Vũ Hữu

Vũ Hữu (chữ Hán: 武有, 1437[1]–1511) là một nhà toán học người Việt, và cũng là một danh thần dưới triều đại Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông. Ông còn được coi là nhà toán học đầu tiên của Việt Nam, người đời & con cháu về sau cũng gọi ông là Trạng Toán.
Trước đây, năm mất của Vũ Hữu được ghi là 1530 nhưng theo gia phả của Chi Ba họ Vũ làng Mộ Trạch thì năm mất của Vũ Hữu là năm 1511. Vũ Hữu được xem là ông khởi Tổ Chi Ba họ Vũ làng Mộ Trạch, hiện hậu duệ vẫn còn ở làng Mộ Trạch trông nom cho đền thờ của ông (cũng là nhà của ông khi sinh thời).[2]
Nguồn: https://www.hovuvo.com/Default.aspx?View=ViewNews&NewsID=227
Tiểu sử, sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Ông người làng Mộ Trạch, tổng Thì Cử, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Năm Quang Thuận thứ 4 đời vua Lê Thánh Tông (Quý Mùi 1463), ông đỗ Hoàng giáp.
Vũ Hữu đã kinh qua các chức vụ như Khâm hình viện lang trung, Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Lễ trong triều đình nhà Hậu Lê, sau được tặng phong Thái bảo. Mặc dù về hưu năm 70 tuổi, đển năm 90 tuổi (1527), ông vẫn được vua tin dùng, sai mang cờ tiết đi phong vương cho Mạc Đăng Dung. Khi đó ông có tước là Tùng Dương hầu.
Tuy nhiên, theo cổ phả của nhóm Nho gia thế kỷ 18, họ Vũ đã ghi rõ: “ông Vũ Hữu sinh năm Tân Dậu (1441) và mất ngày 8 tháng giêng, năm Tân Mùi (1511), năm Hồng Thuận thứ 2 đời vua Lê Tương Dực, Vợ ông (phu nhân) tên là Phạm Thị Tuyên là cháu chắt 4 đời sau của Thượng đẳng thần Phạm Ngũ Lão Đại Vương là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào. Ông Hữu năm Canh ngọ 1510 còn giữ chức Thượng thư Bộ Hộ và chưa kịp về hưu đã mất ở tuổi 71 (1511). Chính trong sách “Công Dư Tiệp Ký” của Tiến sĩ đồng hương hậu thế: Vũ Phương Đề (1698 – 1761) cũng minh định cụ Nghè Hữu mất đời vua Hồng Thuận (Lê Tương Dực). Còn quốc sử chép “ông Vũ Hữu tước Tùng Dương hầu năm 1526 cầm cờ Tiết thay Vua Cung Hoàng về làng Cổ Trại phong tước Vương cho Thái sư Mạc Đăng Dung …” Ông Nghè Phương Đề cải chính: “Đó là 1 ông khác trùng tên Vũ Hữu gốc quê ở trấn Sơn Tây làm việc ấy. còn cụ Nghè Hữu đã mất trước đó 15 năm rồi!”.
Ngoài ra, căn cứ ở cổ phả Mộ trạch Vũ tộc thế hệ sự tích bản chữ Hán và bản dịch quốc ngữ của Nhà giáo Vũ Thế Khôi, TS. Vũ Duy Miền đã nêu rõ: “Vũ Hữu sinh năm Tân Dậu 1411, sớm đỗ Hương Cống. Năm Quí Mùi (1463), niên hiệu Quang Thuận thi đỗ Hoàng Giáp Tiến sĩ lúc mới 23 tuổi (âm)… Ông mất năm Tân Mùi (1511) thọ 71, giỗ ngày 8 tháng giêng năm đó. Được vua Lê truy tặng tước Thái Bảo, có tên tự (chữ đẹp trong sách) là Khả Đại, hiệu là Ước Trai. Mộ hợp táng (chôn kế bên) phu nhân họ Phạm, hiệu Phổ Huệ, ấm phong là Cẩn Nhân. Hai ông bà sinh con trai là Vũ Vĩnh Phu (đỗ Hương Cống, làm quan trải qua nhiều chức lớn) Làm đến chức Hiến sát phó sứ Thanh Hóa. Sau bị quân Chiêm xâm lăng đất Thanh Hoá, ông đem quân ra chống, bị tử trận. Vì có quân công, được tặng làm Thái Bảo. Cụ sinh 1 con gái gả cho ông Lê Bá Thắng (đời 6, họ Lê).[3]

Công trình toán học
[sửa | sửa mã nguồn]Công trình toán học ông để lại cho hậu thế nổi bật là Lập Thành Toán Pháp (立成算法). Sách này gồm cách đo ruộng, tính diện tích ruộng; hình vẽ các thửa ruộng có hình phức tạp và cách tính diện tích loại ruộng này; cách tính bằng bàn tính, bằng phép cửu chương, cửu quy; một số bài tính đố, có cho biết đáp số.[4] Các phép đo ruộng đất được tính theo đơn vị mẫu, sào, thước (24 mét vuông) và tấc (1/10 thước).
Sách Công dư tiệp ký ghi lại câu chuyện sau: Vua Lê Thánh Tông muốn thử tài của Vũ Hữu, nên đã giao cho ông sửa chữa ba cửa Đoan Môn, Đại Hưng và Đông Hoa của thành Thăng Long. Tuân lệnh, Vũ Hữu dùng thước đo chiều cao, chiều dài, chiều rộng của các cửa thành và tính ra số gạch đá, vật liệu phải dùng. Kết quả là khi xây xong, đá không thừa một tấc, gạch không thiếu một viên, quy mô các cửa thành được sửa chữa không sai một ly, một tấc. Vua Lê Thánh Tông rất hài lòng đã ban chiếu khen thưởng Vũ Hữu.
Gia đình
[sửa | sửa mã nguồn]Chưa có thông tin rõ ràng về thân sinh & thân mẫu của Vũ Hữu. Theo theo phả họ tộc thì cha mẹ Vũ Hữu sinh được 6 người con (5 trai, 1 gái): con trưởng tên Vũ Tuỳ (có lẽ sinh khoảng 1435 – 1436?). Con thứ 2 Vũ Tấn (có thể kém anh cả 2 tuổi, sinh năm 1437 – 1438?) và con thứ ba là Vũ Hữu, chính xác sinh năm 1441 (Tân Dậu), và con thứ tư là Vũ Tráng, thứ 5 là Vũ Phong và con gái Vũ Thị Vàng (gả cho Lê Đạc, đời 7 họ Lê ở Mộ Trạch).
Trong đó ông Vũ Phong là Vô địch đô vật[5] làm Cẩm y vệ Chỉ huy sứ.
Vợ ông (phu nhân của Vũ Hữu) tên là Phạm Thị Tuyên là cháu chắt 4 đời sau của Thượng đẳng thần Phạm Ngũ Lão Đại Vương là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hưng Yên. [6]

Trở ngại
[sửa | sửa mã nguồn]Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép:
- Năm Quang Thuận thứ 8 (năm 1467), thi khoa Hoành từ. Điểm gọi các quan vào thi, tất cả là 30 người. Bấy giờ, Khâm hình viện lang trung Vũ Hữu, Viên ngoại lang Nguyễn Đình Khoa 5 người đều cáo ốm không vào thi. Vua lấy làm lạ, hỏi ra mới biết họ chỉ thích hối lộ. Nhân thế, vua dụ các quan trong triều rằng:
- "Việc hình án phức tạp khó khăn, có ba điều vất vả: Một là suốt ngày cặm cụi vất vả, khổ sở. Hai là xử án không đúng, chịu tội làm sai. Ba là án tụng chất đống, khó lòng xét xử tường tận. Có ba điều vất vả ấy dẫu người không bệnh cũng đến phát ốm, huống chi là có bệnh".
- Đó là nói giễu Vũ Hữu.
Đây là thông tin khá mơ hồ, hiện chưa có tài liệu nào đối chứng
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Có tài liệu chép là sinh năm 1443.
- ↑ "Dòng họ Vũ - Võ | Tin tức | LƯỢC KHẢO VỀ MỘT CHI HỌ VŨ NỔI TIẾNG Ở MỘ TRẠCH Cự Vũ (Vũ Hiệp) sưu khảo". www.hovuvo.com. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Dòng họ Vũ - Võ | Tin tức | LƯỢC KHẢO VỀ MỘT CHI HỌ VŨ NỔI TIẾNG Ở MỘ TRẠCH Cự Vũ (Vũ Hiệp) sưu khảo". www.hovuvo.com. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Thông tin Lập thành Toán pháp". Viện nghiên cứu Hán-Nôm. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Vũ Phong (武 風): Mộ Trạch còn có Trạng vật Vũ Phong, tên hiệu là Tồn Trai, con thứ 5 của Vũ Bá Khiêm, em ruột Hoàng giáp Vũ Hữu. Ông tướng ngũ đoản, có biệt tài về đô vật, đã quật ngã các đô lực sĩ hộ vệ vua Lê Thánh Tông trong một cuộc thử sức, lại có tiếng chính trực và tháo vát, được vua tin dùng, cho làm Chỉ huy sứ Cẩm y thị vệ. Có lần ông được sung vào sứ bộ sang nhà Minh biểu diễn tài đô vật. Ông đã thắng các tay đô vật nổi tiếng của Tàu, đem lại vẻ vang cho dân tộc. Khiến vua Minh Hiến Tông phải khen ngợi, gọi ông là “Lý Tôn Hiến An Nam,” ý sánh ông với danh tướng họ Lý đời Đường Hy Tông, cũng vóc người nhỏ bé nhưng giỏi võ và sức mạnh phi thường, có công dẹp yên loạn Hoàng Sào. Người đương thời tôn xưng Võ Phong là Trạng Vật. Còn Hoàng giáp Lê Quang Bí, liệt ông vào các nhân vật lịch sử và có thơ vịnh: Ngũ đoản tằng xưng tướng mạo kỳ, Tang bồng hồ thỉ hảo nam nhi. Nhất môn bá trọng quang tiền nghiệp Thiên tải minh lương kết chủ tri Ứng biến đạt tài thi hữu chính, Xứng bình lệnh dữ bá vu thì. Tử tôn vinh thịnh đoan phi ngẫu, Chủng đức cao dao thị ngã si (sư). Bản dịch trong “Tự Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam”: Tướng xem ngũ đoản thật phi thường Hồ thỉ làm trai chí bốn phương Nếp cũ thêm tươi hàng bá trọng, Ngàn xưa được gặp chúa minh lương. Khen tay chính trị tài thông biến, Giữ mực công minh tiếng chẳng thường. Con cháu vinh hoa âu cũng bởi, Ai trồng cây đức để làm gương.
- ↑ "Dòng họ Vũ - Võ | Tin tức | LƯỢC KHẢO VỀ MỘT CHI HỌ VŨ NỔI TIẾNG Ở MỘ TRẠCH Cự Vũ (Vũ Hiệp) sưu khảo". www.hovuvo.com. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Trần Tri Khách, Niên biểu Phật giáo Việt Nam Lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2005 tại Wayback Machine. Do Vũ Hữu sinh sống vào thời kỳ giữa 1000 và 1900, xem mục tương ứng tại Lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2005 tại Wayback Machine