Hoằng Trí Chính Giác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Hoằng Trí Chính Giác
宏智正覺
Tiantong Hongzhi Zhengjue Zen.jpg
Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác
Tông pháiTào Động tông
Cá nhân
Sinh1091
Mất1157
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmĐan Hà Tử Thuần
Kế nhiệmTự Đắc Huệ Huy
Hoạt động tôn giáo
Sư phụĐan Hà Tử Thuần
Đồ đệTự Đắc Huệ Huy

Thiền Sư Hoằng Trí Chánh Giác(1091-1157). (Tiếng trung: 宏智正覺: Hóngzhì Zhēngjué, tiếng nhật:: Wanshi Shōgaku) ,thiền sư trung quốc , đời Tống, nối pháp Thiền sư Đan Hà Tử Thuần , pháp hệ thứ 10 Tông Tào Động. Đời sau còn nhớ đến sư qua những cuộc tranh luận( trên tinh thần bằng hữu) với Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo về Phương pháp tu hành của Tông Lâm Tế( Thiền Thoại Đầu) và Tông Tào Động(Thiền Mặc Chiếu) .

Sư là người đã đề xướng " Mặc Chiếu Thiền" . Sau này cùng với Tham công án, khán thoại đầu là những phương thức tu hành phổ biến trong Thiền Tông và trong truyền thống của Tông Tào Động. Vào thế kỷ 13, thiền sư Đạo Nguyên Hy Huyền đã hấp thụ tinh hoa của Thiền Mặc Chiếu và sau đó truyền bá mạnh mẽ tại Nhật Bản, trong các tác phẩm Thiền của Đạo Nguyên như Chính Pháp Nhãn Tạng (Shōbō Genzō), thiền Sư Hoằng Trí nhân vật điển hình được trích dẫn và nhắc đến nhiều nhất.

Cơ duyên[sửa | sửa mã nguồn]

Sư họ Lý,người Thấp Châu, Tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Mẹ sư mộng thấy một vị Tăng ở Ngũ Đài cởi chiếc vòng mang vào cánh tay mặt bà. Sau đó, bà thọ thai và sinh ra sư.

Năm 11 tuổi sư xuất gia với pháp sư Bản Tông ở Tịnh Minh Tự . Đến năm 14 tuổi thọ giới cụ túc với luật sư Trí Quỳnh (智瓊) ở Từ Vân Tự, vùng Tấn Châu, Lâm Phần, Tỉnh Sơn Tây. Năm 18 tuổi sư đi du phương học đạo, tham vấn các bậc tôn túc khắp nơi. Sư phát nguyện với ông nội rằng: Nếu con không phát minh việc lớn, thề không trở về!.

Đầu tiên sư đến Hương Sơn Tự, ở Nhữ Châu, Huyện Lâm An, Tỉnh Hà Nam viếng thăm và tham học với Thiền Sư Khô Mộc Pháp Thành, đệ tử đắc pháp của Thiền Sư Phù Dung Đạo Khải . Sau đó sư đến tham học với Thiền Sư Đan Hà Tử Thuần ở Đơn Hà Sơn, Tỉnh Hà Nam. Sau đó, Thiền sư Tử Thuần dời đến Đại Thừa Sơn thuộc Đường Châu, Bí Dương, Tỉnh Hà Nam và cũng như là tại Đại Hồng Sơn ở Tùy Châu, Tỉnh Hồ Bắc sư đều theo hầu thị giả và tham học với ngài.

Một hôm sư đến tham vấn Tổ Đan Hà, sau đang lúc đối đáp liền được đại ngộ. Sự việc này được ghi lại như sau:

Tổ Đan Hà hỏi sư: "Trước kiếp không ta là ai?"

Sư đáp: "Con ếch nuốt trăng ngồi đáy giếng, Canh ba chẳng mượn dạ minh rèm.

Đan Hà bảo: "Chưa được gì lại nói rồi."

Sư đang phân vân thì bị Đan Hà đánh cho một phất trần và bảo: "Lại nói không mượn.

Ngay lời nói này, sư tỏ ngộ, liền đảnh lễ tổ.

Đan Hà hỏi: "Sao ông không nói một lời nào thế?"

Sư thưa: "Hoằng Trí hôm nay bỏ mất dịp may, thật đắc tội!"

Đan Hà nói:"Chưa rảnh để đánh ông đấy. Hãy xéo đi cho!"

Sau khi khai ngộ, sư được Thiền Sư Tử Thuần ấn khả chứng minh và truyền pháp nối dòng Tào Động.

Hoằng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thứ 3 (1121) niên hiệu Tuyên Hòa, sư được Thiền Sư Tử Thuần cử làm chức Thủ Tòa (首座) trong pháp hội. Năm sau, Thiền sư Chân Yết Thanh Liễu sai tăng rước sư đến trụ trì tại Phổ Chiếu Tự,ở Tứ Châu,Tỉnh An Huy, Sư ăn mặc rách rưới, tăng chúng lấy làm lạ, Thiền Sư Chân Yết sai thị giả đem đổi giày mới cho sư. Sư bảo : Tôi vì giày mà đến sao? Chúng nghe được đều hết lòng kính phục, tán thán đức hạnh của sư.

Và vào năm đầu (1127) niên hiệu Kiến Viêm, sư dời đến trụ trì tại Thái Bình Tự, thuộc vùng Thư Châu, Tỉnh An Huy, rồi sau đó dời đến Vân Cư Sơn, Tỉnh Giang Tây, và thỉnh thoảng sư có khai mở đạo tràng thuyết giảng tại núi Trường Lô, Tỉnh Giang Tô.

Sau sư đến trụ trì tại Cảnh Đức Thiên Đồng Thiền Tự ở Thiên Đồng Sơn, thành phố Ninh Ba, Tỉnh Triết Giang. Lúc bấy giờ trên Thiên Đồng Sơn rất nghèo túng, nhà cửa chật hẹp, nhưng kể từ khi sư đến trụ trì về sau thì thóc lúa đầy kho, ngôi già lam cũng được hoàn chỉnh trang nghiêm, đặc biệt ngôi Đại Pháp Đường được chỉnh trang đúng với thanh quy Thiền môn. đã trụ trì nơi đây trong vòng 30 năm cho đến khi viên tịch, chuyên tâm nhiếp hóa đồ chúng, được xem như là vị Tổ trung hưng của Thiên Đồng Sơn .

Phong cách sư khá bình dị, chân thật, bình thường được người cúng dường không vui mừng, cho ra không chán, ngày chỉ ăn một bữa và không ăn quá ngọ. Văn từ của sư rất xảo diệu, sánh ngang hàng với Thiền Sư Tuyết Đậu , sư cùng với Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo của Lâm Tế Tông được tùng lâm tôn xưng là Nhị Đại Cam Lồ Môn của Thiền Tông. Sư là người đã đóng góp rất nhiều đến sự phát triển mạnh mẽ của Tông Tào Động với phương pháp thực hành tu tập riêng biệt.

Trong cuộc đời hoằng pháp của sư có rất nhiều môn đệ kiến tính, trong đó có 14 đệ tử được nối pháp. Điển hình nhất là Thiền Sư Từ Tông Tuyết Đậu, Thiền Sư Tự Đắc Huệ Huy( pháp mạch truyền được 10 đời thì chấm dứt).

Ngày mồng 8 tháng 10 năm Đinh Sửu(1157), niên hiệu Thiệu Hưng thứ 27, đời Tống, sư đắp y ngồi ngay thẳng nói chuyện với chúng rồi an nhiên thị tịch, trụ thế 67 năm, hạ lap 56 năm . Vua Tống Cao Tông ban tặng cho sư thụy hiệu là Hoằng Trí Thiền Sư . Nhục thân của sư lưu lại bảy ngày mà gương mặt vẫn tươi như còn sống, tháp được an trí ở Đông Cốc.Trước khi tịch sư viết kệ cho thiền sư Đại Huệ việc thỉnh người thừa kế Thiên Đồng Sơn :

Mộng huyễn không hoa,

Sáu mươi bảy năm,

Chim trắng khói lặn,

Nước thu tiếp trời

Pháp Ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Sư thượng đường nói: "Gác vàng rèm sổ ai truyền tin nhà, màn đỏ phủ tối ném chân châu, chính khi ấy thấy nghe có chỗ chẳng đến, nói năng có chỗ chẳng kịp, làm sao thông được tin tức? Mộng về đêm tối mờ mờ sáng, cười chỉ gia phong rực rỡ xuân."

Sư thượng đường nói: "Tâm không thể duyên miệng không thể luận, dù cho lui bước gánh vác, tối kỵ đương đầu chạm húy. Gió mát trăng trong bến đò xưa, thuyền đêm chèo chuyển lưu ly dấy."

Sư thượng đường nói: "Không kiếp có chân tông, trước tiếng hỏi chính mình, đỏ cùng kế sống mới, trong trắng gia phong xưa, quả thật ngoài tam thừa, lặng lẽ trong một ấn, trở lại đi dị loại, muôn dòng tự về đông."

Sư thượng đường nói: "Hôm nay là ngày đức Thích-ca đản sanh, Trường Lô chẳng biết nói thiền cùng quí vị vẽ hình tướng, chỉ như khi còn ở trong thai bà Ma-da thì sao? Sư lấy phất tử vẽ tướng này (), nói: Chỉ như khi lấy nước trong tắm sắc thân lại thế nào? Sư lại vẽ tướng này (), nói: Khi đi bảy bước, mắt nhìn bốn phương, tay chỉ trời tay chỉ đất, thành đạo thuyết pháp thần thông biến hóa, trí tuệ biện tài bốn mươi chín năm hơn ba trăm hội, nói xanh luận vàng chỉ Đông vẽ Tây, khi nhập Niết-bàn lại là sao? Sư vẽ tướng này (), lại nói: Nếu là kẻ Thiền tăng đủ mắt ắt là nhận nhau, kia nếu chưa được thế, mỗi mỗi trải qua mới được."

Sư thượng đường nói: "Chư Thiền đức! Người nuốt hết Phật ba đời, vì sao lại mở miệng chẳng được? Người soi thấu bốn thiên hạ, vì sao nhắm mắt chẳng được? Bảo người nhiều bệnh hoạn cùng ông đồng thời niêm xong vậy. Hãy làm sao được thập thành thấu suốt đi. Lại hiểu chăng? Chẻ bể Hoa Sơn sắc nối nhau, khai thấu Hoàng Hà tiến đến biển."

Sư có để lại rất nhiều tác phẩm Thiền học, còn được lưu truyền đến ngày nay:

  1. Hoằng Trí Giác Hòa Thượng Ngữ Yếu (宏智覺和尚語要) 1 quyển
  2. Hoằng Trí Giác Thiền Sư Ngữ Lục (宏智覺禪師語錄) 4 quyển
  3. Hoằng Trí Quảng Lục (宏智廣錄) 9 quyển
  4. Thiên Đồng Bách Tắc Tụng Cổ (天童百則頌古)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Hoành trí thiền sư quảng lục Q.5, 6, 8; Đại tuệ tông môn vũ khố.
  • Đại tuệ tông môn vũ khố(Thiền Sư Đại Huệ biên soạn)
  • Thiền Sư Trung Hoa(Tập 1,2,3) do Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch, xuất bản năm 1990.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.