Quỳnh Đôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quỳnh Đôi là một xã thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Địa lý - Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Cổng Làng Quỳnh Đôi

Xã Quỳnh đôi cách trung tâm huyện Quỳnh Lưu 5 km về phía Đông Bắc. Có diện tích tự nhiên 399,19 ha; dân số 4.900 nhân khẩu, với 1.200 hộ, trên địa bàn toàn xã được chia thành 8 thôn, nhân dân sống tập trung. Có đường giao thông du lịch biển Quỳnh đi qua là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp.

Phía Đông giáp xã Quỳnh Yên, phía Tây giáp xã Quỳnh Hậu, phía Nam giáp xã Quỳnh Bá và phía Bắc giáp xã Quỳnh Thanh..

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳnh Đôi xưa là một vùng cây hoang, cỏ dại giáp sông Mai (gọi là sông Mõ), gần biển cửa Quèn là một trong ba cửa biển của huyện Quỳnh Lưu: Cửa Cờn (Càn), Cửa Quèn (Quyền), Cửa Thơi (Thai). Năm thứ II Xương Phù (1378) các Cụ: Hồ Hồng, Hồ Khai, Nguyễn Thạc và Cụ Hoàng Khánh cùng nhau đến đây khai cơ, lập ấp đặt tên là “ Thổ Đôi Trang ”. Cho tới năm 1528 Cụ Hồ Nhân Hy (Đời Mạc) đổi tên Thổ Đôi thành xã Quỳnh Đôi ngày nay.

Tính đến nay Quỳnh Đôi đã có 640 năm tuổi.

Văn hóa - Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳnh Đôi nổi tiếng là cái nôi văn hóa lâu đời, có truyền thống hiếu học. Được biết đến với cái tên: Làng Khoa Bảng.

Quỳnh Đôi xưa chỉ có 2 nghề: đi học và dệt lụa, làm nghề nông ít vì ít ruộng.

Trường tiểu học tại xã Quỳnh Đôi

Từ xa xưa trong dân gian đã truyền tụng: “Bắc Hà: Hành Thiện, Hoan Diễn: Quỳnh Đôi” để nói về cái sự học của Làng Quỳnh Đôi

- Thời ấy phong kiến, Quỳnh Đôi có 531 sinh đồ (Tú tài), 203 hương cống (cử nhân) với 958 lượt người đỗ 116 khoa thi Hương trong đó có đến 13 Giải nguyên, 4 phó bảng: Hồ Bá Ôn, Phan Duy Phổ, Hoàng Mậu, Lê Xuân Mai; 6 tiến sĩ: Hồ Sĩ Tân, Phan Hữu Tính, Hồ Sĩ Tuần, Văn Đức Giai, Nguyễn Sĩ Phẩm, Dương Thúc Hạp; 2 hoàng giáp: Hồ Phi Tích, Hồ Sĩ Đống; 1 thám hoa: Dương Cát Phủ; 1 bảng nhãn: Hồ Sĩ Dương.

- Thời Pháp thuộc, người đỗ thủ khoa trường Đại học Luật khoa đầu tiên ở Đông Dương là Nguyễn Xuân Dương (sau này là Chánh nhất Tòa thượng thẩm Bắc Bộ rồi Chánh án Hà Nội). Người đỗ cử nhân Luật khoa cuối cùng thời đó là Phạm Đình Tân (sau này là chuyên viên cao cấp về pháp chế). Cũng trong thời kỳ này, người duy nhất trong cả nước được giải thưởng của Bảo Đại trong một kỳ thi đặc biệt (Concours général) là ông Nguyễn Đình Lương.

- Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay, Quỳnh Đôi có 3 Viện sỹ, 13 giáo sư-phó giáo sư, 30 tiến sỹ, 48 thạc sỹ và hơn 1.000 cử nhân. Các tiến sĩ có thể kể đến: Nguyễn Xuân Dũng, Phan Tam Đồng, Phan Cự Tiến, Hồ Đức Việt…, các Giáo sư, Phó Giáo sư có thể kể đến Phan Cự Nhân, Phan Cự Đệ, Phan Cự, Văn Như Cương, Hồ Sĩ Giao, Hoàng Văn Lân, Dương Như Xuyên…, 3 viện sĩ quốc tế gồm Nguyễn Xuân Dũng, Phan Cự Đệ, Phan Cự Tiến.

Kien575.jpg

Tiếp nối truyền thống đã được cha ông gây dựng hàng trăm năm qua, các thế hệ của làng Quỳnh Đôi vẫn giữ được tinh thần hiếu học của quê hương và khẳng định vốn tri thức, tài năng của mình. Gần 100% thế hệ trẻ Quỳnh Đôi đều có trình độ đại học, cao đẳng. Rất nhiều học sinh có thành tích cao trong học tập, đoạt giải trong các kì thi HSG tỉnh, quốc gia…

Một điều thú vị mà ngôi làng khoa bảng này vẫn lưu giữ và phát huy đó là tục “khai bút” vào mỗi dịp xuân về. Ở làng, khai bút được coi là một hoạt động ý nghĩa, nhắc nhở thế hệ sau về truyền thống hiếu học của quê hương, dân tộc. Buổi lễ thường được tổ chức tại đình làng vào mùng 2 Tết với sự tham gia của các em học sinh và rất nhiều người dân trong làng…

Làng Nghề Truyền Thống[sửa | sửa mã nguồn]

Quỳnh Đôi có 1 làng nghề “ Hương trầm ” Hương trầm Quỳnh Đôi xuất hiện từ thế kỷ XVII và được ông cha bảo tồn, gìn giữ, lưu truyền cho con cháu sau này, thời đó hương trầm chỉ phát triển dạng bột, đốt bằng lư hương, sau này chuyển sang dạng hương que, quấn bằng giấy, sang thế kỷ XIV thì hương trầm phát triển rộng rãi cho đến bây giờ. Qua quá trình hình thành phát triển của làng nghề hương trầm, Quỳnh Đôi đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, gắn với những biến thiên, thăng trầm lịch sử của làng.

Làng nghề hương trầm đã có những bước đánh dấu khá rõ nét trong lịch sử kinh tế xã hội; sản phẩm dùng để phục vụ cho đời sống văn hóa, tâm linh cho nhân dân trong làng và sau này phát triển mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vốn, kỹ thuật để cải tiến sản xuất, hình thành nhiều cơ sở kinh doanh đảm bảo đủ số lượng, chất lượng để xuất khẩu ra các tỉnh thành trong cả nước, hình thức mẫu mã, chất lượng từng bước được đổi mới đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhân dân. Nghề hương trầm đã trở thành nghề thủ công, tạo công ăn, việc làm cho số lượng lao động lớn. Tháng 12 năm 2012 địa phương xã Quỳnh Đôi được UBND tỉnh Nghệ An công nhận 1 làng nghề hương trầm.

Di tích - Danh thắng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đền Thần (di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia)
  • Đình làng Quỳnh Đôi (di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia)

- Nằm ở thôn 3 xã Quỳnh Đôi - Quỳnh lưu - Nghệ An.

- Diện tích khuôn viên: 478,4 m2.

- Trước đây là nơi hội họp của làng và các tổ chức bàn về việc dựng cờ khởi nghĩa thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh

  • Nhà thờ họ Hồ (di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia)

- Nằm ở thôn 4 xã Quỳnh Đôi - Quỳnh lưu - Nghệ An.

- Diện tích khuôn viên: 6.200 m2.

- Thờ cụ Hồ Kha: Đã có công khai cơ lập làng, cùng nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Được Vua phong sắc Thần Hoàng Hồ Khai Cơ.

  • Nhà thờ họ Nguyễn (di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia)

- Nằm ở thôn 4 xã Quỳnh Đôi - Quỳnh lưu - Nghệ An.

- Diện tích khuôn viên: 1.587 m2.

- Thờ cụ Nguyễn Thạc: Đã có công khai cơ lập làng, cùng nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Được Vua phong sắc Thần Hoàng Nguyễn Triệu Cơ.

  • Nhà thờ họ Hoàng (di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia)

- Nằm ở thôn 4 xã Quỳnh Đôi - Quỳnh lưu - Nghệ An.

- Diện tích khuôn viên: 2.660 m2.

- Thờ cụ Hoàng khánh: Đã có công khai cơ lập làng, cùng nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Được Vua phong sắc Thần Hoàng Lập Cơ.

  • Nhà thờ cụ Hồ Sỹ Dương (di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia)

- Nằm ở thôn 5 xã Quỳnh Đôi

- Diện tích khuôn viên: 760 m2.

- Thờ cụ Hồ Sỹ Dương

- Chức tước: Đậu Tiến sỹ thứ 3, đậu Đông các ( Bảng nhạn ); Tham tụng ( Tể tướng ). Tước ( Duệ quận công, thiếu bảo ) Thượng thư 3 bộ.

- Công trạng: Tham gia bốn lần đánh giặc: Nam chinh, bắc chiến; đi dadij sứ 3 năm ở Trung quốc, 7 lần tiếp sứ Trung quốc. Giám tu quốc sử. Khai cơ ra 5 làng gồm: Thọ Vực, mỹ Hòa, Như bá, Tiền Đội và Bảo An. Được phong Thần Hoàng.

  • Nhà thờ Quỳnh Quận công Hồ Phi Tích (di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia)

- Nằm ở thôn 3 xã Quỳnh Đôi - Quỳnh lưu - Nghệ An.

- Diện tích khuôn viên: 2.500 m2.

- Thờ cụ Quỳnh quận công Thượng thư Hồ Phi Tích: Đã có công đi sứ sang Trung quốc đàm phán và lấy lại đất cho nước Việt Nam lúc bấy giờ. Trích đất gây quỹ phục vụ công tác khuyến học góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục.

  • Nhà thờ và khu lăng mộ cụ Hồ Tùng Mậu (di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia)

- Nằm ở thôn 5 xã Quỳnh Đôi - Quỳnh lưu - Nghệ An.

- Diện tích khuôn viên: 1.500 m2.

- Thờ cụ Hồ Tùng Mậu: Đã có công mở trường dạy học, tham gia thành lập và ở trong ban lãnh đạo của tổ chức “ Thanh niên cách mạng đồng chí Hội ”, thành viên của “ Cộng sản đoàn ”. Lập ra “ An nam cộng sản Đảng ”, làm Tổng thanh tra Chính phủ, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khóa II )

  • Nhà thờ họ Dương (di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh)

- Nằm ở thôn 3 xã Quỳnh Đôi

- Diện tích khuôn viên:  500 m2.

- Thờ cụ Dương Văn Khai

- Công trạng: Là người thầy dạy chữ đầu tiên cho nhân dân xã Quỳnh Đôi ( vào năm 1.540 ). Được Vua phong sắc.

  • Nhà bia tưởng niệm Thi sĩ Hồ Xuân Hương
  • Khu mộ Anh hùng Cù Chính Lan
  • Đài tưởng niệm các chiến sĩ cộng sản hy sinh trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930-1931

Những người có học hàm, học vị, có công, anh hùng, các tướng lĩnh...[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Các ông: Hồ Hồng, Nguyễn Thạc, Hoàng Khánh năm 1378 thành lập làng Thổ Đôi Trang.
  2. Dương Văn Khai, là người đầu tiên được mời về dạy học ở làng.
  3. Hồ Thị Thai, bà có công thuê người đào giếng Bà Cả.
  4. Hồ Ước Lễ, đậu Thái học sinh (là người đầu tiên của làng thi đỗ khoa thi).
  5. Hồ Nhân Hy, người có công xây dựng nhà Thánh, chùa Quỳnh Thiên (chùa An Thái) và xây dựng Hiền Từ
  6. Dương Cát Phủ, Thám hoa, làm quan thời Hậu Lê
  7. Hồ Sĩ Dương, Tiến sĩ, Bảng nhãn, chức: Tham tụng (Tể tướng trong triều) thời Hậu Lê.
  8. Trương Thị Thành (phu nhân ông Hồ Sĩ Dương), bà có công đưa nghề mộc về làng.
  9. Hồ Sĩ Tôn, Tiến sĩ, làm quan triều Hậu Lê.
  10. Hồ Phi Tích (Quỳnh Quận công), Tiến sĩ, Hoàng giáp, chức: Thượng thư Bộ binh, Bồi tụng (phó Tể tướng) thời Hậu Lê.
  11. Đàm Thị (phu nhân ông Hồ Phi Tích), bà có công đưa nghề lụa về làng
  12. Hồ Sĩ Tân, Tiến sĩ, làm quan triều Hậu Lê.
  13. Hồ Sĩ Đống, Tiến sĩ, Hoàng giáp, làm quan sứ giả triều Hậu Lê.
  14. Phan Hữu Tính, Tiến sĩ, làm quan triều Nguyễn.
  15. Hồ Sĩ Tuần, Tiến sĩ, làm quan triều Nguyễn.
  16. Văn Đức Giai, Tiến sĩ, làm quan triều Nguyễn.
  17. Nguyễn Sĩ Phẩm, Tiến sĩ, làm quan triều Nguyễn.
  18. Dương Thúc Hạp, Tiến sĩ
  19. Hồ Xuân Hương (Bà chúa thơ Nôm)
  20. Phạm Đình Toái, Cử nhân, làm quan triều Nguyễn. Tác giả: cuốn sách "Đại Nam - Quốc sử diễn ca", là người đứng ra xây dựng đình làng
  21. Hồ Phi Hội, Cử nhân, Tác giả: cuốn sách "Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên".
  22. Dương Quế Phổ (Bằng gì?)
  23. Hồ Bá Ôn, Phó bảng, Án sát thành Nam Định.
  24. Phan Duy Phổ, Phó bảng
  25. Hoàng Mậu, Phó bảng
  26. Lê Xuân Mai, Phó bảng
  27. Hồ Trọng Điền, Phó bảng
  28. Hoàng Huy Xán, Hàn Lâm Đại Chiếu.
  29. Dương Văn Lan, Cử nhân, Bí thư tỉnh ủy Quy Nhơn.
  30. Hồ Học Lãm, Cử nhân, Chủ nhiệm Biện sứ xứ Việt Minh hải ngoại.
  31. Hoàng Văn Hoan (Hoàng Ngọc Ân) nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội.
  32. Hồ Tùng Mậu (tức Hồ Bá Cự) Chí sĩ cách mạng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Thanh tra chính phủ.
  33. Hoàng Văn Hợp, Liệt sĩ cách mạng kháng chiến chống Pháp (1930-1931), nguyên Huyện ủy viên, huyện ủy Quỳnh Lưu.
  34. Phan Hữu Khiêm, nguyên Bí thư huyện ủy Quỳnh Lưu, đại biểu Quốc hội khóa I.
  35. Nguyễn Xuân Dương, đậu thủ khoa Luật đầu tiên, nguyên Chánh án Tòa án Hà Nội, đại biểu Quốc hội các khóa II, III và IV.
  36. Cù Chính Lan, Anh hùng LLVT nhân dân (chống Pháp).
  37. Hoàng Ngọc Nhân, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng.
  38. Hồ Viết Thắng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Lương thực - Thực phẩm.
  39. Lê Xuân Tương (tức Lê Huy Bảo), nguyên Phó ban thường trực Ban tổ chức Trung ương.
  40. Hoàng Ngọc Nhân, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng.
  41. Hồ Mỹ Xuyên, nguyên phó Bí thư tỉnh ủy Nghệ An.
  42. Dương Ngọc Võ, nguyên phó Bí thư tỉnh ủy Nghệ An, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Điện lực miền Bắc.
  43. Phan Cự Đệ, Giáo sư, Viện sĩ, Nhà giáo nhân dân, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu văn hóa quốc tế.
  44. Phan Cự Nhân, Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo nhân dân, nguyên phó Hiệu trưởng trường Đại học sư phạm Hà Nội
  45. Phan Cự Tiến, Giáo sư, Tiến sĩ, Viện sĩ hàn lâm quốc tế, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Địa chất khoáng sản quốc gia Việt Nam.
  46. Văn Như Cương, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Toán học, nguyên Ủy viên Hội đồng Giáo dục quốc gia Việt Nam, Hiệu trưởng Trường THPTDL Lương Thế Vinh, Hà Nội
  47. Hoàng Trung Thông, Nhà thơ, nguyên Viện trưởng Viện văn học Việt Nam.
  48. Dương Quân (Dương Tự Cường), Nhà thơ trào phúng.
  49. Dương Viên, Tổng thư ký Hội nghệ sĩ tạo hình Việt Nam, đại biểu Quốc hội khóa VIII. IX
  50. Phan Tam Đồng, phó Giáo sư, Tiến sĩ, nguyên Chủ tịch HĐQT - Tổng giám đốc Tổng công ty Muối Việt Nam.
  51. Nguyễn Xuân Dũng, Giáo sư, Tiến sĩ, Viện sĩ, nguyên phó Giám đốc Trung tâm giáo dục và phát triển sắc ký Việt Nam.
  52. Hồ Sĩ Bằng, nguyên Viện trưởng Viện quan hệ quốc tế, thuộc Viện Mác - Lê nin - Hồ Chí Minh.
  53. Hồ Như Hươn, nguyên phó Vụ trưởng, chuyên viên cao cấp Ban đối ngoại Trung ương.
  54. Hồ Sĩ Giàng, phó Vụ trưởng Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, nay là Văn phòng Chủ tịch nước.
  55. Nguyễn Văn Bàng, phó Giáo sư, Tiến sỹ, Nhà giáo ưu tú, Bác sĩ.
  56. Hoàng Văn Lân, phó Giáo sư, nguyên giảng viên khoa Lịch sử Đại học Vinh.
  57. Hồ Sĩ Giao, phó Giáo sư
  58. Nguyễn Như Thung, phó Giáo sư
  59. Dương Như Xuyên, phó Giáo sư
  60. Hồ Ngọc Luyện, phó Giáo sư
  61. Phan Đình Thắm, phó Giáo sư
  62. Phan Thị Tình, phó Giáo sư
  63. Hồ Trung Thông, phó Giáo sư
  64. Nguyễn Văn Bàng, phó Giáo sư
  65. Hồ Việt Hạnh, phó Giáo sư
  66. Hồ Sĩ Sơn, phó Giáo sư
  67. Hồ Trọng Hoài, phó Giáo sư
  68. Hồ Tố Lương, phó Giáo sư
  69. Hoàng Thị Thơ, phó Giáo sư
  70. Hoàng Nhật Tân, Tiến sĩ, Nhà sử học.
  71. Hồ Thị Xinh, Anh hùng lao động.
  72. Hồ Anh Dũng, nguyên Tổng giám đốc Đài truyền hình Việt Nam, đại biểu Quốc hội các khóa VIII, IX.
  73. Hồ Đức Việt, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tổ chức Trung ương, đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XII.
  74. Hồ Thị Kim Thoa, nguyên Thứ trưởng Bộ Công thương.
  75. Nguyễn An Vinh, nguyên Bí thư tỉnh ủy - Chủ tịch HĐND tỉnh Đắc Lắc, đại biểu Quốc hội khóa IX.
  76. Nguyễn Như Vỹ, nguyên phó Bí thư thường trực tỉnh ủy - Chủ tịch HĐND tỉnh Nghệ An, đại biểu Quốc hội các khóa IX, X.
  77. Phan Duy Dinh, nguyên Bí thư tỉnh ủy Tây Ninh và Bà Rịa - Vũng Tàu.
  78. Lê Xuân Thủy, nguyên phó Bí thư Đảng ủy Đặc khu Bà Rịa - Vũng Tàu.
  79. Hồ Sĩ Hành, nguyên phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai.
  80. Hồ Quang Hóa, Thiếu tướng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Mặt trận....? Quân tình nguyện VN tại CPC.
  81. Phạm Dũng Tiến, Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, nguyên phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật, Quân đội nhân dân Việt Nam.
  82. Hồ Sĩ Hậu, Thiếu tướng, nguyên Cục trưởng Cục kinh tế, Bộ Tổng tham mưu, Quân đội nhân dân Việt Nam.
  83. Hồ Anh Thắng, Thiếu tướng, Nhà báo, nguyên Giám đốc Trung tâm phát thanh, truyền hình Quân đội nhân dân, nguyên phó TBT Báo Quân đội nhân dân.
  84. Hồ Bá Vinh, Thiếu tướng, phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam.
  85. Hồ Sĩ Tiến, Thiếu tướng, nguyên Cục trưởng Cục cảnh sát điều tra hình sự, Bộ Công an.
  86. Hồ Quang Lợi, Đại tá, Nhà báo, nguyên phó TBT Báo QĐND, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo thành ủy Hà Nội, hiện nay là phó Chủ tịch thường trực, Hội nhà báo Việt Nam.
  87. Hồ Phi Phục, nguyên Trưởng ban Dân vận tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch UBMT Tổ quốc tỉnh Nghệ An.
  88. Hồ Xô Viết, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, Tổng biên tập báo Quốc tế, thuộc Bộ Ngoại giao.
  89. Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Bungari.
  90. Hoàng Hồ Thịnh, Đại sứ Việt Nam tại Mông Cổ.
  91. Hồ Ngọc Hải, nguyên phó Chủ tịch Viện KHXH & NV thuộc Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam.
  92. Hồ Anh Thái, Tiến sĩ Văn học, nguyên Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam, hiện nay là phó Đại sứ quán Việt Nam tại Indonexia.
  93. Hồ Đức Thành, nguyên phó Trưởng ban Tổ chức tỉnh ủy, nguyên Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An.
  94. Hồ Quang Thành, Giám đốc Sở Thông tin - Truyền thông tỉnh Nghệ An.
  95. Dương Huy (tức Phạm Duy Hương), nguyên Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Nghệ An, nguyên Tổng biên tập tạp chí Sông Lam.
  96. Hồ Anh Tài, Tổng biên tập báo Đại biểu nhân dân, thuộc Văn phòng Quốc hội.
  97. Hoàng Tân Hưng Tiến sĩ Hội họa.
  98. Phạm Thị Loan, Chủ tịch HĐQT - Tổng giám đốc Tập đoàn Việt Á, đại biểu Quốc hội khóa XI.
  99. ...

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]