Hoàng Long Huệ Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam


Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Khác


Thiền Sư Hoàng Long Huệ Nam(黃龍慧南, Ōryū Enan, 1002-1069) là một trong các vị thiền sư xuất sắc trong tông môn Lâm Tế. Sư là đệ tử nối pháp của Thiền Sư Thạch Sương Sở viên và cũng là người khai sáng ra Phái Hoàng Long (một trong hai hệ phái chính của tông Lâm Tế). Dòng thiền của sư từng được truyền qua Nhật bởi môn đồ là Minh Am Vinh Tây . Đệ tử nối pháp của sư nổi bật là các vị: Hối Đường Tổ Tâm (晦堂祖心), Bảo Phong Khắc Văn (寳峰克文).

Cơ duyên hành đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Sư người Huyện Ngọc Sơn (玉山), Tín Châu (信州, Tỉnh Giang Tây), họ là Chương (章). Năm 11 tuổi, sư xuất gia với pháp sư Trí Loan ở Đinh Thủy viện xuất gia.Năm 19 tuổi sư được thọ giới cụ túc.

Ban đầu sư đến tham vấn Tự Ngọc (自玉) ở Quy Tông Tự (歸宗寺) trên Lô Sơn (廬山), rồi Trừng Thị (澄諟) ở Thê Hiền Tự (棲賢寺), và Hoài Trừng (懷澄) ở Tam Giác Sơn (三角山, Tỉnh Hồ Bắc).Sau đó, sư đến Sau đó sư theo học với Vân Phong Văn Duyệt (雲峰文悅) tu học và biết được yếu chỉ của Tông Vân Môn.

Một hôm, có vị Thiền sư tên Vân Phong Văn Duyệt đến bảo Sư: Thiền sư Hoài Trừng tuy là con cháu Vân Môn nhưng pháp đạo còn khác xa Vân Môn. Sư hỏi: Khác ở chỗ nào? Văn Duyệt đáp: Vân Môn như đơn sa đã chín phen luyện, để vào sắt liền biến thành vàng; Hoài Trừng như dược hống ngân, nhìn thấy đẹp mắt mà để vào lò liền chảy. Nghe thầy mình bị chê sư nổi giận cầm chiếc gối ném Văn Duyệt. Văn Duyệt xin lỗi lại nói: Chí khí Vân Môn như vua, cam chịu ngữ tử sao? Hoài Trừng có pháp dạy người là tử ngữ. Tử ngữ mà hay làm người sống được sao? Nói xong Văn Duyệt bỏ đi. Sư kéo lại nói: Nếu vậy thì ai hợp ý thầy? Văn Duyệt bảo: Thạch Sương Sở Viên thủ đoạn vượt cả mọi nơi, thầy muốn yết kiến thì không nên chậm trễ.

Sư bèn khăn áo lên đường. Ði giữa đường, Sư nghe đồn Thạch Sương mỗi việc đều lừa đảo thiền sinh, liền thối chí không đến Thạch Sương, ở lại chùa Phúc Nghiêm giữ chức thư kí, học nơi Thiền sư Hiền. Chợt Thiền sư Hiền tịch, quận thú mời Thạch Sương đến trụ trì. Nghe Thạch Sương luận nói chê các nơi mỗi điều thuộc tà giải, sư nhớ lại lời của Văn Duyệt lúc bình nhật rất đúng, bèn thay đổi quan niệm, tự nhủ: Ðại trượng phu thâm tâm nghi ngờ hoài sao?

Sư đến Thạch Sương cầu xin yếu chỉ. Thạch Sương cười bảo: Thư kí lĩnh đồ chúng và du phương, nếu còn có nghi ngờ thì chẳng cần phải khổ cầu như vậy, hãy ngồi mà thương lượng. Thạch Sương gọi thị giả đem ghế mời ngồi. Sư từ chối và thành khẩn yêu cầu chỉ dạy. Thạch Sương hỏi: Thư kí học thiền Vân Môn ắt thông được yếu chỉ ấy. Như nói: Tha Ðộng Sơn ba gậy. Ðộng Sơn khi ấy nên đánh hay chẳng nên đánh? Sư thưa: Nên đánh. Thạch Sương nghiêm nghị bảo: Nghe tiếng ba gậy liền cho là nên ăn gậy, vậy ông từ sáng đến chiều nghe chim kêu trống đánh… cũng nên ăn ba gậy. Ăn gậy đến lúc nào mới thôi? Sư nghe vậy chẳng biết nói gì, Thạch Sương lại bảo: Ta lúc đầu nghi không thể làm thầy ông, giờ đây đã đủ tư cách. Ông hãy lễ bái đi. Sư lễ bái xong đứng dậy. Thạch Sương nhắc lời trước: Triệu Châu thường nói: Bà già ở Ðài Sơn bị ta khám phá. Nếu ông hội được ý chỉ Vân Môn thì thử chỉ chỗ khám phá xem? Sư mặt nóng hực, mồ hôi toát ra, không biết đáp thế nào, bị Thạch Sương đuổi ra. Hôm sau, Sư lại vào thất, bị Thạch Sương mắng chửi tiếp. Sư hổ thẹn, nhìn những người hai bên nói: Chính vì chưa hiểu câu quyết nghi, mắng chửi đâu phải là quy củ từ bi thí pháp. Thạch Sương cười nói: Ðó là mắng chửi sao? Nhân câu này, sư đại ngộ, tất cả kiến chấp đều tan vỡ. Năm ấy sư được 35 tuổi.

Hoằng pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi được pháp nơi Từ Minh, sư đi thăm viếng các chốn tùng lâm khác khắp nơi.

Sau đó trở về lại Quy Tông Tự, gặp phải lúc chùa bị hỏa hoạn, sư bị hạch tội và bị tống giam vào ngục thất.

Sau khi được tha tội, sư lui về ẩn cư ở Hoàng Bá. Sau đó, sư chuyển đến Hoàng Long Sơn (黃龍山) ở Phủ Long Hưng (隆興府), và nỗ lực cử xướng tông phong của mình.

Sư tiếp dẫn môn đệ bằng cách sử dụng các công án thiền, vào lúc này công án được xiển dương rất mạnh.

Tông phong của sư mở rộng đến tận trung tâm Hồ Nam (湖南), Hồ Bắc (湖北), và Giang Tây (江西). Về sau phái này được gọi là Phái Hoàng Long.

Vào ngày 17 tháng 3 năm thứ 2 (1069) niên hiệu Hy Ninh (熙寧), sư ngồi xếp bằng thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Phổ Giác Thiền Sư (普覺禪師). trà- tỳ thu được xá- lợi năm màu, xây tháp ở Tiền Sơn.

Pháp ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Sư ở trong thất thường hỏi tăng ba câu, được người sau gọi là Hoàng Long tam quan ngữ:

1. Người người trọn có sinh duyên, Thượng toạ sinh duyên chỗ nào?;

2. Lúc vấn đáp qua lại, Sư duỗi tay nói: Tay ta sao giống tay Phật?;

3. Hỏi chỗ sở đắc của các vị tông sư, Sư liền duỗi chân nói: Chân ta sao giống chân lừa?

Sư lấy ba câu này hỏi hơn ba mươi năm. Nếu có người đáp thì sư không nói phải chẳng phải, khép mắt ngồi thẳng, không ai lường ý. Có người hỏi lí do, Sư đáp: Ðã ra khỏi cửa thì lay tay đi thẳng, chẳng cần biết có kẻ gác cửa. Từ người gác cửa hỏi phải chẳng phải, ấy là người chưa qua khỏi cửa vậy.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng Long Nam Thiền Sư Ngữ Lục (黃龍南禪師語錄) 1 quyển
  • Hoàng Long Nam Thiền Sư Ngữ Yếu (黃龍南禪師語要) 1 quyển
  • Hoàng Long Nam Thiền Sư Thư Xích Tập (黃龍南禪師書尺集) 1 quyển

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiền Sư Trung Hoa(HT Thích Thanh Từ dịch): Tập 1,2,3
  • Từ điển phật quang-fo wang shan: Hội Phật giáo Đài Loan.
  • Thiền Sư Hoàng Long Ngữ lục.
  • Phật Tổ Đạo Ảnh(Thiền sư hư vân và thiền sư tuyên hóa biên soạn)