Đàn tam thập lục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tam thập lục)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đàn tam thập lục
Hammered dulcimer.JPG
Đàn tam thập lục đang được gõ
Nhạc cụ dây
Tên khácCimbalom
Dulcimer
Four-hammer dulcimer
Hammer dulcimer
de: Hackbrett
it: Salterio
es: Dulcémele
pl: Cymbały
fa: Santoor, Santur
uk: Tsymbaly
fr: Tympanon
zh: Yangqin
ko: Yanggeum
kh: ឃឹម Khim
vi: Tam Thập Lục
th: ขิม Khim
LoạiPercussion instrument (Chordophone), String instrument
Phân loại của Hornbostel–Sachs314.122-4
(Simple chordophone sounded by hammers)
Phát triển bởiAntiquity


Tam thập lục là nhạc khí dây trong âm nhạc Việt Nam, là chi gõ của nhạc cụ phương Tây du nhập tới các nước Châu Á, cải biến từ đàn dương cầm Trung Quốc. Đàn có 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục. Tuy nhiên ngày nay một số nghệ nhân đã cải tiến đàn này bằng cách mắc thêm nhiều dây nữa để đánh được nhiều âm hơn, kể cả những âm nửa cung. Mục đích cải tiến là làm sao để dễ dàng đánh những bài nhạc có nhiều chuyển điệu. Tuy số lượng dây đã vượt quá con số 36 nhưng người ta vẫn quen gọi là đàn tam thập lục.

Nhạc khí nguyên bản của đàn tam thập lục từ Trung Quốc gọi là dương cầm, (揚琴) và chữ "dương" (tiếng Trung: ; bính âm: Yáng) được hiểu theo nghĩa đen của Hán Việt là sự tán dương, hoan nghênh. Không nên nhầm lẫn với dương cầm - tức đàn piano của phương Tây.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc công chơi dương cầm - đàn tam thập lục Trung Quốc
Đàn tam thập lục santur của Ba Tư

Đàn Tam Thập Lục của Việt Nam có một chiều dài lịch sử bắt nguồn từ quốc gia Ba Tư có tên là santur được chế tác vào khoảng thể kỷ thứ XII. Đến khoảng thế kỷ XVIII nó du nhập vào Triều Tiên, Trung Hoa và Đông Nam Á.

Đàn Tam Thập Lục du nhập vào Việt Nam khoảng thập niên 60 qua người Hoa ở Chợ Lớn, Sài Gòn.

Đàn Khim - đàn tam thập lục truyền thống của người Thái

Nhạc cụ loại này khá phổ biến ở các quốc gia trong khu vực Trung Á và cũng rất phổ biến ở các quốc gia phương Tây thời Trung cổ cho đến ngày nay. Trong mỗi quốc gia nó có tên gọi khác nhau:

Ba Tư, Syria & Ả RậpSantũr, Santari, Santuri, Santir, Suntur, Santouri, Sandouri, Santoor

Trung QuốcYangqin (giản thể:扬琴/phồn thể:揚琴 hoặc 洋琴; bính âm: yáng qín), dịch nghĩa chữ Hándương cầm.

Mông CổYoochir

Triều TiênYanggum (양금)

Thái LanKhim (ขิม)

Campuchia: Khum (ឃឹម)

Ấn Độ: Santoor (সন্তুর)

Anh, Hoa KỳHammered Dulcimer

Các quốc gia phương Tây: Cimbalom, Cimbál, Cymbalom, Cymbalum, Tambal, Tsymbaly v.v…

Cấu tạo và cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn tam thập lục châu Âu

Tuy có khả năng độc tấu, hòa tấu và đệm nhưng đàn tam thập lục ít phổ biến trong cộng đồng Việt Nam, ngoại trừ một số dàn nhạc chuyên nghiệp sử dụng nhạc cụ này. Đàn tam thập lục có hình thang cân, mặt đàn làm bằng gỗ mềm, hơi vồng lên ở giữa, mặt dưới phẳng. Trên mặt đàn có đặt 2 hàng cầu dây (ngựa đàn). Mỗi hàng cầu dây có từ 16 đến 18 ngựa đàn. Ngựa đàn của 2 hàng đặt so le nhau. Thành đàn làm bằng gỗ cứng. Bên phải là hàng trục dây, bên trái là hàng móc gốc dây.

Các dây đàn đều bằng kim loại nên thanh phát ra trong trẻo, thanh thoát, nghe giống tiếng đàn tranh khi chạy giai điệu ở âm vực cao, tuy nhiên có vẻ khô hơn đàn tranh. Trong những khoảng âm trầm, âm thanh có thể nhòe đi, hòa lẫn vào nhau vi nhạc cụ này không có bộ phận chặn âm. Người ta chỉnh dây của nhạc cụ này theo hệ thống gam nguyên. Nếu là loại cải tiến có dây bổ sung thì những dây đàn giữ nhiệm vụ dây nửa âm, chơi được cả những bản nhạc phương Tây có những nốt nửa cung.

Tất cả dây đàn đều nằm trên 2 hàng 2 cầu dây. Nhìn chung đàn tam thập lục có âm vực trên 2 quãng tám (theo quãng nguyên âm). Loại cải tiến ngày nay có âm vực rộng hơn.

  • Khoảng âm dưới: Tiếng đàn ấm áp, khá vang.
  • Khoảng âm giữa: Tiếng đàn đầy đặn, trong.
  • Khoảng âm cao nhất: Tiếng đàn sắc, gọn.

Khi biểu diễn nhạc công dùng 2 que gõ vào mặt đàn tạo ra các âm thanh từ kỹ thuật chơi như: nhấn que gõ lên dây đàn, đánh chồng âm, nẩy que gõ, bồi âm, láy âm.

Đàn Tam thập lục giữ vai trò quan trọng trong các dàn nhạc sân khấu chèo, cải lương. Đàn đệm cho hát, độc tấu, tham gia dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]