Đàn môi (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đàn môi
5 Leaf Kouxian.jpg
5 chiếc đàn môi Trung Quốc (khẩu huyền)
Loại Lamellaphone; plucked idiophone
Phân loại của Hornbostel–Sachs121.2
(loại nhạc cụ làm bằng tre,)
Nhạc cụ liên quan
gogona, kubing, morsing,kouxian


Đàn môi của các dân tộc Việt Nam

Đàn môi (Hán Việt: Khẩu huyền, 口弦, Bính âm:kǒu xián) để chỉ một loại nhạc cụ làm bằng tre hay kim loại, phổ biến hầu hết trong các cộng đồng dân tộc trên thế giới với nhiều tên gọi khác nhau. Người Trung Quốc gọi là khẩu huyền.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu huyền Trung Quốc có thể bao gồm nhiều chiếc được ghép lại với nhau ở một đầu và lan truyền trong một chuỗi hình quạt. Chúng có thể được làm từ tre hoặc hợp kim kim loại, chẳng hạn như đồng thau. Khẩu huyền hiện đại có ba hoặc nhiều chiếc có thể được điều chỉnh theo một vài âm đầu tiên của thang ngũ giác nhỏ.

Khẩu huyền có khả năng bắt nguồn từ châu Á. Mặc dù được chơi trên khắp Trung Quốc, nhưng nó đặc biệt phổ biến trong các nhóm dân tộc không phải người Hán ở Tây Nam Trung Quốc, như Vân Nam, Quảng TâyQuý Châu. Khẩu huyền của Trung Quốc có nhiều tên địa phương được đặt cho nhạc cụ này; một tên khác gọi là hoho.

Gọi đàn môi là do thói quen gọi lâu ngày ở Việt Nam. Thật ra nhạc cụ chưa hẳn là đàn, bởi vì các nhà nghiên cứu phân tích nó theo nhiều cách khác nhau. Có người cho rằng đàn môi là nhạc cụ dây vì có lưỡi là dây rung, khoang miệng là bộ phận tăng âm. Người khác bảo đàn môi là nhạc cụ hơi vì chiếc lưỡi làm nhiệm vụ lưỡi gà như trong khèn. Quan điểm thứ 3 cho rằng nó là nhạc cụ tự thân vang, nguồn âm thanh xuất phát từ chiếc lưỡi rung toàn thân.

Nếu chấp nhận đàn môi là nhạc cụ dây thì ta có quyền gọi nó là đàn.

Cấu tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn môi Việt Nam thường làm bằng 1 miếng đồng dát mỏng hay mảnh tre vót mỏng tạo dáng chiếc lá tre. Người ta cắt một chiếc lưỡi dài theo chiều thân đàn, phần đầu lưỡi rời ra chỉ còn phần gốc dính vào thân đàn. Chiếc lưỡi này là bộ phận rung của nhạc cụ. Phần cuối thân đàn có buộc 1 sợi dây hay có 1 tay cầm. Khi thổi người ta giữ sợi dây hay tay cầm bằng tay trái, đặt đàn cách đôi môi một chút, đủ để không chạm vào răng. Ngón cái của tay phải bật vào đầu đàn khiến lưỡi rung lên, chuyển chấn động đến khoang miệng và vang lên trong khoang miệng. Khi thay đổi khẩu hình âm thanh sẽ phát ra khác nhau, tuy nhiên số lượng âm không nhiều, cao độ không chuẩn, hơi nhòe và nghe nhỏ.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà nghiên cứu dân tộc học suy đoán từ truyền thuyết rằng nó xuất hiện vào cuối thời kỳ đồ đá mới. Thời kỳ tiền Tần gọi là "Mùa xuân", " Sách ca khúc · Xiaoya": "Có một từ thông minh." Trong triều đại nhà Đường và nhà Tống, có "lò xo tre", "lò xo sắt", "lò xo lá sắt", "lò xo lá sắt". Tên được gọi là "Harmonica" trong triều đại nhà Minh và nhà Thanh, và bây giờ thường được gọi là " hợp âm ". Nó được phổ biến rộng rãi ở các vùng dân tộc thiểu số của Trung Quốc, và các nhóm dân tộc khác nhau có tên khác nhau. Nó liên quan chặt chẽ với tên của văn hóa Trung Quốc cổ đại. Có hơn 100 bản dịch tiếng Trung của 38 ngôn ngữ thiểu số đã được lưu hành.

Đàn môi (khẩu huyền) là một trong những nhạc cụ của tình yêu và tình yêu của các dân tộc thiểu số, và thường được sử dụng như một dấu hiệu tình yêu cho thanh niên nam nữ. Lò xo nhiều mảnh thường được trang bị một ống tre nhỏ với hoa văn tinh tế trên bề mặt ống tre có thể mang theo để chơi ở những nơi cần thiết.

Tương tự[sửa | sửa mã nguồn]

Trên thế giới nhiều nước cũng có đàn môi với tên gọi khác và chất liệu làm đàn cũng khác so với loại đàn môi ở Việt Nam hay khẩu huyền của Trung Quốc, một ví dụ là Jew's harp, phổ biến ở Châu Âu.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]