Đàn nguyệt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Yueqin
Đàn nguyệt Trung Quốc (nguyệt cầm) tại bảo tàng ở Bắc Kinh
Đàn nguyệt Trung Quốc (nguyệt cầm) tại bảo tàng ở Bắc Kinh
Đàn dây
Phân loạiĐàn dây
Phân loại nhạc cụ theo Hornbostel-Sachs321.322
(Composite chordophone)
Thiết kếTrung Quốc
Nhạc cụ tương tự

Đàn nguyệt chữ Hán:月琴: nguyệt cầm;Bính âm:Yùeqín) - là nhạc cụ dây gẩy xuất xứ từ Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam., trong Nam còn gọi là đờn kìm. Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như mặt trăng nên mới có tên là "đàn nguyệt". Theo sách xưa, đàn nguyên thủy có 4 dây, sau rút lại còn 2 dây. Nó là một nhạc cụ quan trọng trong dàn nhạc kinh kịch Bắc Kinh, thường đảm nhận vai trò là nhạc cụ giai điệu chính thay cho phần dây cung.

Đàn nguyệt là cây đàn rất phổ biến dùng để độc tấu, hòa tấu với nhiều ngón chơi độc đáo như ngón nhấn, ngón vê, ngón luyến… Màu âm đàn nguyệt tươi sáng, rộn ràng, tình cảm, đa dạng trong diễn tả các trạng thái cảm xúc âm nhạc.

Lịch sử ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thống, nhạc cụ được phát minh ở Trung Quốc trong triều đại Tần thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 5. Tổ tiên của đàn nguyệt là đàn nguyễn.

Đàn nguyễn của Trung Quốc, được cho là thủy tổ của đàn nguyệt

Ruan có thể có lịch sử hơn 2.000 năm, hình thức sớm nhất có thể là tần tỳ bà , sau đó được phát triển thành ruanxian (được đặt tên theo Nguyễn Hàm), rút ​​ngắn thành ruan. Trong các văn bản cổ của Trung Quốc từ thời Hán đến nhà Đường, thuật ngữ tỳ bà được sử dụng như một thuật ngữ chung cho một số hợp âm được gảy , bao gồm cả đàn nguyễn , do đó không nhất thiết có nghĩa giống như cách sử dụng hiện đại của tỳ bà . chỉ đề cập đến các công cụ hình quả lê. Theo Biên niên sử tỳ bà (琵琶 赋, Hán Việt: tỳ bà phú của Phụ Huyền (傅玄) củaThời Tây Tấn, tỳ bà được thiết kế sau khi sửa đổi các nhạc cụ dây khác của Trung Quốc thời đó như đàn tam thập lục Trung Quốc , đàn tranhđàn trúc , hoặc không hầu (箜篌), đàn hạc Trung Quốc. Tuy nhiên, người ta tin rằng đàn nguyễn có thể đã được hậu duệ của một công cụ gọi là huyền đào (弦鼗) mà được xây dựng bởi người lao động trên Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc trong thời gian cuối triều đại nhà Tần (do đó tên Tần tỳ bà) sử dụng dây kéo dài trên một viên trống.

Các tiền đề của đàn nguyễn trong triều đại nhà Tần (221 TCN - 206 TCN), tức là đàn tỳ bà Tần , đã có một chặng đường dài, thẳng cổ với một hộp âm thanh vòng trái ngược với quả lê hình dạng của đàn tỳ bà của các triều đại sau này. Tên của "tỳ bà" được liên kết với "đàn khiêu" (彈 挑) - một kỹ thuật tay phải để chơi một nhạc cụ dây gảy. "Tỳ" (琵), có nghĩa là "đàn" (彈), là chuyển động đi xuống của việc gảy dây. "Bà" (琶), có nghĩa là "khiêu" (挑), là chuyển động đi lên của việc nhấn dây.

Tên hiện tại của Tần tỳ bà, từ "nguyễn", không được đặt cho đến thời nhà Đường (thế kỷ thứ 8). Trong triều đại của Hoàng hậu Võ Tắc Thiên (khoảng 684-704 sau Công nguyên), một nhạc cụ bằng đồng trông giống như ống dẫn Tần được phát hiện trong một ngôi mộ cổ ở Tứ Xuyên. Nó có 13 phím đàn và hộp âm thanh tròn. Người ta tin rằng đó là nhạc cụ mà nhạc sĩ Đông Tấn (東晉) Nguyễn Hàm thích chơi. Nguyễn Hàm là một học giả trong Tam Quốc Thời kỳ Đông Tấn (thế kỷ thứ 3). Ông và sáu học giả khác không thích chính quyền tham nhũng, vì vậy họ tập trung tại một khu rừng tre ở Shanyang (Sơn Dương), nay thuộc tỉnh Hà Nam). Họ uống rượu, viết thơ, chơi nhạc và tận hưởng cuộc sống đơn giản. Nhóm được biết đến với tên Trúc lâm thất hiền (林七賢). Vì Nguyễn Hàm là một chuyên gia và nổi tiếng khi chơi một nhạc cụ trông giống như ống Qin , nên nhạc cụ được đặt theo tên ông khi ống đồng Qin được tìm thấy trong một ngôi mộ trong thời nhà Đường. Các ruan đã được sử dụng để được gọi là ruanxian , nhưng ngày nay nó được rút ngắn thành nguyễn (阮).

Cũng trong thời nhà Đường, một ruãnian đã được đưa đến Nhật Bản từ Trung Quốc. Bây giờ ruanxian này vẫn được lưu trữ trong Shosoin của Bảo tàng Quốc gia Nara ở Nhật Bản. Các ruanxian được làm bằng gỗ đàn hương đỏ và trang trí với khảm xà cừ. Các ruanxian cổ đại cho thấy rằng diện mạo của ruan ngày nay đã không thay đổi nhiều kể từ thế kỷ thứ 8.

Ngày nay, mặc dù đàn nguyễn chưa bao giờ phổ biến như pipa , ruan đã được chia thành nhiều nhạc cụ nhỏ hơn và được biết đến nhiều hơn trong vài thế kỷ gần đây, như nguyệt cầm và tần cầm, nguyệt cầm , không có lỗ âm thanh, hiện được sử dụng chủ yếu trong nhạc đệm Bắc Kinh . Tần cầm và đàn nguyệt lúc bấy giờ là hai loại nhạc cụ trong nhóm đàn nguyễn thịnh hành ở Quảng Đông (廣東) và Triều Châu (潮州).

Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]

đàn nguyệt của Trung Quốc (yueqin)

Đàn nguyệt có những bộ phận chính như sau:

- Bầu vang: Bộ phận hình tròn ống dẹt, đường kính mặt bầu 30 cm, thành bầu 6 cm. Nền mặt bầu vang có bộ phận nằm phía dưới gọi là ngựa đàn (cái thú) dùng để mắc dây. Bầu vang không có lỗ thoát âm.

- Cần đàn (hay dọc đàn): làm bằng gỗ cứng, dài thon mảnh, bên trên gắn 8-11 phím đàn, trước đây chỉ gắn 8 phím (nay những người chơi nhạc tài tử Nam bộ vẫn thường dùng đàn 8 phím). Những phím này khá cao, nằm xa nhau với khoảng cách không đều nhau.

- Đầu đàn: hình lá đề, gắn phía trên cần đàn, nó có 4 hóc luồn dây và 4 trục dây, mỗi bên hai trục.

- Dây đàn: có 2 dây, trước đây làm bằng dây , ngày nay thường làm bằng dây nylon. Tuy có 4 trục đàn nhưng người ta chỉ mắc 2 dây (một dây to một dây nhỏ). Cách chỉnh dây thay đổi tùy theo người sử dụng. Có khi 2 dây cách nhau quãng 4 đúng, có khi cách quãng năm đúng hoặc quãng bảy hay quãng tám đúng. Song cách thông dụng nhất vẫn là lên dây theo quãng năm đúng. Đàn nguyệt là nhạc cụ khảy dây, được dùng thường xuyên trong ban nhạc chầu văn, tài tử, phường bát âm và trong nhiều dàn nhạc dân tộc khác.

Đàn nguyệt ở Trung Quốc có bốn dây, điều chỉnh trong hai "khóa học" D và A (thấp đến cao). Yueqin được sử dụng cho opera Bắc Kinh, tuy nhiên, có hai dây duy nhất, chỉ một trong số đó là thực sự được sử dụng, dây dưới đây là có hoàn toàn cho sự cộng hưởng cảm thông. Trong vở opera Bắc Kinh (kinh kịch), người chơi sử dụng một cái chốt gỗ nhỏ thay vì một tấm lót để biểu diễn, và chỉ chơi ở vị trí đầu; Điều này đòi hỏi người biểu diễn phải sử dụng quãng tám oát để chơi tất cả các âm thanh trong một giai điệu nhất định.

Các dây trên mẫu truyền thống của nhạc cụ được làm bằng lụa (mặc dù nylon thường được sử dụng ngày nay) và được nhét bằng một cái lọ dài khá dài, đôi khi gắn với dụng cụ bằng một miếng dây.

Không có lỗ âm thanh, nhưng bên trong hộp âm thanh là một hoặc nhiều sợi dây chỉ được gắn ở một đầu, để chúng rung, tạo cho nhạc cụ một sắc thái và cộng hưởng đặc biệt.

Không có cây cầu hoặc ngựa đàn; Các dây chỉ đơn giản là gắn liền với neo tại cơ sở của nhạc cụ.

Khả năng trình diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung đàn nguyệt có âm sắc trong sáng, ở khoảng âm thấp thì hơi đục. Nó có thể diễn đạt nhiều sắc thái tình cảm khác nhau, từ dịu dàng, mềm mại đến rắn rỏi, rộn ràng.

Ngày xưa người biểu diễn nuôi móng tay dài để khảy đàn nguyệt, ngày nay miếng khảy đàn đã giữ nhiệm vụ này. Một số kỹ thuật sử dụng tay phải trong đàn nguyệt như sau:

- Ngón phi: lối đánh cổ truyền, không dùng miếng khảy mà sử dụng những ngón tay vẩy liên tiếp nhanh trên dây đàn, hiện quả âm thanh gần giống như ngón vê. Ngón phi có hai cách diễn:

+ Phi lên: thường sử dụng trên một dây đàn, bắt đầu từ ngón út rồi lần lượt những ngón khác hất vào dây đàn.

+ Phi xuống: sử dụng trên cả 1 dây đàn hoặc trên cả hai dây. Phi xuống là vẫy nhanh các ngón tay vào dây đàn, bắt đầu từ ngón út (có khi bắt đầu từ ngón trỏ) rồi lần lượt những ngón khác khảy dây đàn.

Khi biểu diễn ngón phi người ta dùng 4 ngón tay (không sử dụng ngón tay cái). Nếu đánh bằng miếng khảy đàn họ chỉ sử dụng 3 ngón vì ngón cái và ngón trỏ phải giữ miếng khảy.

- Ngón vê: khảy liên tiếp trên dây đàn. Kỹ thuật này thường dùng trong nhạc hát văn. Cách vê có thể bằng móng tay hay miếng khảy, vê 1 dây hoặc 2 dây đều được.

- Ngón gõ: dùng những ngón tay phải gõ vào mặt đàn, mục đích để báo hiệu cho hát, cho các nhạc khí khác hòa tấu hoặc điểm giữa những nhạc cụ, đoạn nhạc hay những lúc các nhạc cụ khác ngưng hoạt động.

- Bịt: làm âm thanh vừa vang lên liền tắt đột ngột. Kỹ thuật sử dụng tay trái trong đàn nguyệt gồm có 12 cách: ngón rung, ngón nhấn, ngón nhấn luyến, nhấn luyến, ngón láy, ngón láy rền và ngón láy giật. Trước đây người ta ít sử dụng ngón vuốt, nhưng ngày nay có thể xem nó là kỹ thuật số 9 của tay trái. Kế tiếp là ngón bật dây, âm bội và đánh chồng âm (hợp âm).

Nguyệt cầm của Trung Quốc thường dùng trong kinh kịch, hòa âm trong dàn nhạc bát âm cung đình, các bài hát dân ca,nhạc cổ phong Trung Quốc, C-pop, EDM,...

Vai trò của đàn nguyệt trong dân ca Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn nguyệt được dùng để biểu diễn các thể loại nhạc dân ca của Việt Nam. Trong ban nhạc "Ngũ tuyệt" của nhạc thính phòng cổ truyền thì đàn nguyệt đóng vai trò điều khiển. Bốn nhạc cụ kia trong dàn nhạc gồm có đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nhị, đàn tamống sáo.

Đàn nguyệt cũng giữ vai trò tối trọng yếu trong nhạc chầu văn-một thể loại hát đặc sắc của đồng bào Bắc Bộ

Bài thơ “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh,

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.

Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!

Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh;

Lung linh bóng sáng bỗng rung mình

Vì nghe nương tử trong câu hát

Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,

Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi…

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người…

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê.

Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề

Sương bạc làm thinh, khuya nín thở

Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]