Lê Long Đĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Đế Long Đĩnh
黎帝龍鋌
Hoàng đế Đại Cồ Việt (chi tiết...)
Lelongdinh.jpg
Tượng Lê Long Đĩnh ở cố đô Hoa Lư
Hoàng đế nhà Tiền Lê
Trị vì 10051009
Tiền nhiệm Lê Trung Tông
Kế nhiệm Triều đại sụp đổ
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên húy Lê Long Đĩnh (黎龍鋌)
Lê Chí trung (黎至忠)
Niên hiệu Ứng Thiên (應天)
Cảnh Thụy (景瑞)
Thụy hiệu Ngọa Triều Hoàng Đế
臥朝皇帝
Triều đại Nhà Tiền Lê
Thân phụ Lê Đại Hành
Thân mẫu Chi hậu Diệu Nữ
Sinh 15 tháng 11, 986
Mất 19 tháng 11, 1009 (23 tuổi)
Đại Cồ Việt

Lê Long Đĩnh (chữ Hán: 黎龍鋌; 15 tháng 11, 98619 tháng 11, 1009), còn gọi là Lê Ngọa Triều (黎臥朝), là vị hoàng đế cuối cùng của nhà Tiền Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì 4 năm từ năm 1005 đến năm 1009. Cái chết bí ẩn của ông ở tuổi 24 dẫn đến việc chấm dứt nhà Tiền Lê, quyền lực rơi vào tay nhà Lý.[1]

Trong sử sách, Lê Long Đĩnh thường được nhắc đến với tật xấu của một kẻ dâm đãng, tàn bạo và độc ác. Tuy nhiên, ông vẫn được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ phụng và gần đây xuất hiện các ý kiến cho rằng một số điều xấu của ông chỉ là thêu dệt, thậm chí bịa đặt. Ông được coi là vị Hoàng đế bị "đóng đinh" trong lịch sử Việt Nam[2][3][4][5]

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Long Đĩnh còn có tên là Lê Chí Trung (黎至忠), sinh vào tháng 10, ngày Bính Ngọ, năm Bính Tuất[6] (tức 15 tháng 11 năm 986), là con trai thứ 5 của Lê Đại Hành. Sử không chép rõ tên mẹ ông, chỉ ghi là Chi hậu diệu nữ hoặc sơ hầu di nữ, và ghi ông là em cùng mẹ với Nam Phong vương Lê Long Việt.

Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ) chép rằng năm Hưng Thống thứ 4 (992), ông được Lê Đại Hành phong tước Khai Minh vương (開明王), cho thực ấp ở Đằng Châu (Hưng Yên ngày nay)[7].

Năm 1004, Kinh Thiên đại vương mất[8], Lê Đại Hành lập Nam Phong vương Long Việt làm Hoàng thái tử, gia phong Long Đĩnh làm Khai Minh Đại vương, Lê Long Tích làm Đông Thành Đại vương. Trước đó, theo ĐVSKTT ghi nhận, Lê Long Đĩnh xin làm Thái tử, Đế có ý muốn cho, đình thần bàn nghị lập thứ mà không lập trưởng là không phải lễ, Đế bèn thôi.

Tranh đoạt Hoàng vị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1005, Lê Đại Hành băng ở Trường Xuân điện, Thái tử Lê Long Việt cùng với 3 người em khác là Đông Thành vương Lê Long Tích, Trung Quốc vương Lê Long Kính và người em cùng mẹ Khai Minh Đại vương Lê Long Đĩnh tranh giành ngôi vị[9]. Sách An nam chí lược chép rằng: "Lê Hoàn đã chết, mấy người con đều tụ tập binh mã, chia đặt trại sách, quan thuộc ly tán, nhân dân lo sợ"[10].

Các bên giằng co trong 8 tháng, đất nước không có chủ. Tháng 10, năm 1005, Lê Long Việt đánh bại Đông Thành vương, khiến Vương phải chạy vào đất Cử Long. Lê Long Việt lại đuổi bắt, Đông Thành vương chạy sang Chiêm Thành, chưa đến nơi bị người châu Thạch Hà giết ở cửa biển Cơ La. Lê Long Việt do đó lên ngôi, tức là Trung Tông hoàng đế. Tuy nhiên, Trung Tông ở ngôi được 3 ngày thì Lê Long Đĩnh giết chết. Bầy tôi đều chạy trốn hết, chỉ có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc.[9]

Theo Đại Việt sử ký, có nguồn Dã sử chép rằng:"Đại Hành băng, Trung Tông vâng di chiếu nối ngôi. Long Đĩnh làm loạn, Trung tông vì anh em cùng mẹ không nỡ giết, tha cho. Sau Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tông"[9]

Mùa đông năm 1005, Lê Long Đĩnh xưng là Khai Thiên Ứng Vận Thánh Văn Thần Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng đế (開天應運聖文神武則天崇道大勝明光孝皇帝), truy thụy cho Trung Tông, truy tôn mẹ là Hưng Quốc Quảng Thánh Hoàng Thái Hậu (興國廣聖皇太后).

Cùng năm 1005, Ngự Bắc vương Lê Long Cân cùng Trung Quốc vương chiếm trại Phù Lan làm phản. Lê Long Đĩnh thân đi đánh, đến Đằng Châu viên Quản giáp là Đỗ Thị đem việc người anh em họ ngoại là Lê Hấp Ni làm phản tâu lên. Long Đĩnh sai bắt tra hỏi, Hấp Ni và những kẻ dự mưu 12 người điều bị giết. Đến trại Phù Lan, người trại đóng cửa trại cố thủ. Đánh không hạ được, bèn vây chặt vài tháng, người trong trại hết lương ăn. Ngự Bắc vương tự biết kế cùng thế khuất, bèn bắt Trung Quốc vương đem nộp. Nhà vua bèn sai chém Trung Quốc vương, tha tội cho Ngự Bắc vương, rồi đem quân đánh Ngự Man vương ở Phong Châu. Ngự Man vương phải chịu hàng. Quân về đến Đằng Châu, đổi tên châu ấy làm phủ Thái Bình. Từ đấy về sau các vương và giặc cướp đều hàng phục cả.

Chuyến đi này khi quân triều đình đánh nhau với người trại Phù Lan, chợt thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biển Thần Đầu (nay là cửa biển Thần Phù). Vua Lê Long Đĩnh về đến sông Tham đi sang Ái Châu để đánh quân Cử Long.[11]

Năm 1006 nhà vua phong con trưởng là Sạ làm Khai Phong vương, con nuôi là Lê Thiệu Lý làm Sở Vương, cho ở bên tả; Lê Thiệu Huân làm Hán Vương, cho ở bên hữu. Ông còn có người con nuôi khác là Lê Ác Thuyên, phong làm Tam Nguyên Vương vào năm 1008.

Theo sử gia Ngô Thì Sĩ, hệ quả của việc anh em Long Đĩnh tranh giành ngôi vua đã khiến cho Lý Công Uẩn mạnh lên:Quân Tứ Xương (do Lý Công Uẩn chỉ huy) chỉ đứng ngoài bên xem ai thành ai bại, để cho người họ khác vào nắm binh quyền, Công Uẩn dần dần mạnh lên, rồi họ Lý nổi lên không ai ngăn nổi.

Sự nghiệp trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Nghe tin Lê Đại Hành băng hà, một số quan lại ở vùng biên ải phía Nam của Trung Quốc đã dâng thư về triều, thúc giục Hoàng đế nhà Tống nhanh chóng lợi dụng cơ hội thuận tiện này để xuất quân sang đánh chiếm Đại Cồ Việt. Vua Tống không nghe, cho rằng: Họ Lê thường sai con sang chầu, góc biển ấy vẫn được yên, chưa từng bất trung, bất thuận. Nay nghe tin Lê Hoàn mới mất, chưa có lễ thăm viếng mà đã vội đem quân đánh kẻ đang có tang, đó chẳng phải là việc làm của đấng vương giả.[12]

Năm 1006, Hoàng đế cho sửa đổi quan chế và triều phục của các quan văn võ và tăng đạo, theo đúng như nhà Tống.[13]

Năm 1007, ông sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàn Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, xin kinh Đại Tạng. Nhà Tống phong vua làm Giao Chỉ Quận Vương, lĩnh Tĩnh Hải quân tiết độ sứ và cho tên là Chí Trung, ban tước cho Minh Xưởng và Thành Nhã.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1009, ông lại xin được đặt người coi việc tại chợ trao đổi hàng hóa ở Ung Châu thuộc Trung Hoa, nhưng Tống đế chỉ cho mua bán ở chợ trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và trấn Như Hồng, là những nơi giáp vùng biên giới thôi. Theo An Nam chí lược, vua Tống cho rằng Giao Chỉ thường cướp phá vùng bờ biển nước Tống, nay cho buôn bán ở Ung Châu không tiện, cứ theo lệ cũ là trao đổi hàng hóa tại Liêm Châu và Trấn Như Hồng.

Phát triển kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Khi hoàng đế đi Ái Châu, đến sông Vũ Lung. Tục truyền: người lội qua sông này phần nhiều bị hại, nhân thể vua sai người bơi lội qua lại đến ba lần, không hề gì, xuống chiếu đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại.[14]

Khi ông đến Hoàn Giang, sai Phòng át sứ là Hồ Thủ Ích đem hơn 5 nghìn quân của châu Hoan Đường, sửa chữa đường từ sông Châu Giáp đến cửa biển Nam Giới để quân đi cho tiện. Ông cũng sai dân Ái Châu đào kênh, đắp đường từ cửa Vân Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lũng.[15]

Thỉnh kinh về Đại Cồ Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Sử chép: Mùa xuân năm Đinh Mùi (1007), Lê Long Đĩnh sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã đem con tê trắng sang biếu nhà Tống, dâng biểu xin cửu kinh và kinh sách Đại Tạng."[16]

Trong Việt Nam Phật giáo sử lược, thiền sư Thích Mật Thể viết: Niên hiệu Ứng Thiên thứ 14 (1008), sau khi nước ta đã hòa với Tống rồi, vua Đại Hành sắc ông Minh Xưởng và ông Hoàng Thành Nhã sang sứ nước Trung Hoa, cống hiến đồ thổ sản và xin vua Tống ban cho bộ "Cửu kinh" và "Đại Tạng kinh". Vua Tống trao cho những bộ ấy và cho sứ giả đưa về. Đó là lần đầu tiên nước ta cho người sang cầu kinh bên Trung Hoa vậy.[17]

Cửu kinh gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Hiếu Kinh, Luận Ngữ, Mạnh TửChu Lễ; là 9 bộ sách vĩ đại nền tảng của văn minh Trung Hoa lần đầu tiên nhập vào Việt Nam là do Lê Long Đĩnh lấy về. Còn kinh Đại Tạng là một bộ sách vĩ đại được rất nhiều thế hệ các cao tăng Trung Hoa sưu tầm và dịch thuật suốt 1.000 năm, từ thế kỷ thứ nhất đến cuối thế kỷ thứ 10 mới in thành sách lần đầu tiên gồm 5.000 quyển.

Dẹp loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Đế Long Đĩnh trong 4 năm cầm quyền đã 5 lần cầm quân đánh dẹp (ở các vùng đất thuộc Hưng Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay):

  • Lần thứ nhất (1005): dẹp tan bạo loạn, tranh giành giữa các anh em trong hoàng tộc để thu phục mọi người.[18] Từ đấy về sau các Vương và giặc cướp đều hàng phục.[19]
  • Lần thứ hai (1005): khi quan quân đang đánh nhau với ngưới ở trại Phù Lan chợt thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biển Thần Phù (Ninh Bình). Ông về đến sông Tham, đi sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long.
  • Lần thứ ba (1008): đánh người Man ở hai châu Đô Lương và Vị Long.
  • Lần thứ tư (1008): đánh giặc ở Hoan châu và châu Thiên Liêu.
  • Lần thứ năm (1009): tháng 7, đánh giặc ở các châu Hoan Đường và Thạch Hà.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Ngọa Triều cai trị được 4 năm, đến tháng 10, ngày Tân Hợi, năm Kỷ Dậu (tức 19 tháng 11 năm 1009) thì băng hà, thọ 24 tuổi. Long Đĩnh mất, con trai là Sạ còn bé, dưới sự sắp đặt của quan Chi Hậu Đào Cam Mộc, triều thần đã tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, sáng lập ra triều đại nhà Lý.

Theo sách An Nam chí lược: Tháng 3 năm thứ 3 (1010), Chí Trung (Lê Long Đĩnh) mất, có con mới mười tuổi, bị Lý Công Uẩn soán ngôi. Lúc ấy, sứ thần của Chí Trung còn ở Kinh sư, Chân Tông cho biết tin và nói nếu muốn để tang cũng cho phép. Sứ-giả chỉ che mặt than khóc mà thôi.

Nhà Tiền Lê kết thúc, trải qua 3 đời, tồn tại 29 năm. Theo sử gia Ngô Thì Sĩ, Lý Công Uẩn đã dùng thụy hiệu xấu để đặt cho Lê Long Đĩnh là Ngọa Triều hoàng đế, nghĩa là: Vị hoàng đế nằm để thiết triều, ám chỉ tin đồn ông bị trĩ, phải nằm mới được.

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Những hành động tàn bạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Văn Hưu nói:

Ngọa Triều giết anh, tự lập làm vua; bạo ngược với dân chúng để thỏa lòng hung ác, đến nỗi mất nước mất ngôi, không phải là sự bất hạnh của nhà Lê, lỗi ở Đại Hành không sớm đặt Thái tử và do Trung Tông không biết phòng giữ từ khi mới chớm nên đến nỗi thế.

Đại Việt sử lược (trang 33, quyển 1, bản điện tử) viết:

Phàm đánh trận, bắt được quân địch vua cho áp giải đến bờ sông. Lúc nước thủy triều rút xuống thì sai làm cái chuồng dưới nước, rồi đuổi tù binh vào trong chuồng. Khi nước thủy triều dâng lên, tù binh ngộp hơi thì hả miệng ra rồi uống nước mà chết. Lại bắt (tù nhân) treo lên cây cao rồi sai người ở dưới chặt cây. Có khi vua đi chơi ở sông Chi Ninh, sông có nhiều thuồng luồng, bèn trói người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại ở giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng nó sát hại đi. Còn phàm những con vật (nuôi để cúng tế) đem cung cấp cho nhà bếp, trước tiên phải sai người khiên vào để tự tay vua đâm chết đã, rồi sau mới giao cho người nấu bếp. Lại khi, nhà vua đặt mía trên đầu bậc tu hành là đức Tăng thống Quách Mão mà róc, rồi giả vờ sút tay dao phập vào đầu Quách Mão chảy máu ra, vua cười rầm lên. Hoặc đêm đến vua sai làm thịt mèo để cho các tướng vương xơi. Ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, các tước vương đều mửa thốc mửa tháo. Mỗi khi đến buổi chầu thì sai những tên hề ra nói leo lẻo luôn mồm để làm khỏa lấp lời những ai bẩm bạch về việc gì. Lại thấy kẻ giữ cung làm món chả thì đến cùng người tranh nhau mà ăn...

Hồ Đắc Duy trong bài Bệnh án của Ngọa Triều Hoàng Đế cho rằng: "Chỉ có những người mắc bệnh tâm thần, với một đầu óc bệnh hoạn mới tưởng tượng ra các trò chơi giết người phong phú như đoạn văn trên mô tả những hành vi độc ác mất hết tính người".[20]

Nhà nghiên cứu Tạ Chí Trường cũng có lời bình như sau:[21]

"Mùa đông tháng Mười chết mà trong năm đó Ngoạ Triều còn ở trên công trường xây dựng đường sá, suy nghiệm ra một cách rất thực tế về việc dò tìm lối có thể qua sông dễ dàng. Mùa thu tháng Bảy ông còn ở trên chiến trường Nghệ An, bỏ đường thuỷ theo đường bộ về kinh đô,... Nói nhiều về tội của Ngoạ Triều chỉ vì sử quan mang tính cách phe phía trong ghi chép: Họ oán giận chuyện Ngoạ Triều róc mía trên đầu Tăng thống Quách Mão mà lại cố tình lỡ tay làm chảy máu, và cười! Toàn thư chỉ nói đến "nhà sư Quách Ngang" nhưng bấy nhiêu đó cũng là đủ kể tội Ngoạ Triều rồi, vì mãi đến bây giờ khi nói về sự tàn ác của ông ta, có sách cũng chỉ viện dẫn đến chứng cớ ấy mà thôi."

Bệnh trĩ và "ngọa triều"[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Toàn thư thì "Dã sử chép: vua say đắm tửu sắc phát ra bệnh trĩ". Khâm định Việt sử Thông giám cương mục ghi Long Đĩnh vì mắc bệnh trĩ, nên khi ra thiết triều phải nằm, vì vậy tục gọi là Lê Ngoạ Triều[22]. Còn sử gia Ngô Thì Sĩ thì cho rằng tên gọi này do Lý Công Uẩn đặt để bôi nhọ. Trong Đại Việt sử ký tiền biên có đoạn[23]:

Xét việc Long Đĩnh cướp ngôi, cố nhiên không đáng được thụy hiệu đẹp, mà cái tên Ngọa Triều cũng không đúng. Có lẽ Lý Thái Tổ muốn dùng thụy hiệu xấu để gán cho, mà không biết rằng từ xưa những đế vương nào không đáng làm vua thì gọi là phế đế, mạt đế hoặc lấy cái tên khi bị phế mà chép. Còn như cái hiệu "Ngoạ Triều" thì thô bỉ không căn cứ?

Theo ý kiến của một số nhà khoa học ngày nay, bệnh trĩ là bệnh có liên quan đến cấu tạo của thành tĩnh mạch và huyết động học vùng chậu, các tĩnh mạch ở vùng hậu môn phồng lớn ra tạo thành búi trĩ. Nếu các búi trĩ chiếm trên 180 độ thì được xếp vào loại 4. Bệnh trĩ ở giai đoạn mà bệnh nhân phải nằm là ở giai đoạn 4, là giai đoạn nặng mà biện pháp điều trị là giải phẫu, các giải pháp này ở gần năm 1010 chưa có[24].

Nhà báo Hoàng Hải Vân trên báo Thanh niên điện tử[3] cho rằng khó tin được Lê Long Đĩnh là người "dâm dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được" (ngọa triều) vì trong suốt thời gian ngắn 4 năm cầm quyền ông đã tự mình làm tướng đi chinh phạt đến 5 lần và trận chiến cuối cùng mà Lê Long Đĩnh tham dự trước khi ông chết là 2 tháng (trận vua đem quân đi đánh châu Hoan Đường, Thạch Hà vào mùa thu tháng 7 năm Kỷ Dậu 1009). Theo nhà báo này, cầm quân đánh giặc liên miên như vậy phải là một người cường tráng.

Về thụy hiệu "Ngọa Triều", Khâm định Việt sử Thông giám cương mục chính biên quyển thứ nhất của nhà Nguyễn cho rằng cách gọi này không chính xác vì Long Đĩnh không có thụy hiệu[22]:

Long Đĩnh giết anh mà tự lập, hoang dâm thành bệnh, nằm mà coi chầu, nhân gọi là Ngọa Triều. Sử cũ chép là "Ngọa Triều hoàng đế", có lẽ là theo tên gọi thời bấy giờ, chứ không phải là tên thuỵ. Chép vậy thật là trái thường quá lắm! Này, đã không có tên thuỵ, thì cứ chép thẳng tên thực, đó là biến lệ của sử Cương mục (Trung Quốc). Nay đổi lại, chép là "Đế Long Đĩnh" để cho hợp với ý nghĩa và thể lệ của Cương mục dẫn trên.

Nghi án về cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Cột kinh chùa Nhất Trụcố đô Hoa Lư từ thời Tiền Lê là cột kinh cổ nhất Việt Nam
đền Vua Lê Đại Hành, nơi thờ Lê Long Đĩnh

Các bộ sử cổ của Việt Nam như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thưKhâm định Việt sử Thông giám cương mục cho rằng tháng 10 năm 1009, Lê Long Đĩnh mất và cái chết của ông là hậu quả của sự hoang dâm, mê tửu sắc[25][26][27].

Theo sách Đại Việt sử ký tiền biên, sử gia Ngô Thì Sĩ cho rằng Lý Công Uẩn giết Lê Long Đĩnh để đoạt ngôi[28]:

Đại Việt sử ký toàn thư chép thái độ của Lý Công Uẩn sau khi được sư Vạn Hạnh nói về sấm truyền họ Lý sẽ làm vua:

"Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh em đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn. Song từ đấy cũng lấy thế tự phụ, mới nảy lòng ngấp nghé ngôi vua".

Sử gia Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư có lời bình: Nhà Lê thay nhà Đinh, nhà Lý thay nhà Lê, nhà Trần thay nhà Lý,.. nói cho cùng, cũng đều chưa khỏi tiếng cướp ngôi.

An Nam Chí Lược của Lê Tắc cũng chép thái độ của Tống Nhân Tông khi Lý Công Uẩn cướp ngôi vua, sang Tống triều cống và xin chiếu chỉ:

"Chí Trung bất nghĩa mà được ngôi, nay Công Uẩn bắt chước làm bậy, lại càng đáng ghét".

Mặc dù trong chính sử, kể cả Đại Việt sử ký tiền biên, đều ghi nhận việc triều đình suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi và không ghi nhận một cuộc nổi dậy nào của những người nhân danh trung thành với nhà Tiền Lê để chống lại nhà Lý sau khi triều đại này hình thành nhưng ngày nay, một số tư liệu tìm thấy trong dân gian mà điển hình như sách Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch có đoạn chép:

Tục truyền rằng Công Trung là con của Lê Đại Hành, làm quan ở Diễn Châu, táng mả mẹ tại huyệt tốt đất ấy. Đến khi nhà Lý cướp ngôi nhà Lê, Công Trung còn giữ châu xưng đế.

Ghi công từ hậu thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Long Đĩnh được đúc tượng và thờ cùng với vua cha Lê Đại Hành tại 3 địa điểm là đền Vua Lê Đại Hành ở khu di tích Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình), đền Lăng ở quê hương Liêm Cần, Thanh Liêm (Hà Nam)[29] và di tích quốc gia đình An Lãng, xã Văn Tự, Thường Tín, Hà Nội.[30]

Hoàng đế Lê Long Đĩnh từng được Lê Đại Hành giao trấn giữ Đằng Châu, đồng thời là người khai sáng tên gọi phủ Thái Bình, nay là 2 tỉnh Thái BìnhHưng Yên nên ông cũng được nhân dân nhiều vùng 2 nơi này lập làm thành hoàng làng thờ phụng.

Thần tích đền Mây ở Hưng Yên, nơi thờ sứ quân Phạm Bạch Hổ có ghi đoạn liên quan đến vua như sau:[31] Lê Long Đĩnh đang lúc làm Khai Minh Vương, có thực ấp ở Đằng Châu, thường đến làng đó; thuyền đang đi giữa sông, đang lúc vua du lãm, bỗng nhiên ban ngày tối đen, mây kéo mù mịt, rồi gió mưa ào đến, ông bảo kiếm chỗ đậu tránh, thấy trên bờ cao có đền thờ mới hỏi người trong thôn rằng đền thờ ấy thờ thần gì. Thôn dân thưa là đền thờ thần Thổ Địa của Đằng Châu. Ông mới lớn tiếng bảo rằng:

Thần như có linh thì làm thế nào cho lui được gió mưa khiến bên này tạnh, bên kia mưa thì ta mới tin là có linh nghiệm.

Nói đoạn quả nhiên nửa sông gió, nửa sông mưa, vua khỏi bị ướt áo xiêm. Vua Lê Long Đĩnh rất lấy làm lạ, bảo trùng tu lại miếu vũ. Từ đó đổi Đằng Châu thành phủ Thái Bình.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lê Long Đĩnh chết vì bệnh trĩ hay bị đầu độc?, Vĩnh Khang, đăngg trên website trên Bảo tàng lịch sử quốc gia
  2. ^ Án xưa: Nghi án Lê Long Đĩnh giết anh, cướp ngôi
  3. ^ a ă Hoàng Hải Vân, Thử "bào chữa" cho Hoàng đế Lê Long Đĩnh, báo Thanh Niên online, 11/12/2007
  4. ^ Báo Thế giới Mới trong 2 số 752 - 753 (9/2007), Nghiên cứu của bác sĩ Hồ Đắc Duy
  5. ^ Cùng suy ngẫm lại chân dung của vua Lê Long Đĩnh, Nguồn tin:Bảo tàng Lịch sử quốc gia
  6. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ Toàn Thư, Quyển 1, Kỷ nhà Lê, Mục Ngọa Triều Hoàng đế.
  7. ^ Theo Cương Mục, tiền biên V, 31 thì Đằng Châu "là xã Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên nhà Trần gọi là Khoái Lộ, nhà Lê gọi là Khoái Châu. Nay tương ứng các địa bàn các huyện Kim Động, Khoái Châu, Văn Giangthành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên và một phần tỉnh Thái Bình.
  8. ^ Việt sử tiêu án, Soan giả Ngô Thì Sĩ, Dịch giả: Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu 1960; Nhà xuất bản văn sử, 1991, bản điện tử, trang 39
  9. ^ a ă â Đại Việt sử ký toàn thư, Soạn giả Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên..., Dịch giả Viện sử học Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993; bản điện tử, trang 74
  10. ^ An nam chí lược, soạn giả Lê Tắc, Dịch giả:Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam; Nhà xuất bản: Viện Đại Học Huế 1961; Quyển Đệ tứ; bản điện tử, trang 99
  11. ^ Đại Việt sử ký toàn thư; Soạn giả Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên,...Dịch giả Viện sử học Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 75
  12. ^ Sách Đại Việt sử kí toàn thư (bản kỉ, quyển 1, tờ 27-b và tờ 28-b)
  13. ^ Đại Việt sử lược, trang 107 chép: "Năm Định Vị (Mùi) tức năm 1007 Vua sửa định lại quan chế văn võ theo nhà Tống.
  14. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, trang 235 chép
  15. ^ Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ, Bản kỷ, Quyển I, trang 39a chép
  16. ^ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Chính biên, quyển 1 trang 274
  17. ^ Giải oan cho 'vua quỷ' Lê Long Đĩnh
  18. ^ Nhà vua tự cầm quân đi đánh Ngự bắc vương Long Ngận và Trung Quốc vương Long Kính, dẹp yên được cả. Bấy giờ nhà vua đã lên ngôi, Long Ngận và Long Kính giữ xã Phù Lan để chống lại. Nhà vua thân đi đánh: hai vương ấy đóng chặt thành cố thủ. Vây đến vài tháng, trong thành cạn lương; Long Ngận bắt Long Kính đem dâng nộp. Nhà vua sai chém Long Kính và tha tội cho Long Ngận. Nhân tiện, đem quân đi đánh Ngự Man vương Long Đinh ở Phong Châu; Long Đinh phải đầu hàng. Từ đó các vương đều chịu phục cả.
  19. ^ Xem Đại Việt sử ký toàn thư trang 233
  20. ^ Bệnh án của Ngọa Triều Hoàng Đế
  21. ^ Tạ Chí Trường - Sử đọc vài quyển - Nhà xuất bản Văn mới 2004
  22. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cm1
  23. ^ Ngô Thì Sĩ, sách đã dẫn, tr 217
  24. ^ Bệnh án Lê Long Đĩnh (BS Hồ Đắc Duy)
  25. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư Bản kỷ, quyển II, Kỷ nhà Lý, Thái Tổ hoàng đế
  26. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 2
  27. ^ Ngô Thì Sĩ, sách đã dẫn, tr 222
  28. ^ Ngô Thì Sĩ, sách đã dẫn, tr 223
  29. ^ Đền Lăng trên quê hương Hà Nam
  30. ^ Di tích quốc gia đình, đền An Lãng
  31. ^ Việt Điện U Linh Khai Thiên Trấn Quốc Trung Phụ Tá Dực Đại Vương (Thần Đằng Châu)