầu tiên trong lịch sử. Cùng với các Đế NghiêuĐại Vũ, Đế Thuấn được Nho giáo coi là một trong những vị Quân vương kiểu mẫu, và là những tấm gương đạo đức trong văn hóa Trung Hoa.

Đạo giáo trung nhận Thuấn là Địa Quan Đại Đế (地官大帝), Đế NghiêuThiên Quan Đại Đế (天官大帝), còn Hạ VũThủy Quan Đại Đế (水官大帝). Ngày sinh của Địa Quan là tiết Trung Nguyên.

Phò tá Đế Nghiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Hình vẽ Đế Thuấn thời nhà Hán

Nguyên tên Đế Thuấn là Trọng Hoa (重華), người bộ lạc Hữu Ngu (有虞). Do ông được sinh ra ở Diêu Khư (姚墟), nên về sau lấy Diêu (姚) làm họ. Theo truyền thuyết, mẹ ông Ốc Đăng (握登) là người rất hiền đức mất sớm, cha là Cổ Tẩu (瞽叟) lấy vợ khác và sinh ra Tượng (象). Dù bị mẹ con Tượng và cả Cổ Tẩu đối xử không tốt, Thuấn vẫn một mực hiếu thuận, giữ đúng đạo làm con.

Danh tiếng Trọng Hoa được người trong bộ lạc nể phục nên khi trưởng thành, ông được bầu làm thủ lĩnh bộ lạc. Ông đem bộ lạc quy phục Đế Nghiêu và được Đế Nghiêu gả cho hai người con gái là Nga HoàngNữ Anh, đồng thời tặng cho lương thực và rất nhiều bò dê gia súc.

Bộ lạc Hữu Ngu dưới sự lãnh đạo của ông ngày càng hùng mạnh, trở thành một trong những trụ cột chính trong liên minh các bộ lạc dưới quyền quân chủ của Đế Nghiêu.

Được Nghiêu truyền ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Đế Nghiêu già yếu, Thuấn được Đế Nghiêu nhường ngôi vị quân chủ của liên minh các bộ lạc. Ông đặt thủ đô của liên minh tại Bồ Phản (蒲阪), Sơn Tây hiện nay). Từ đó, ông thường được gọi là Đại Thuấn (大舜) hay Ngu Thuấn (虞舜).

Việc Đế Nghiêu chọn Thuấn nhường ngôi chứ không nhường ngôi cho con mình là Đan Chu thường được sử sách đời sau coi là tấm gương mẫu mực của việc chọn người tài đức chứ không vì lợi ích riêng tư của dòng họ.

Tuy nhiên có ý kiến căn cứ vào Trúc thư kỉ niên, cuốn biên niên sử nước Ngụy thời Chiến Quốc cho rằng:

"Thuấn giam Nghiêu ở Bình Dương rồi cướp lấy ngôi vua"
"Thuấn giam Nghiêu và không cho Đan Chu gặp cha"[1].

Truyền ngôi cho Đại Vũ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời cổ đại, trị thuỷ để ổn định cuộc sống, phát triển việc cày cấy là việc cấp bách hàng đầu. Theo sử sách, Thuấn sai Cổn làm việc trị thuỷ. Cổn trị thuỷ không thành công nên bị Thuấn xử tội chết. Thuấn lại dùng con Cổn là trị thuỷ.

Sau nhiều năm, Vũ trị thuỷ thành công, vì thế được Thuấn chọn làm người kế vị. Thuấn không truyền ngôi cho con mình là Thương Quân mà trao ngôi báu cho Vũ, về sau Vũ lập ra nhà Hạ.

Trong văn học Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng vua Thuấn minh họa hiếu cảm động trời của ông trong Nhị thập tứ hiếu

Trong văn học Việt Nam, Thời kì Nghiêu, Thuấn được dùng làm điển cố miêu tả thời thái bình, (ngoài) đường không lượm của rơi, (trong) nhà khỏi lo đóng cửa.

Trong vở kịch thơ Kiều Loan, Hoàng Cầm dùng hai chữ "Nghiêu Thuấn" để chỉ cách cai trị nhân từ và công bằng. Khi quan Thị lang muốn trừng trị một người dân vì có nói lời chỉ trích triều đình vua Gia Long, viên quan Tham tri can:

Xin đại nhân chớ vội vàng lên án
Cửa miệng dân gian không thiếu những điều
Ca tụng Tây Sơn, oán trách đương triều
Dân oán hận phải tìm ra gốc ngọn
Đây là Kiệt Trụ hay đây là Nghiêu Thuấn?
Chúa thượng nhân từ sao oán hận không nguôi?

Điển cố này cũng ảnh hưởng khía cạnh khác của đời sống người Việt Nam, kể cả tôn giáo. Bài Kệ U Minh Chung của đạo Cao Đài có câu:

Nam mẫu Đông giao cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt.

Dịch nghĩa: Đất đai trong nước đều thấm nhuần thời thái bình an lạc.

Một điển cố khác liên quan đến vua Thuấn là sông Tương.

Theo truyền thuyết, vua Thuấn đi tuần thú đất Thương Ngô ở miền sông Tương không may bị bệnh chết. Hai người vợ là Nga HoàngNữ Anh (con vua Nghiêu) đi tìm vua đến bên sông Tương, ngồi bên bờ sông khóc lóc thảm thiết rồi trầm mình tự tử. Do đó, giọt Tương hay mạch Tương thành điển cố chỉ giọt nước mắt, nhất là nếu khóc vì tình.

Trong truyện Kiều có câu:

Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương

(Kiều khóc)

Điển cố này cũng dùng cho phái nam, như trong câu sau, cũng trích truyện Kiều:

Giọt châu lã chã khôn cầm
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt Tương!

(Thúc Sinh khóc)

Từ biểu tượng "khóc vì tình", điển này có khi nới rộng ra để nói về việc buồn (dù có thể không khóc) vì tình, như câu sau trong Bích câu kỳ ngộ:

Ỏi tai những tiếng đoạn trường
Lửa tình dễ nguội sóng Tương khôn hàn

(Tú Uyên tương tư)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chu Mục, Trần Thâm chủ biên (2003), 365 truyện cổ sử chọn lọc Trung Quốc, tập 1, Nhà xuất bản Thanh niên
  • Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành (1998), Cố sự Quỳnh Lâm, Nhà xuất bản Thanh Hoá
  • Kỳ Ngạn Thần (2007), Người Trung Quốc và những hiểu lầm về lịch sử, Nhà xuất bản Công an nhân dân

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kỳ Ngạn Thần, sách đã dẫn, tr 51-52

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Đế Nghiêu
Ngũ Đế
~2295 TCN - ~2246 TCN
Kế nhiệm:
Hạ Vũ