Phong Huyệt Diên Chiểu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiền sư Phong Huyệt Diên Chiểu

Thiền sư Phong Huyệt Diên Chiểu (風穴延沼, Fuketsu Enshō, 896-973) là thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, nối dòng của Nam Viện Huệ Ngung. Sư là thầy của Thủ Sơn Tỉnh Niệm, được xem là một trong những đại thiền sư trong môn phong Lâm Tế – như lời tiên đoán của thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Bích nham lục có ghi lại pháp ngữ của sư trong công án 38 và 61.

Cơ duyên[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Khác


Sư họ Lưu, quê ở Dư Hàng, tỉnh Triết Giang,họ là Lưu (劉), lúc nhỏ đã có chí hơn người. Vì thi làm quan lần đầu không thành, Sư quyết chí xuất gia, học kinh luật nghiêm túc, và sau đó hành cước. Ðến các vị Tôn túc như Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Thuỵ Nham Sư Ngạn, Kính Thanh Ðạo Phó, sư đều trổ tài hùng biện của mình, ai ai cũng chấp nhận mặc dù sư chưa phát minh đại sự. Nhân nghe thị giả Khoách của Nam Viện thuật lại, Sư ước mong đến đây đọ sức.

Ðến Thiền sư Nam Viện, Sư vào cửa chẳng lễ bái. Nam Viện bảo: Vào cửa cần biện chủ. Sư thưa: Quả nhiên mời thầy phân. Nam Viện lấy tay trái vỗ gối một cái, Sư hét. Nam Viện lấy tay mặt vỗ gối một cái, Sư cũng hét. Nam Viện bảo: Vỗ bên trái gác lại, vỗ bên mặt là sao? Sư đáp: Mù. Nam Viện liền chỉ cây gậy. Sư hỏi: Làm gì? Con đoạt cây gậy đập .Hoà thượng, chớ bảo không nói.Nam Viện liền ném cây gậy nói: Ba mươi năm trụ trì, hôm nay bị gã Chiết mặt vàng vào cửa hãm hại. Sư thưa: Hoà thượng giống như người mang bát không được, dối nói chẳng đói. Nam Viện hỏi: Xà-lê từng đến đây chăng? Sư thưa: Là lời gì? Nam Viện bảo: Khéo khéo hỏi lấy. Sư thưa: Cũng chẳng cần bỏ qua. Nam Viện bảo: »Hãy ngồi uống trà.

Nam Viện cũng chưa biết được mức độ ngộ nhập của sư sau cuộc vấn đáp hào hứng này. Vài hôm sau, Nam Viện chỉ hỏi đơn giản: Hạ này ở chỗ nào? Sư thưa: Ở Lộc Môn cùng thị giả Khoách đồng qua hạ. Nam Viện bảo: Vốn là thân kiến tác gia đến. và hỏi thêm: Người kia nói với ông cái gì? Sư thưa: Trước sau chỉ dạy con một bề làm chủ. Nam Viện nghe vậy hiểu ngay mọi việc, đánh đuổi sư ra khỏi phương trượng, nói: Kẻ này là loại thua trận, dùng làm gì!

Sư từ đây đành chịu thua, ở lại nhận chức Tri viên. Một hôm, Nam Viện vào vườn hỏi: Phương Nam một gậy làm sao thương lượng? Sư thưa: Thương lượng rất kì đặc, và hỏi lại: Hoà thượng nơi đây một gậy thương lượng như thế nào? Nam Viện cầm cây gậy lên bảo: Dưới gậy vô sinh nhẫn, gặp cơ chẳng nhượng thầy. Sư nhân đây triệt ngộ, ở lại Nam Viện sáu năm và được Nam Viện Ấn khả.

Hoằng pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Niên hiệu Trường Hưng năm thứ ha (931), Sư sang Nhữ Thuỷ nơi chùa Phong Huyệt, một ngôi chùa đang bị hư hoại. Sư dừng lại đây, ban ngày lượm trái rụng ăn, tối đốt dầu thông, suốt bảy năm như vậy. Dần dần, đồ chúng hay tin góp sức xây dựng chùa mới và Sư bắt đầu giáo hoá.

Đến khi xảy ra loạn lạc, sư cùng với môn đệ đến lánh nạn ở vùng Dĩnh Châu, thuộc tỉnh Hà Nam. Sau sư xây dựng một ngôi chùa tại tư gia của Thái Sư Tống Hầu (太師宋候) và đến sống tại đây. Rồi sư lại quay trở về Dĩnh Châu sống nơi ngôi chùa mới khác, và đến năm 951 thì ngôi chùa này được ban sắc ngạch với tên gọi là Quảng Huệ Tự (廣惠寺).Sư đã từng sống nơi đây hơn 20 năm và đại chúng thường lên đến cả ngàn người

Ðời Tống, niên hiệu Khai Bảo, năm thứ sáu, ngày rằm tháng tám, Sư lên toà ngồi kết già viên tịch, thọ 78 tuổi, 59 tuổi hạ. Trước khi tịch, Sư để lại bài kệ sau:

Phải thời truyền đạo lợi quần sinh

Chẳng quản phương xa tự vươn lên

Năm khác có người dòng giống đó

Ngày ngày hương khói đêm đêm đèn.

( Ðạo tại thừa thời tu tế vật

Viễn phương lai mộ tự đằng đằng

Tha niên hữu tẩu tình tương tự

Nhật nhật hương yên dạ dạ đăng )

Sư có để lại quyển Phong Huyệt Thiền Sư Ngữ Lục (風穴禪師語錄, 1 quyển) .

Pháp ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Sư thượng đường bảo chúng: Phàm con mắt người tham học gặp cơ liền phải đại dụng hiện tiền, chớ tự ràng buộc nơi tiết nhỏ. Giả sử lời nói trước tiến được, vẫn còn kẹt vỏ dính niệm, dù là dưới câu liền được tinh thông, chưa khỏi phạm đến lại là thấy cuồng. Xem thấy tất cả các ông đều là nhằm đến nương người tìm hiểu, sáng tối hai lối vì các ông một chút quét sạch, dạy thẳng mỗi người các ông như sư tử con gầm gừ rống lên một tiếng, đứng thẳng như vách cao ngàn nhẫn, ai dám để mắt nhìn đến, nhìn đến là mù mắt y.

Sư thượng đường, có vị tăng bước ra hỏi: Thầy xướng gia khúc tông phong ai, nối pháp người nào? Sư đáp: Siêu nhiên vượt khỏi ngoài Uy Âm, kiễng chân luống nhọc khen đất cát. Tăng hỏi: Hát xưa không âm vận, thế nào hoà được bằng? Sư đáp: Gà gỗ gáy nửa đêm, chó rơm sủa hừng sáng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.