Hoằng Trí Chính Giác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiên Đồng Hoằng Trí
宏智正覺
Tiantong Hongzhi Zhengjue Zen.jpg
Thiền sư Thiên Đồng Hoằng Trí
Tông pháiTào Động tông
Cá nhân
Sinh1069
Mất1135
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmĐan Hà Tử Thuần
Kế nhiệmTự Đắc Huệ Huy
Hoạt động tôn giáo
Sư phụĐan Hà Tử Thuần

Thiền Sư Hoằng Trí Chánh Giác(1091-1157). (Tiếng trung: 宏智正覺: Hóngzhì Zhēngjué, tiếng nhật:: Wanshi Shōgaku) Là một vị thiền sư trung quốc nối pháp Tào Động Tông.Kế vị thiền sư Đan Hà Tử Thuần. Sư là người đã đề xướng " Mặc Chiếu Thiền " một trong hai pháp tu chính của thiền tông nói chung và tông tào động nói riêng. Sau này cùng với Tham công án, khán thoại đầu. Được thiền sư Đạo Nguyên Hy Huyền đem về Nhât và phát triển mạnh.

Cơ duyên hành đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền Sư Hoằng Trí họ ,người Thấp Châu. Sư sinh ra kỳ lạ khác thường.

Năm 11 tuổi sư xuất gia tại chùa Tịnh Minh, năm 14 tuổi thọ giới cụ túc, năm 18 tuổi sư đi du phương học đạo.

Ban đầu sư đến yết kiến thiền sư Thành Cô Mộc tham vấn học đạo tại đây sư có chút ngộ đạo.

Sau sư đến yết kiến Thiền Sư Đan Hà Tử Thuần. Một hôm sư đến tham vấn Tổ Đan Hà, sau đối đáp liền được đại ngộ. Được ghi lại trong công án sau:

Sau sư bái biệt Tổ Đan Hà đi hoằng hóa. Ban đầu sư trụ tại chùa Đại Đồng rồi chùa Phổ Chiếu,chùa Viên Thông, chùa Năng Nhân.

Sau sư đến Thiên Đồng Thiền Tự ở Trường Lô. Trong cuộc đời của sư, sư có nhiều đệ tử đắc pháp. Nhưng không có người nối pháp. Tuy vậy nhưng pháp Thiền của sư vẫn được truyền tới bây giờ đặc biệt là ở Nhật.

Những lời dạy của sư được ghi lại trong cuốn Thiền Sư Hoằng Trí Ngữ Lục.

Ngày mồng 8 tháng 10 năm Đinh Sửu(1157), niên hiệu Thiệu Hưng thứ 27, đời Tống,sư ngồi ngay thẳng an nhiên thị tịch, trụ thế 67 năm. Nhục thân của ngài lưu lại bảy ngày mà gương mặt vẫn tươi như còn sống. Tháp được an trí ở Đông Cốc.Trước khi tịch sư viết kệ cho thiền sư Đại Huệ việc thỉnh người thừa kế:

"Mộng huyễn không hoa,

  Sáu mươi bảy năm,

  Chim trắng khói lặn,

  Nước thu tiếp trời." (Hòa thượng Thích Thanh Từ dịch)

Mặc Chiếu Thiền[sửa | sửa mã nguồn]

Các thiền sinh Tông Tào Động tại Nhật Bản đang thực hành Thiền Mặc Chiếu

Thiền Mặc Chiếu được Thiền Sư Chính Giác khởi xướng tại Trung Quốc đời Tống. Mặc là lặng yên, chuyên tâm ngồi thiền; Chiếu là dùng trí quán chiếu tâm tính linh tri xưa nay vốn thanh tịnh. Sư Chính giác cho rằng thực tướng tức là tướng mà vô tướng, chân tâm tức là tâm mà vô tâm, chân đắc tức là đắc mà vô đắc, chân dụng tức là dụng mà vô dụng, cho nên ngài chủ trướng “tọa không trần lự”(ngồi mà không suy tư)để yên lặng quán chiếu, không cần phải cầu đại ngộ, chỉ tọa thiền với thái độ vô sở đắc, vô sở ngộ.

Mặc chiếu Thiền bị Thiền Sư Đại Huệ thuộc Lâm tế tông bài bác, đã kích, đả kích mạnh mẽ và chê bai bằng những từ ngữ như: Mặc chiếu tà thiền, Vô sự thiền, Khô mộc tử khôi thiền (Thiền cây khô tro lạnh)...Sự việc này là do sự khác biệt giữa thiền phong của sư Tông Cảo và sư Chính Giác. Sư Đại Huệ chuyên tu tham cứu, khán thoại các công án của cổ nhân để khế nhập phật tính triệt ngộ cho nên phê phán việc Thiền Sư chính giác dạy chủ trương im lặng ngồi thiền xoay mặt vào vách mà bỏ việc tham ngộ tu chứng.

Để phản bác ý kiến của Thiền Sư Đại Huệ thì thiền sư Chính giác soạn 1 bài minh “Mặc chiếu” (toàn bài gồm 72 câu, mỗi câu 4 chữ, tất cả có 288 chữ) để phản bác, cho rằng tọa thiền im lặng có công năng làm cho tác dụng của trí tuệ được hoạt bát, tự nhiên chiếu suốt tự đáy nguồn tâm tính, là Thiền chân thực, chính truyền của Phật Tổ; trong văn cũng chê pháp Thiền “Khán thoại đầu” của thiền sư đai huệ là chỉ chấp chặt vào công án mà thôi.

Phương pháp Thiền này phát triển trước kia phát triển cùng với Lâm tế tông. Nhưng vài trăm năm sau bị mai một do ít người kế thừa xuất sắc. Tuy nhiên nó vẫn được truyền bá mạnh mẽ ở Nhật cho tới thời nay do Thiền Sư Đạo Nguyên truyền bá. Tại Nhật được gọi là " Chỉ Quán Đã Tọa"(shikantaza).

Pháp Ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Trích từ một số lời dạy của sư trong Ngữ Lục:

Nguồn Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Hoành trí thiền sư quảng lục Q.5, 6, 8; Đại tuệ tông môn vũ khố.
  • Đại tuệ tông môn vũ khố(Thiền Sư Đại Huệ biên soạn)
  • Thiền Sư Trung Hoa(Tập 1,2,3) do Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch, xuất bản năm 1990.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]