Kèn bầu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Pí lè)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bốn cái kèn bâu

Kèn bầu là nhạc khí hơi, sử dụng dăm kép (còn gọi là Kèn già nam, Kèn loa, Kèn bóp, Kèn bát). Kèn Bầu là nhạc khí hơi dăm kép rất phổ biến tại Việt Nam, đồng thời một số nước khác ở Châu Á cũng có. Kèn Bầu được nhập vào Việt Nam và trở thành nhạc khí của dân tộc Kinh và một số dân tộc như Thái, Chăm... Nó là nhạc cụ do nam giới sử dụng trong việc đón khách, đám cưới, đám ma,trong hội hè của các dân tộc thiểu số và là thành phần quan trọng nghệ thuật nhã nhạc cung đình Huếchầu văn[1] của người Kinh. Người ta thường diễn tấu nhạc cụ này với trống, chũm choẹchuông, đôi khi kết hợp với thanh la.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Do kèn bầu là nhạc cụ phổ biến nên tên gọi của nó rất đa dạng theo vùng miền. Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái trong đó có Nùng, Giáy đều gọi nhạc khí hơi bằng một mạo từ và họ cũng gọi là Pí Lè.

Người Dao gọi Pí lè là Dặc, người Chăm gọi là Kèn Saranai, một số dân tộc khác gọi là Pí kẻo hay Pí kiểu. Một số nhạc sĩ người Việt gọi nhạc cụ này là suona, thật ra đây là tên gọi của một nhạc cụ cổ truyền Trung Quốc.

Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Kèn bầu (bên trái) phường bát âm trong một đám ma

Kèn Bầu có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, chia làm ba loại:

  • Loại âm cao: Kèn Tiểu, Kèn Vắt, Kèn Củn.
  • Loại âm trung (sử dụng nhiều): Kèn Trung pha, Kèn Trung đục, Kèn Nàm.
  • Loại âm trầm: Kèn Ðại, Kèn Ðại trường, Kèn Quá khổ.

Kèn bầu có 3 phần chính:

  • Dăm và vong kèn: là loại dăm kép, làm bằng ống sậy mềm (hoặc có thể bằng nguyên liệu khác),phần trên vót mỏng, một đầu bóp bẹp, cuối dăm để tròn để cắm vào đầu một cái thắng (vong). Cái thắng là một ống bằng kim loại nối liền giữa dăm kèn với thân kèn. Dăm kèn là bộ phận quan trọng nhất của kèn: dăm cứng quá khó thổi những âm trầm, dăm mềm quá khó lên âm cao. Dăm không tốt sẽ ảnh hưởng màu âm.
  • Thân kèn (suốt kèn): một ống rỗng lòng, dài từ 25 đến 30 cm, đường kính 2 đầu ống khác nhau vì có cấu tạo ống thuôn to dần. Trên lưng ống có 7 lỗ bấm và 1 lỗ nằm dưới thân ống nơi gần đầu ống do ngón cái đảm nhiệm. Các lỗ bấm của Kèn Bầu được khoét với khoảng cách đều nhau để có thể phát ra các âm theo thang âm 7 cung chia đều. Thông thường người ta chỉ sử dụng 7 lỗ bấm ở trên lưng ống, lỗ phía dưới thân ống chỉ được dùng cân tạo âm cao ở quãng tám.
  • Loa kèn (Bát kèn): làm bằng vỏ bầu khô (nên còn gọi là Kèn Bầu), hình chóp cụt, cũng có thể bằng gỗ cuốn đồng lá, cao từ 15 đến 17 cm, đường kính đáy từ 10 đến 12 cm.

Màu âm, Tầm âm[sửa | sửa mã nguồn]

Âm thanh kèn Bầu khỏe, vang, hơi chói tai (ở âm cao) thích hợp nhạc điệu mạnh, chân thực, đồng thời có khả năng thể hiện tình cảm, đôi khi ảm đạm và có màu bi thảm. Muốn thay đổi màu âm có thể dùng bộ phận hãm tiếng, âm thanh sẽ giảm đi nhưng có phần mờ đục.

Âm giai của kèn

Tầm âm Kèn Loa (Fa) rộng hai quãng tám: từ Fa1 đến Fa3 (f1 đến f3)

Khoảng âm dưới: âm thanh hơi rè, diễn tả tình cảm bi thiết.

Khoảng âm giữa: âm thanh vang, trong sáng, hùng mạnh.

Khoảng âm cao: âm thanh sắc nhọn, chói chang.


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Diễn đàn hát văn Việt Nam”. Truy cập 10 tháng 2 năm 2015.