Lộc Môn Tự Giác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Lộc Môn Tự Giác (tiếng Trung: 鹿門自覺, tiếng Nhật:Rokumon Jikaku, ?-1117) là thiền sư đời Tống thuộc Tông Tào Động đời thứ 9, nối pháp Phù Dung Đạo Khải. Sư cùng với Đan

Lộc Môn Tự Giác
鹿門自覺
Thiền Sư Lộc Môn Tự Giác.jpg
Thiền sư Lộc Môn Tự Giác
Tông pháiTào Động tông
Cá nhân
Sinh?
Mất1117
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmPhù Dung Đạo Khải
Kế nhiệmPhổ Chiếu Nhất Biện
Hoạt động tôn giáo
Sư phụPhù Dung Đạo Khải
Đồ đệPhổ Chiếu Nhất Biện

Hà Tử Thuần là hai vị thượng thủ trong pháp hội của Thiền Sư Phù Dung. Sư có đệ tử truyền pháp là Thiền Sư Phổ Chiếu Nhất Biện (普照一辯). Pháp hệ truyền thừa của sư được truyền lâu dài ở Trung Quốc, còn tồn tại đến ngày nay và từng được truyền sang Việt Nam, Nhật Bản, Có người cho rằng Lộc Môn Tự Giác là đệ tử nối pháp của Thiên Đồng Như Tịnh. Nhưng Lộc Môn Tự Giác sống trước thời Như Tịnh hơn 100 năm nên không thể là đệ tử Như Tịnh, đó là sự nhầm lẫn với một đệ tử khác của Như Tịnh cũng mang hiệu là Lộc Môn, và 5 đời trước Lộc Môn Tự Giác từ Đan Hà Tử Thuần đến Thiên Đồng Như Tịnh là sai.

Cơ Duyên[sửa | sửa mã nguồn]

họ Vương (王), vốn quê ở vùng Thanh Châu (青州), Tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

Trong khoảng niên hiệu vua Chiêu Thánh nhà Tống (紹聖, 1094-1098), sư đến yết kiết và xuất gia với Thiền Sư Phù Dung Đạo Giai

Sau nhiều năm tham học, sư đại ngộ. Cơ duyên ngộ đạo của sư được ghi lại như sau:

Một hôm Thiền Sư Phù Dung thăng tòa thuyết pháp và làm bài kệ nêu lại cơ duyên ngộ đạo của Thiền Sư Linh Vân Chí Cần:

Ô mai một quả hiện nguyên hình

Chú nhện giăng tơ bắt thanh đình

Thanh đình mắc bẫy rơi đôi cánh

Nực cười ô mai cứng như đinh

Sư nghe xong bất giác khai ngộ, mỉm cười và nói:

Nếu sớm biết ngay đèn là lửa

Chắc rằng cơm chín đã từ lâu.

Sau sư được Thiền Sư Phù Dung ấn khả chứng minh

Hành Trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Nnăm thứ 4 (1105) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧), sư đến trú trì Phổ Nghiêm Tự (普嚴寺) ở Đại Thừa Sơn (大乘山) thuộc Dụ Châu (裕州), Phủ Nam Dương (南陽), Tỉnh Hà Nam (河南省), Trung Quốc.

Sau đó sư rời đến Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện (十方淨人禪院).

Vào năm thứ 5 (1115) niên hiệu Chính Hòa (政和),sư dời đến Lộc Môn Sơn (鹿門山) và trụ trì cho đến ngày viên tịch.

Khoảng năm 1117, sư an nhiên thị tịch. Vua ban hiệu là Định Tuệ Thiền Sư (定慧禪師).

Pháp Ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Sư thăng tòa dạy chúng:

Tất cả đại địa là một quyển kinh của người học, hết thảy càn khôn là một con mắt của học nhân, dùng con mắt này đọc kinh ấy, thì nghìn vạn ức kiếp không gián đoạn. Vậy, mọi người hãy xem đã đọc được gì chưa? Nếu ai xem đọc được, lão tăng mời ăn bánh vẽ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phật Tổ Đạo Ảnh(Tập 1,2) do Hoà Thượng Hư Vân và Tuyên Hóa biên soạn.
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.