Phù Dung Đạo Khải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Thiền Sư Phù Dung Đạo Khải

Thiền Sư Đạo Khải(芙 蓉 道 楷; C: fúróng dàokăi; J: fuyo dōkai; 1043-1118) cũng gọi là Đạo Giai là một vị Thiền Sư Trung Hoa đời Tống, Tào Động Tông. Sư nối pháp Thiền Sư Đầu Tử Nghĩa Thanh và có các đệ tử nối pháp là các vị: Ðan Hà Tử Thuần, Hương Sơn Pháp Thành, Ðại Trí Tề Liên và Bảo Phong Duy Chiếu.Trong đó Đan Hà là thượng thủ. Sư được tôn làm tổ sư thứ 8 của Tào Động Tông.

Cơ duyên hành đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Sư người Nghi thủy Nghi châu (huyện Nghi thủy tỉnh Sơn đông), họ Thôi.

Ban đầu sư học Nho. Sau đó đi học huyền thuật(Đạo Giáo) rồi học nhịn ăn. Sau biết là tà sư liền bỏ mà học Phật rồi xuất gia ở chùa Thuật đài tại kinh đô, sau sư tham học thiền sư Đầu tử Nghĩa thanh và được pháp của ngài.

Sự ngộ đạo của sư được ghi lại trong công án sau:

" Sư đến yết kiến hoà thượng Đầu Tử trong Hải hội và hỏi: Lời dạy của Phật Tổ giống như việc ăn uống thường ngày trong nhà, ngoài việc này ra còn có điều gì khác chăng? Hoà thượng Đầu Tử hỏi: Ông cho

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Dị Thiền Sư

rằng trong thiên hạ này sắc lệnh của thiên tử còn giả được vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang chăng? Sư định trả lời liền bị Đầu Tử quất phất trần vào miệng và bảo: Ông mà khởi ý, ta sẽ cho ba mươi gậy nữa đấy! Ngay đó, ngài bỗng nhiên tỏ ngộ, lễ bái rồi ra đi. Hoà thượng Đầu Tử nói vọng theo: Quay lại đây Xà- lê! Ngài đi thẳng một mạch, chẳng thèm đoái hoài. Hoà thượng Đầu Tử lại hỏi: Ông không còn nghi ngờ chứ? Ngài bịt tai và tiếp tục đi. "

Niên hiệu Nguyên Phong năm thứ năm (1082), Sư trở về Nghi Châu ở núi Mã An bắt đầu truyền bá đạo pháp. Ban đầu, Sư ở Tiên Động, sau dời đến chùa Long Môn. Sư lại sang trụ núi Đại Dương thuộc Dĩnh Châu và Đại Hồng ở Tùy Châu, đều do sự cung thỉnh của mọi người. Tông Tào Động được thạnh hành miền Tây Bắc.

Niên hiệu Sùng Ninh năm thứ ba (1104) có chiếu mời Sư trụ tại Thiền viện Thập Phương Tịnh Nhơn ở Đông Kinh. Đến niên hiệu Đại Quan năm đầu (1107), vua sai Trung sứ áp đặt Sư trụ trì ở Thiên Ninh không được từ chối.

Đầu niên hiệu Đại Quan (1108), vua hai lần ban tặng tử y và danh hiệu Định Chiếu Thiền Sư, sư đều từ chối không nhận.Nên sự bị đi đày nhưng sư vẫn an nhàn.

Sau vua tỉnh ngộ thả sư ra, sư bèn làm chùa trên bờ hồ Phù dung, hoằng dương Thiền pháp.

Năm thứ tám niên hiệu Chính Hòa (1118) ngày 14 tháng năm, Sư cầm bút viết bài kệ:

Hán văn: 吾年七十六,世緣今已足

生不愛天堂,死不怕地獄

撒手橫身三界外,騰騰任運何拘束

Dịch âm: Ngô niên thất thập lục

Thế duyên kim dĩ túc

Sinh bất ái thiên đường

Tử bất phạ địa ngục

Tán thủ hoành thân tam giới ngoại

Ðằng đằng nhậm vận hà câu thúc.

Nghĩa: Ta tuổi bảy mươi sáu

Duyên đời nay đã đủ

Sinh chẳng thích thiên đường

Chết chẳng sợ địa ngục

Buông tay đi ngang ngoài tam giới

Mặc tình vươn bổng nào buộc ràng.

.Ngay sau khi viết kệ, Sư viên tịch, thọ 76 tuổi.

Pháp Ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

" Phàm người xuất gia vì chán trần lao cầu thoát sinh tử, thôi tâm dứt niệm cắt vin theo, gặp thanh gặp sắc như hoa trồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rớt trong mắt. Vì từ vô thủy đến giờ, những cái ấy đâu chẳng từng trải qua, cần gì lại nhọc nhằn tham luyến? Hiện nay chẳng dứt còn đợi chừng nào? Thời nay dứt sạch lại còn việc gì? Nếu được trong tâm vô sự thì Phật Tổ vẫn là oan gia, tất cả thế sự tự nhiên lạnh nhạt, mới là phù hợp bên này...

Các ngươi đâu chẳng thấy, Ẩn Sơn đến chết chẳng chịu tiếp người. Triệu Châu đến chết chẳng biên thơ cho đàn việt, thà lượm trái giẻ trái lật mà ăn. Đại Mai lấy lá sen làm áo. Chỉ Y Đạo Giả mặc y phục bằng giấy. Thượng tọa Huyền Thái chỉ mặc bằng bố. Thạch Sương nơi nhà Cây khô (chúng tọa thiền yên lặng như cây khô) cùng người ngồi nằm, chỉ cần chết hẳn tâm của các ngươi. Đầu Tử sai người nấu cơm lẫn khoai rồi đồng ăn, cốt được tỉnh việc của các ngươi.

Các bậc thánh từ trước có những gương cao đẹp như thế, nếu không có chỗ đặc biệt làm sao chịu nổi.

Chư nhân giả! Nếu hay nơi đây thể cứu thì chẳng thiếu thốn điều gì, bằng chẳng chịu thừa đương về sau e phải phí nhiều khí lực"

"Ngày nay Sơn tăng đối với các vị nói về gia môn đã là chẳng tiện. Đâu thể lại đăng đường, nhập thất, niêm chùy, dựng phất, nhướng mày, chớp mắt, đông gậy, tây hét in tuồng bệnh động kinh phát hiện. Đâu chẳng thấy Tổ Đạt-ma sang ngồi xây mặt vào vách chín năm dưới núi Thiếu Thất. Nhị Tổ đến đứng ngoài tuyết đến chặt cánh tay, có thể nói chịu tột sự gian khổ. Nhưng Tổ Đạt-ma chưa từng nói một lời. Nhị Tổ chưa từng hỏi một câu. Thế là, nói Tổ Đạt-ma chẳng vì người được chăng? Nhị Tổ chẳng cầu thầy được chăng?"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

    • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
    • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Phật Tổ Đạo Ảnh(2 tập), Thiền Sư Hư Vân và Tuyên Hóa biên tập.
  • Thiền Sư trung hoa(3 tập), Hòa Thượng Thích Thanh từ biên dịch.