Quách hoàng hậu (Tào Ngụy Minh Đế)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Nguyên Quách hoàng hậu
明元郭皇后
Tào Ngụy Minh đế Hoàng hậu
Hoàng hậu Tào Ngụy
Tại vị 238 - 239
Tiền nhiệm Minh Điệu Mao hoàng hậu
Kế nhiệm Hoài Chân hoàng hậu
Hoàng thái hậu Tào Ngụy
Tại vị 239 - 263
Tiền nhiệm Văn Đức Quách Thái hậu
Kế nhiệm Hoàng thái hậu cuối cùng của Tào Ngụy
Thông tin chung
Phối ngẫu Tào Ngụy Minh đế
Thân phụ Tây Đô Định hầu Quách Mãn
Thân mẫu Cáp Dương quân Đỗ thị
Sinh ?
Tây Bình (nay là Tây Ninh, Thanh Hải)
Mất chính nguyệt, năm 264
Vĩnh Ninh cung
An táng Cao Bình lăng (高平陵)

Minh Nguyên Quách hoàng hậu (chữ Hán: 明元郭皇后; ? - 263), là hoàng hậu thứ hai của Tào Ngụy Minh Đế Tào Duệ, và là Hoàng thái hậu dưới thời Tào Ngụy Phế Đế Tào Phương, Tào Ngụy Thiếu Đế Tào Mao và Tào Nguỵ Nguyên đế Tào Hoán.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên quán của bà ở Tây Bình (nay là Tây Ninh, Thanh Hải). Dòng họ Quách là gia tộc quyền lực trong vùng. Cha bà là Quách Mãn (郭满), có chú là Quách Lập (郭立) cùng chú họ Quách Chi (郭芝).

Dưới thời Văn Đế Tào Phi, chiến sự loạn lạc, dòng họ Quách gia nhập chính quyền Tào Ngụy. Bà là cháu họ ngoại của Văn Đức hoàng hậu Quách Nữ Vương của Tào Phi, vì vậy bà được phép tiến cung bầu bạn với người cô. Quách thị dung mạo xinh đẹp, thông minh, tính tình hiền dịu, Văn Đế rất đỗi yêu mến. Cũng trong thời gian đó, bà đã gặp gỡ và nảy sinh tình cảm với trưởng tử của Văn Đế, Bình Nguyên vương Tào Duệ.

Nhập cung[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hoàng Sơ thứ 7 (226), Tào Phi qua đời, Thái tử Tào Duệ kế vị, lập chính phu nhân Mao thị làm Hoàng hậu. Về sau, Tào Duệ dần rất sủng ái vị Quách thị dung mạo xinh đẹp lại biết cử chỉ khiêm nhường, phong làm Phu nhân và dần sủng ái vượt xa Mao hoàng hậu. Cha của bà qua đời sớm, vì thế người chú Quách Lập được phong Kị đô úy, Quách Chi làm Dũng Sĩ Trung lang tướng.

Sau khi được sủng ái khoảng 2 năm, bà sinh ra con gái Tào Thục (曹淑), phong hiệu Bình Nguyên công chúa (平原公主), con gái thứ hai của Tào Duệ. Nhưng đứa bé chỉ sống vài năm thì mất.

Năm Cảnh Sơ thứ 2 (238), Mao hoàng hậu bị ban chết, Quách phu nhân được Tào Duệ lập làm Hoàng hậu.

Năm Cảnh Sơ thứ 3 (239), Tào Duệ băng hà, Thái tử Tào Phương mới 8 tuổi kế vị, Quách hoàng hậu được tôn làm Hoàng thái hậu, cư Vĩnh Ninh cung (永宁宫). Cha bà Quách Mãn được tặng làm Tây Đô Định hầu (西都定侯), mẹ Đỗ thị làm Cáp Dương quân (郃阳君), con Quách Lập là Quách Kiến (郭建) tập phong Tây Đô hầu; Quách Chi do thời trẻ có công, nên đã phong tán kỵ Thường thị, Trưởng thủy Giáo úy, nay cùng Tuyên Đức tướng quân Quách Lập cùng gia phong Liệt hầu. Anh của Quách Kiến là Quách Đức (郭德) vốn do nhà họ Chân nuôi (nên còn có tên Chân Đức), cùng Quách Kiến làm Trấn hộ Tướng quân, gia phong Liệt hầu, lại kiêm chưởng quân Túc vệ. Do đó, Quách Thái hậu chủ trì triều chính.

Năm Chính Thủy thứ 8 (247), Đại tướng quân Tào Sảng nghe theo Hà Yến, Đặng Dương cùng Đinh Mịch mà tước quyền triều chính của Thái hậu, độc bá triều cương[1].

Năm Gia Bình nguyên niên (249), Thái phó Tư Mã Ý mượn ý chỉ của Quách Thái hậu, phát động Sự biến lăng Cao Bình, lật đổ Tào Sảng. Con trai Tư Mã Ý là Tư Mã Sư ép Quách Thái hậu phế bỏ Tào Phương, lập chú của Ngụy Minh Đế Tào Duệ là Bành Thành vương Tào Cư (曹据), nhưng Quách Thái hậu phản đối do Tào Cư là chú, nếu lên ngôi thì Ngụy Minh Đế sẽ không còn ai tôn thờ phụng tự, và bản thân Quách Thái hậu cũng mất địa vị của mình. Bà cố gắng chuyển hướng sang con trai của Đông HẢi vương Tào Lâm (曹霖) - em trai Ngụy Minh Đế tên là Tào Mao.

Tư Mã Sư vì để lấy lòng Thái hậu, đem con gái gả cho đường đệ của bà là Bình Nguyên hầu Quách Đức. Sau này Tư Mã Chiêu chuyên chính, lại ép Quách Thái hậu ban chỉ phế bỏ Tào Mao. Con gái Tư Mã Sư chết sớm, Tư Mã Chiêu lại dùng kế này của anh trai, đem chính mình con gái (tức Kinh Triệu công chúa (京兆公主)) gả cho Quách Đức làm vợ kế. Vô Khâu Kiệm, Chung Hội về sau phản, đều mượn danh nghĩa Quách Thái hậu. Tư Mã Chiêu sau khi bình định Gia Cát Đản, đã bắt ép Quách Thái hậu lên xe cùng Tào Mao xuất chinh.

Năm Cảnh Nguyên thứ 4 (264), tháng giêng, Quách Thái hậu bệnh mất. Tháng 3, dâng thụy hiệu Minh Nguyên hoàng hậu (明元皇后), cùng Ngụy Minh Đế an táng ở Cao Bình lăng (高平陵).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《资治通鉴》卷七十五、《晋书·宣帝纪》、《晋书·五行志》指曹爽迁太后于永宁宫,太后与曹芳相泣而别,曹魏因此连年地震。但胡三省、王懋竑都根据《三国志》指出郭太后在曹芳登基时已居永宁宫,怀疑是晋朝大臣修史时为了增加曹爽之恶,给曹爽加上逼迁太后之罪。