Vĩnh Tường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Logo huyện Vĩnh Tường
Logovinhtuong.jpg
TT Vĩnh Tường.jpeg

Vĩnh Tường là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Vĩnh Tường nằm ở phía tây nam của tỉnh Vĩnh Phúc. Địa giới huyện Vĩnh Tường: phía đông giáp huyện Yên Lạc; phía tây giáp tỉnh Phú Thọ (thành phố Việt Trì) và thành phố Hà Nội (huyện Ba Vì); phía nam giáp thành phố Hà Nội (huyện Ba Vì, Phúc Thọthị xã Sơn Tây); phía bắc giáp thành phố Vĩnh Yên và huyện Lập Thạch.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có 29 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 3 thị trấn: Vĩnh Tường (huyện lị), Thổ Tang, Tứ Trưng và 26 xã: An Tường, Bình Dương, Bồ Sao, Cao Đại, Chấn Hưng, Đại Đồng, Kim Xá, Lũng Hòa, Lý Nhân, Nghĩa Hưng, Ngũ Kiên, Phú Đa, Phú Thịnh, Tam Phúc, Tân Cương, Tân Tiến, Thượng Trưng, Tuân Chính, Vân Xuân, Việt Xuân, Vĩnh Ninh, Vĩnh Sơn, Vĩnh Thịnh, Vũ Di, Yên Bình, Yên Lập.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Vĩnh Tường có diện tích đất tự nhiên 14.401,55 ha (141,899 km2), trong đó: đất nông nghiệp: 9.208,15 ha, đất phi nông nghiệp: 4.980,43 ha. Sau tái lập năm 1996 có số dân là 180.110 người. Đến năm 2010; dân số tăng lên: 196.886 người, trong đó: dân số đô thị: 26.031 người, dân số nông thôn: 170.855 người (theo Niên giám thống kê năm 2010 của Chi cục Thống kê huyện Vĩnh Tường).

Là một huyện đồng bằng nên mật độ dân số của Vĩnh Tường tương đối cao, năm 2004 là 1.346 người/km2 (cao hơn mức trung bình của tỉnh Vĩnh Phúc cùng thời điểm với 874 người/km2); đặc biệt ở khu vực nông thôn, năm 2010, mật độ dân số 1388 người/km2.

Vĩnh Tường là huyện có quy mô dân số lớn so với các huyện khác trong tỉnh. Tốc độ tăng dân số trong huyện không cao, chỉ khoảng 1,142%.

Về dân tộc: Dân tộc kinh 196.712 người, chiếm 99,91%; dân tộc Tày 103 người, chiếm 0,05%; dân tộc Thái 71 người, chiếm 0,04%.

Bảng: Dân số huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2004 - 2010

(Đơn vị: Người)

Năm

Dân số

2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Thành Thị 3.959 4.074 4.286 5.169 19.434 25.069 26.031
Nông thôn 187.275 189.480 191.306 192.081 179.484 164.096 170.855
Tổng 191.234 193.554 195.592 197.250 198.918 189.165 196.886

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Địa danh Vĩnh Tường được hình thành và thay đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử. Thời các Vua Hùng, Vĩnh Tường thuộc bộ Văn Lang. Dưới thời thuộc Hán, Vĩnh Tường thuộc quận Giao Chỉ. Sang thời thuộc Đường, Vĩnh Tường là trung tâm của vùng đất Phong Châu. Vùng đất ấy mang địa danh Vĩnh Tường phủ đặt từ năm Minh Mệnh thứ 3 (l822) triều Nguyễn. Đời xưa, có tên là Phong Châu với nghĩa là đỉnh vùng đất bãi - đỉnh tam giác của đồng bằng châu thổ sông Hồng.

Đời Trần gọi là Tam Đái lộ (Tam Đái). Đến cuối đời Trần đặt thành Tam Giang - lấy tên ngã ba sông Bạch Hạc mà đặt ra.

Thời thuộc Minh (1407-1427) gọi là châu Tam Đái.

Đời Lê Thánh Tông đặt là phủ Tam Đái, gồm 6 huyện: An Lãng, An Lạc (đời Nguyễn kiêng huý chữ “An”, đọc là "Yên"), Bạch Hạc, Tân Phong (về sau kiêng huý đổi gọi là "Tiên Phong"), Lập Thạch và Phù Ninh (Nhà Lê kiêng huý, đổi gọi là "Phù Khang").

Đến năm Cảnh Hưng thứ 3 (1742), cắt huyện Tiên Phong về phủ Quảng Oai, phủ Tam Đái chỉ còn 5 huyện (Yên Lãng, Yên Lạc, Bạch Hạc, Lập Thạch và Phù Khang). Đầu đời Gia Long, vẫn để nguyên như thế.

Năm Minh Mệnh thứ 2 đổi gọi là phủ Tam Đa.

Năm Minh Mệnh thứ 3 đổi gọi là phủ Vĩnh Tường.

Năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), cắt huyện Phù Ninh về phủ Đoan Hùng và lấy huyện Tam Dương của phủ Đoan Hùng thuộc về phủ Vĩnh Tường.

Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), cắt 2 huyện Yên Lãng, Yên Lạc lập thành phân phủ Vĩnh Tường, kiêm líhuyện Yên Lãng, thống hạt huyện Yên Lạc. Phủ Vĩnh Tường còn lại 3 huyện (Bạch Hạc, Lập Thạch và Tam Dương), kiêm lí huyện Bạch Hạc, thống hạt 2 huyện lập Thạch và Tam Dương.

Phủ thành Vĩnh Tường đặt ở địa phận xã Văn Trưng (nay là thị trấn Tứ Trưng). Đến năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), chuyển lên đặt ở 2 xã Bồ Điền, Huy Ngạc (này là thị trấn Vĩnh Tường).

Năm 1899, thực dân Pháp cho thành lập tỉnh Vĩnh Yên gồm phủ Vĩnh Tường và các huyện Yên Lạc, Tam Dương, Lập Thạch và Bình Xuyên. Lúc này, phủ Vĩnh Tường là một đơn vị độc lập thuộc tỉnh Vĩnh Yên gồm có 8 tổng (Đồng Phú, Đồng Vệ, Hưng Lục, Kiên cương, Lương Điền, Tăng Đố, Thượng Trưng, Tuân Lộ) với 78 làng xã.

Năm 1907, bỏ huyện Bạch Hạc (gồm 2 tổng Mộ Chu và Nghĩa Yên với 14 xã) nhập vào phủ Vĩnh Tường.

Năm 1927, phủ Vĩnh Tường gồm 10 tổng (Đồng Phú, Đồng Vệ, Hưng Lục, Kiên Cương, Lương Điền, Mộ Chu, Nghĩa Yên, Tăng Đố, Thượng Trưng và Tuân Lộ) với 85 làng xã. Trong đó, một số tổng và các làng xã ở Vĩnh Tường có ít nhiều thay đổi.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, phủ Vĩnh Tường đổi thành huyện Vĩnh Tường thuộc tỉnh Vĩnh Yên. Năm 1950, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa quyết định hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc. Huyện Vĩnh Tường được giữ nguyên. Thực hiện quyết định 178/CP ngày 5-7-1977 của Chính phủ, huyện Vĩnh Tường hợp nhất với huyện Yên Lạc thành huyện Vĩnh Lạc thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Ngày 7-10-1995, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định số 63/CP chia huyện Vĩnh Lạc thành hai huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc. Theo đó, huyện Vĩnh Tường được tái lập từ tháng 1-1996.

Năm 1996, thành lập thị trấn Vĩnh Tường - thị trấn huyện lị huyện Vĩnh Tường.

Năm 2007, chuyển xã Thổ Tang thành thị trấn Thổ Tang.

Năm 2009, chuyển xã Tứ Trưng thành thị trấn Tứ Trưng.

Hiện nay, sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, huyện Vĩnh Tường có 26 xã và 3 thị trấn. Đó là: thị trấn Vĩnh Tường, thị trấn Thổ Tang, thị trấn Tứ Trưng và 26 xã là: Kim Xá, Yên Bình, Chấn Hưng, Nghĩa Hưng, Yên Lập, Việt Xuân, Bồ Sao, Đại Đồng, Tân Tiến, Lũng Hòa, Cao Đại, Vĩnh Sơn, Bình Dương, Tân Cương, Phú Thịnh, Thượng Trưng, Vũ Di, Lý Nhân, Tuân Chính, Vân Xuân, Tam Phúc, Ngũ Kiên, An Tường, Vĩnh Thịnh, Phú Đa, Vĩnh Ninh.

Huyện lỵ đóng ở Thị trấn Vĩnh Tường.

Địa lý tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vĩnh Tường là huyện nằm ở đỉnh tam giác đồng bằng Bắc Bộ, nằm bên tả ngạn sông Hồng ở về phía Tây Nam của tỉnh Vĩnh Phúc. Bắc giáp huyện Lập Thạch và Tam Dương; Tây Bắc giáp thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tây giáp huyện Ba Vì, thị xã Sơn Tây (thành phố Hà Nội); đông giáp huyện Yên Lạc.

Vị trí địa lý của Vĩnh Tường nhìn chung rất thuận lợi cho phát triển kinh tế. Vĩnh Tường tiếp giáp với thành phố công nghiệp Việt Trì, thị xã Sơn Tây, cận kề với thành phố tỉnh lị Vĩnh Yên…Huyện có 9 tìm đường Quốc lộ 2A và 14 km đường Quốc lộ 2C chạy qua; đồng thời có hai ga hàng hoá đường sắt tuyến Hà Nội - Lào Cai (Bạch Hạc và Hướng Lại); về đường sông có hai cảng trên sông Hồng tại xã Vĩnh Thịnh và xã Cao Đại, có hai khu công nghiệp Chấn Hưng, Đồng Sóc và cụm KT-XH Tân Tiến đang được triển khai; có Đầm Rưng rộng khoảng 80 ha là trung tâm du lịch đầy tiềm năng trong tương lai…Những yếu tố đó mang lại cho Vĩnh Tường một vị trí khá quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, là điều kiện thuận lợi để nhân dân Vĩnh Tường tiếp cận, giao lưu, trao đổi hàng hoá, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội với các vùng lân cận:

Địa hình và thổ nhưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Vĩnh Tường là huyện đồng bằng, lại có hệ thống đê trung ương (đê sông Hồng và sông Phó Đáy với tổng chiều dài 30 km) che chắn cả 3 bề bắc - tây - nam, địa hình của huyện được chia thành 3 vùng khá rõ rệt…

Vùng đồng bằng phù sa cổ: ở các xã phía bắc và một phần phía tây bắc huyện. Đây là vùng tiếp nối của đồng bằng trước núi với đồng bằng châu thổ lớn đất màu mỡ ở đây tương đối mỏng, đa số đã bạc màu. Địa hình không bằng phẳng, ruộng cao xen ruộng thấp làm cho việc canh tác gặp nhiều khó khăn.

Vùng đất bãi nằm ngoài các con đê sông Hồng và sông Phó Đáy: chạy dọc suốt một dải phía bắc, tây bắc và phía tây của huyện. Đất ở đây màu mỡ do hàng năm được phù sa của các con sông bồi đắp tạo nên một vùng bãi rộng lớn và trù phú, rất phù hợp với các loại cây dâu, mía, cỏ voi, ngô, đậu và các cây rau màu khác.

Vùng đất phù sa châu thổ bên trong đê: nối liền miền đất phù sa cổ, kéo dài xuống phía nam, giáp huyện Yên Lạc. Địa hình khá bằng phẳng, thuận lợi cho điều tiết thuỷ lợi, tạo điều kiện để nhân dân thâm canh cây lúa ở trình độ cao.

Sự phân chia địa hình, thổ nhưỡng huyện Vĩnh Tường có ý nghĩa thực tiễn trong việc xác định hướng chuyển dịch cơ cấu của từng vùng, từng địa phương theo hướng sản xuất hàng hoá, đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp, hiện đại hoá nông thôn ở huyện Vĩnh Tường hiện nay. Sự phân chia ấy tạo cho ta một cách nhìn tổng thể địa hình, địa vật rất phong phú của một vùng quê với những xóm làng đông đúc, cây lá xanh tươi bốn mùa, với nhiều cảnh sắc tự nhiên tươi đẹp, một vùng đất "Sơn chầu thủy tụ”, "Địa linh nhân kiệt", tạo ra ấn tượng khó quên đối với những ai có dịp ghé thăm Vĩnh Tường.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Vĩnh Tường thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều. Nhưng do nằm khá sâu trong đất liền, đồng thời có sự che chắn của hai dãy núi: dãy Tam Đảo (phía Đông Bắc) và dãy Ba Vì (phía Tây) nên khí hậu ở Vĩnh Tường không quá khắc nghiệt và ít bị bão lốc đe dọa. Nhiệt độ trung bình trong năm là 23,60c.Giữa nhiệt độ trung bình tháng cao nhất với nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất chênh lệch 120C (có tháng nhiệt độ lên tới 28,80C nhưng có tháng nhiệt độ chỉ 16,80C.

Độ ấm trung bình trong năm là 82%. Lượng mưa trung bình 1.500 mm/năm với số ngày mưa trung bình là 133 ngày/năm. Mùa mưa thường từ tháng 4 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình là 189 mm/tháng; mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau với lượng mưa trung bình là 55 mm/tháng.

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Ba con sông chính chảy qua và bao quanh địa phận huyện Vĩnh Tường là sông Hồng, sông Phó Đáy và sông Phan.

Sông Hồng là ranh giới tự nhiên giữa Vĩnh Tường với huyện Ba Vì, thị xã Sơn Tây và huyện Phúc Thọ của Hà Nội. Sông Hồng cung cấp một lượng nước lớn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trong huyện. Mặt khác, sông bồi đắp phù sa, tạo nên những vùng đất màu mỡ, phì nhiêu.

Một phần sông Phó Đáy chảy qua huyện Vĩnh Tường, tạo ranh giới tự nhiên giữa Vĩnh Tường và Lập Thạch. Sông Phó Đáy có lưu lượng bình quân 23m3 giây; lưu lượng cao nhất là 833m3/giây; mùa khô kiệt, lưu lượng nước chỉ 4 m3/giây, có tác dụng cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp.

Sông Phan thuộc hệ thống sông Cà Lồ, chảy trong nội tỉnh. Sông Phan bắt nguồn từ núi Tam Đảo phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và một phần giao thông trong huyện. Về mùa khô, mực nước sông rất thấp, nhưng về mùa mưa, nước từ Tam Đảo đổ xuống nên mực nước khá cao, gây ngập úng nhiều nơi.

Nằm xen giữa những cánh đồng lúa, rau, màu là những đầm, ao, hồ khá rộng và đẹp mắt. Tiêu biểu là: Đầm Rưng, đầm Kiên Cương, đầm Phú Đa, vực Xanh, vực Quảng Cư…Ngoài tác dụng cho giá trị kinh tế từ nuôi thả cá, tôm, đầm ao hồ còn là nơi điều hòa nước, điều hòa khí hậu, hòa sắc với làng, xóm và cánh đồng lúa xanh, tạo nên bức tranh quê đẹp đẽ, hiền hòa.

Khách sạn Đông Phong.jpeg

Văn hóa - Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kì tiền sử[sửa | sửa mã nguồn]

Qua nhiều cuộc khai quật khảo cổ, đã xuất lộ nhiều di chỉ của người Việt trên đất Vĩnh Tường. Các di vật đào được đã minh chứng các di chỉ Lũng Hòa, Nghĩa Lập, Đồng Hương, Ma Cả, Gò Mát thuộc thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên, mở đầu cách đây vào khoảng 4000 năm, là thời kì văn hóa đồng thau phát triển rực rỡ trên đất Vĩnh Phúc.

Điểm đáng chú ý là trong tổng số 18 di chỉ văn hóa thời Phùng Nguyên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc đã được phát hiện và công bố, riêng huyện Vĩnh Tường đã có 07 di tích, trong đó di chỉ Lũng Hòa là điển hình nhất. Đó là di chỉ cư trú và mộ địa lớn, công cụ văn hóa thu được gồm có rìu bôn, đục, hoa tai, hạt chuỗi đá. Nhiều hiện vật gốm nguyên vẹn.

Trong đợt khai quật năm 1965, đã thu lượm được tổng số hiện vật đá là 430, hiện vật gốm nguyên là 89 trong đó có 21 nồi, 10 bát, 17 dọi xe sợi, 22 chạc gốm, cùng 12.642 mảnh gốm các loại. Phần lớn là loại gốm thô, hoa văn trang trí tiêu biểu cho giai đoạn muộn của văn hóa Phùng Nguyên. Cũng phát hiện được khá nhiêu xương răng, xương động vật, trong đó có xương gia súc như chó, lợn, trâu, bò, gà…

Thời kì sơ sử (văn hóa Đông Sơn)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, trong hơn 20 di chỉ đã xuất lộ ở xã Nghĩa Lập phát hiện được 02 chiếc mai đá kích thước lớn thuộc thời đại kim khí. Đó là thời đại có cơ sở vật chất hạ tầng để hình thành nhà nước Văn Lang thống nhất 15 bộ cùng trong cộng đồng lãnh thổ, thời của các vua Hùng dựng nước (cách 700 năm trước công lịch).

Nhiều địa phương thuộc huyện Vĩnh Tường hiện đang còn lưu giữ rất nhiều di tích thờ cúng các vua Hùng và các vị tướng lĩnh thời Hùng Vương gắn với phong tục tập quán cùng các lễ hội cổ truyền.

Xã Bồ Sao, Việt Xuân có đền thờ vị thần là con thứ 25 của Lạc Long Quân và âu Cơ, đã có công trị thủy ở cửa sông Lô, sông Đáy bảo vệ làng xóm, ruộng đồng. Hội làng nơi đây có tục “tung bông”, "tung gươm" tính giao lưỡng hợp, rước bó mạ và hội xuống đồng (thời có chữ Hán gọi là "hạ điền") trước cửa đền vào tháng 05 mở đầu mùa mưa thuận lợi cho cấy trồng cây lúa nước.

Xã Đại Đồng (gồm cả 02 làng Bích Đại - Đồng Vệ) thờ vị Thành Hoàng làng là tướng Đinh Thiên Tích, theo bản khai sự tích của làng, ông là vị tướng ở thời Hùng Vương thứ 06, có công đánh đẹp giặc ân dưới thời Hùng Huy Vương. Trong làng còn giữ được nhiều tục cổ không bị phong kiến hóa như không phải kiêng kị gì khi làm ăn, khi đọc nói, không có tế lễ gì riêng. Về húy của Thành Hoàng, trong khi tế lễ có ai nhầm lỗi điều gì thì xưa nay dân làng cũng châm chước không có phạt vạ gì.

Ở Vĩnh Tường còn có hội "tung vông" để cầu đinh, tục hội "trâu rơm, bò rạ" đều diễn ra trong tháng giêng của năm để cầu mùa. Tục thờ sinh thực khí nam như thờ cây dứa dại ở đền ông; và 07 viên đá ở miếu Bà thuộc về xã Tứ Trưng; Những tục hội như "kéo co", “hú đáo” ở xã Lũng Hòa, hội bắt vịt trong ao, bắt chạch trong chum ở Tứ Trưng, Thượng Trưng, lễ cầu tằm ở Vĩnh Ninh, Bàn Mạch, tục săn Cuốc ở làng Huy Ngác, múa đao đánh gậy ở Tam Phúc, Tứ dân chi nghiệp ở Đại Đồng, Lễ hội xuống đồng ở Hoàng xá, thi bơi chải ở Phú Đa, thi vật ở Nghĩa Hưng, Yên Bình…Đó đều là những dấu ấn mang đậm nét văn hóa.

Các thời kì sau[sửa | sửa mã nguồn]

Nền kinh tế nông nghiệp và xã hội huyện Vĩnh Tường phát triển liên tục và bền vững trong bối cảnh quốc gia ngày càng cường thịnh. Xã hội nông nghiệp trong nhiều trăm năm đã sớm hình thành các vùng chuyên canh theo diện mạo thổ nhưỡng và quy luật cung cầu, làm thành những vùng có "đặc sản" như xã Thượng Trưng, Tuân Chính có đầm sen, hoa sen, hạt sen; xã Bồ Sao, Hòa Loan có củ đậu; làng Đông Viên Thổ Tang, Cam Giá có dưa hấu, cà xanh.

Từ kinh tế làng nghề, chợ búa xuất hiện. Huyện Vĩnh Tường xưa có các chợ lớn chép trong sách Địa chí như: Chợ Thổ Tang (tục gọi chợ Giang), xuất xứ là chợ chuyên mua bán trâu bò ở xã Thổ Tang; Chợ Vòng ở làng Tuân Lộ (nay thuộc xã Tuân Chính); Chợ Me ở làng Phủ Yên (nay thuộc xã Yên Lập); Chợ Trục ở làng Hưng Lục (nay thuộc xã Nghĩa Hưng); Chợ Chùa ở làng Kiên Cương (nay thuộc xã Ngũ Kiên); Chợ Rưng thuộc làng Văn Trưng (xã Tứ Trưng). Chợ tường thuộc làng Dẫn Tự xã Tân Cương; Chợ Đa thuộc xã Phú Đa; Chợ Điền thuộc làng Lương Điền xã Bình Dương; Chợ Kiệu thuộc làng Hưng Lại xã Chấn Hưng…

Trên bình diện của đời sống xã hội vùng "đỉnh" châu thổ ấy, Vĩnh Tường thực sự là điểm “tụ nhân” sơ khai khi con người đến khai thác đồng bằng Bắc Bộ. Ấy là nói (và viết) theo như thuật ngữ "địa linh", để rồi bồi tụ nên lớp trí thức Vĩnh Tường qua các đời, mà trở thành các "nhân kiệt" vùng này:

Hiện nay trong huyện còn 155 di tích. Trong đó có 55 ngôi đình, 67 ngôi chùa. Sổ còn lại là đền, miếu.Đã có 18 di tích xếp hạng di tích cấp Quốc gia.

Về kiến trúc, đặc biệt có ngôi đình Thổ Tang, chùa Hoa Dương (Tuân Chính) và ngôi đền đá Phú Đa là đặc sắc nhất.

Đình Thổ Tang: Xây dựng vào thế kỷ 16. Cấu trúc theo lối chữ "Đinh", phần thượng cung không còn, nay chỉ còn lại một tòa đại đình có năm gian hai dĩ, theo kiểu "tú trụ làng thuyền" với 60 chiếc cột. Đường kính của các cột cái là 0,8m của cột quân là 0,61m. Toàn công trình có chiều dài 25,8m, rộng 14,2m. Nền đình bó bằng đá xanh xung quanh.

Trong đình hiện còn 21 bức trạm gỗ có giá trị cao về văn hóa và nghệ thuật. Nhất là bức “ngày hội xuống đồng”, “bắn hổ” “đá cầu”, “đánh gen”...miêu tả khá khái quát các sinh hoạt xã hội của nông thôn thời kỳ ấy.

Chùa Hoa Dương (Tuân Chính) được xây dựng năm Chính Hòa thứ nhất (1680) theo lối kiến trúc chữ (I). Chùa có 7 gian, thượng điện 5 gian; tiền đường, nhà cổ 3 gian. Hai bên hành lang có 15 gian làm nơi đón tiếp và dừng chân cho du khách thập phương.

Theo truyền thuyết kể lại, đây chính là khu đất có địa thế hình con Rùa. Ở chùa Hoa Dương nghệ thuật điêu khắc được chú ý tới từng đường nét, từng chi tiết. Các phù điêu trên gỗ, đá, đồng hầu như còn giữ nguyên vẹn; hai mươi bộ hoành phi câu đối, mười tám bộ cuốn thư, trương nhĩ, cửa khám, nghi môn, tòa Cửu Long…Mang đậm nét kiến trúc dân gian phải kể đến cây hương cổ bằng đá, có chiều cao 1,70 được lập năm Chính hòa (1680). Đặc biệt là quả chuông đồng được đúc vào năm Minh mạng thứ bảy (1826) phản ánh trình độ nghệ thuật cũng như kỹ nghệ đúc đồng của ông cha ta.

Đền đá Phú Đa: Gọi là đền đá vì vật liệu chủ yếu xây dựng là đá xanh và gỗ lim. Dựng vào đời vua Lê Cảnh Hưng (1740- 1786).

Đền gồm 02 tòa nhà song song xếp theo hình chữ “nhị”. Đây là ngôi đền còn nhiều di vật đá nhất trong số các di tích của tỉnh Vĩnh Phúc. Có tới 48 tác phẩm bằng đá, được sắp xếp theo yêu cầu thờ tự. Từ cổng đền, qua sân đền tới nhà tiền đường rồi nhà thờ chính như cột trụ, chó đá, rồng đá, tượng võ sĩ bằng đá, ngựa đá, voi đá, sư tử đá, chậu đá, bàn tẩn đá, án gian đá, bát hương đá, bia đá, xập đá, ngai thờ…tất cả đều làm bằng đá. Với mức độ đục chạm công phu, tỉ mỉ bằng những đường nét tuyệt đẹp đáng kể nhất như các ngôi tượng võ sĩ, tượng voi đứng chầu ở sân đền.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, văn hóa Vĩnh Tường hết sức trì trệ, lạc hậu. Sau cách mạng tháng Tám, thực hiện đời sống mới, các hủ tục ma chay cưới xin được đơn giản hóa. Tệ nạn hút thuốc phiện bị nghiêm cấm. An ninh, trật tự làng xóm được tăng cường. Hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng rất phong phú. Đây là nét đẹp trong đời sống văn hóa của nhân dân dưới chế độ mới.

Sang những năm 1947- 1948, hoạt động văn hóa thông tin được phát triển lên một bước mới. Huyện chỉ đạo in ấn các bản tin phát cho cơ sở, kẻ vẽ nhiều khẩu hiệu, áp phích cổ động các phong trào thi đua trong công cuộc củng cố xây dựng chính quyền. Phòng thông tin huyện xuất bản các bản tin hàng tháng, nhiều xã ra báo tường phản ánh các hoạt động của địa phương. Đặc biệt, các đội văn nghệ với các vở diễn theo tích tuồng, chèo cổ và tự biên, phản ánh đời sống, sản xuất ở các xã, được nhân dân nồng nhiệt hưởng ứng. Tuy trong những năm chiến đấu chống giặc Pháp tái chiếm, nền văn hóa có trầm lắng xuống vì phải tập trung sản xuất và chiến đấu bảo vệ xóm làng chống lập tề, các cơ quan cấp huyện phải lui vào hoạt động bí mật hoặc di tản đến vùng tự do. Song văn hoá cách mạng và kháng chiến vẫn không ngừng mạch chảy, mà tập trung cao độ vào phục vụ chiến đấu, với bộ đội địa phương đại đội Lê Xoay làm tiêu biểu.

Hòa bình lập lại, văn hóa Vĩnh Tường bắt đầu khởi sắc nhưng chủ yếu tập trung vào chủ đề xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ ngụy ở miền Nam.

Trong thời kỳ chống Mỹ, việc xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh được chú trọng. Ngay từ cuối năm 1954, phong trào xây dựng đời sống mới văn minh được nhân dân hưởng ứng đông đảo. Một số xã lập đội văn nghề, tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân. Trong năm 1959, huyện thành lập được hai đội văn nghệ nghiệp dư ở xã Đội Cấn và xã Thái Học. Các đội đã xây dựng chương trình đi biểu diễn phục vụ nhân dân trong huyện. Nhiều xã khác cũng quan tâm chỉ đạo thành lập đội văn nghệ quần chúng để tổ chức hoạt động vào các dịp lễ lớn.

Giai đoạn Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, hoạt động văn hóa tinh thần của huyện vẫn được quan tâm. Nhiều xã và hợp tác xã xây dựng phòng đọc sánh, tạo nên phong trào đọc và làm theo sách báo. Riêng trong năm 1967 có 110.000 cuốn sách và 387 tờ báo các loại được đưa về các xã và hợp tác xã. Ngành chiếu bóng tích cực phục vụ nhân dân. Năm 1968, chiếu 552 tối cho 448.616 lượt người xem. Phong trào văn nghệ quần chúng cũng phát triển khá mạnh. Năm 1968, toàn huyện có 20 đội văn nghệ, 30 nhóm ca hát, 35 câu lạc bộ hoạt động thường xuyên. Đến cuối năm 1971, toàn huyện đã có trên 3.000 hộ đăng ký phấn đấu trở thành gia đình văn hóa.

Sau khi đất nước thống nhất (1975), hoạt động văn hóa văn nghệ càng có điều kiện phát triển. Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa kết hợp với phong trào thể dục thể thao như bơi lội, bóng chuyền, bóng đá mở rộng trong các địa phương. Năm 1985, huyện Vĩnh Lạc (nay là Vĩnh Tường và Yên Lạc) đã tổ chức Đại hội Thể dục thể thao ở cơ sở, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên.

Hiện nay, công tác Văn hóa - Thông tin huyện Vĩnh Tường ngày càng phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ; mỗi xã, thị trấn đều chọn từ 1 đến 2 thôn làng, tổ dân phố làm điểm, khi có kết quả tốt sẽ nhân ra toàn xã. Đến hết năm 2010, toàn bộ các xã, làng chỉ đạo điểm đều đạt tiêu chuẩn làng văn hoá, góp phần quan trọng vào công tác phát triển phong trào ở 29/29 xã, thị trấn, đưa số hộ gia đình, thôn đạt tiêu chuẩn văn hoá tăng dần lên hàng năm.

Về xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao: 100% xã, thị trấn đã dành đất cho các thiết chế văn hoá, thể thao.

Bên cạnh các giá trị văn hóa hiện đại, các giá trị văn hóa truyền thống được giữ gìn và phát huy. Toàn huyện hiện có 155 di tích, trong đó 18 di tích xếp hạng cấp Quốc gia; 33 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Các di tích, lễ hội dân gian truyền thống đều được bảo tồn, các di tích lịch sử văn hoá được tăng cường kiểm tra, hướng dẫn quản lý, bảo quản, chống xuống cấp kịp thời. Nhiều di tích được nhân dân đóng góp xây dựng với số vốn lớn như chùa Tùng Vân (Thổ Tang) gần 5 tỷ đồng, chùa Vân Ô (Vân Xuân) hơn 3 tỷ đồng, chùa Hoà Lạc (Tân Cương) hơn 20 tỷ…

Giáo dục - Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Vĩnh Tường là vùng quê văn hiến, nơi có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Từ nhiều đời nay, nơi đây đã có nhiều danh nhân đỗ đạt cao được khắc bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc Tử Giám từ thế kỷ XIII, XIV. Cụ thể:

Có 23 tiến sĩ nho học và 01 phó bảng triều Nguyễn.

Người thành đạt sớm nhất là ông Nguyễn Văn Chất (1421 -?), người thôn Vũ Di xã Vũ Di. Ông thi đỗ Hoàng giáp (sau là Đệ nhị giáp tiến sĩ) khoa Mậu nhìn niên hiệu Thái Hòa năm thứ 06 đời vua Lê Nhân Tông (1448), danh sách đang còn trên bia Văn Miếu Hà Nội. Ông làm quan tới chức thượng thư Bộ Hộ, về chí sĩ, ông có hiệu là Nhuệ Hiên tiên sinh. Ông có biên soạn thêm bốn chuyện vào tập sách "Việt điện u linh" của Lý Thế Xuyên soạn năm 1329, trở thành một danh sỹ nổi tiếng.

Sau ông còn có 22 tiến sĩ khác, các ông cũng rất nổi tiếng như ở đời Mạc có ông Bùi Hoàng (1505- 1592) người xã Thượng Trưng thi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Đại Chính thứ 09 đời vua Mạc Dăng Dung danh sách còn trên bia Văn Miếu Hà Nội. Ông Phí Văn Thuật, người xã Thượng Trưng dự kỳ thi hương ở Sơn Tây đỗ danh sách thứ nhất (Hội nguyên). Năm sau Canh Thìn (1640) vào dự kỳ thi Hội, qua 04 kì ông vượt lên đỗ đâu hội nguyên Hội", rồi dự kỳ Văn Sách, ông lại đỗ đầu Đình nguyên Hoàng giáp. Đến khi vào dự kỳ làm thơ ứng chế (thơ nhà vua ra đề), bài của ông được chấm thứ nhất. Người đời suy tôn là ông "Tứ nguyên" (04 lần đều đỗ đầu).

Ông Nguyễn Tiến Sách (sau đổi là Dình Sách) người làng Văn Trưng xã Tứ Trưng thi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị thứ tám đời vua Lê Huyền Tông. Từng được cử làm phó sứ sang nhà Thanh điều trần về việc quan hệ giữa hai nước ở vùng biên cương. Ông còn là nhà thơ, nay còn 34 bài thơ chép trong sách “Toàn việt thi lục của tác giả Lê Quý Đôn".

Ông Tô Thế Huy người làng Bình Đăng (nay là thôn Bình trù xã Cao Dạy thi đỗ tiến sĩ khoa Đinh Sửu niên hiệu Chính hòa 18 (1697) đời vua Lê Hy Tông. Ông được tặng phong chức thượng thư bộ Công, là người tôi trung với nước, hiếu với gia đình. Có đôi câu đối ca ngợi ông:

Quốc trung thần, gia hiếu tử, thiên hạ hoàn nhân.

Văn tiến sỹ, võ quận công triều đình hiển họa.

Tạm dịch:

Bề tôi trung của nước, con hiếu trong gia đình, ông là người trọn vẹn trong thiên hạ.

Văn đỗ tiến sĩ, võ tới quận công, là vị quan vinh hiển chốn triều đình.

Đó là những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.

Vĩnh Tường còn có 37 vị thi Hội đỗ Tam trường (tam trường thi Hội), có 191 vị thi đỗ trung khoa (hương Tiến - hương Cống) cử nhân đời Nguyễn. Các xã như Văn Trưng, Thế Trưng, Thượng Trưng, Bình Trù xếp vào thứ nhất trong hàng ngũ đỗ đạt.

Đồng thời, Vĩnh Tường cũng là huyện có số lượng các thư tịch đồ sộ, tới 320 văn bản là bia ký ở di tích các làng, xã. Gồm có: Bia đình có 39 tấm; Bia chùa có 200 tấm; Bia đền, miếu, từ đường, sinh từ, lăng mộ 42 tấm Bia văn chỉ, vũ chỉ có 14 tấm; Bia cầu, bến đò, quán, điểm, ngõ, chợ, cổng làng có 25 tấm; Có 39 quả chuông ở các di tích và 11 chiếc khánh trong đó có 02 chiếc khánh tạo bằng nguyên liệu đá.

Thực tế đó là một lượng thông tin khá đầy đủ và đa chiều về lịch sử phát triển và đời sống xã hội của phủ Vĩnh, là thành tựu đặc sắc của nền văn hiến phủ Vĩnh.

Thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, ở Vĩnh Tường có rất ít trường học, chỉ có cấp tiểu học, giáo dục gần như không phát triển. Việc học hành chủ yếu dành cho con em những gia đình khá giả, còn tuyệt đại đa số nhân dân phải chịu cảnh mù chữ.

Phong trào Bình dân học vụ, thực hiện chiến dịch diệt giặc dốt được mở rộng khắp toàn huyện. Xã nào cũng lập ra Ban Bình dân học vụ, tổ chức các lớp học với nhiều hình thức dạy chữ linh hoạt. Các xã Đại Đồng, Thượng Trưng, Vũ Di…được đánh giá là có thành tích xuất sắc về xóa nạn mù chữ.

Hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), Vĩnh Tường tiến hành khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với các ngành khác, giáo dục trong huyện cũng được quan tâm phát triển. Các xã đẩy mạnh xây dựng, củng cố trường lớp, học sinh phổ thông tăng dần qua mỗi năm. Đến năm 1957, toàn huyện có hơn 7.000 học sinh, trong đó học sinh cấp 11 có gần 1.000 em. Phong trào Bình dân học vụ tiếp tục được phát triển và phát huy hiệu quả.

Đến cuối năm 1965, huyện hoàn thành vượt mức kế hoạch bổ túc văn hóa 5 năm lần thứ nhất, được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Hai năm học 1973 - 1974 và 1974 - 1975, cả ba cấp học của huyện có trên 800 lớp học với 34.000 học sinh, tỷ lệ tốt nghiệp trung bình của cấp I là trên 80%, cấp II là trên 60%, cấp III là trên 50%.

Những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, quy mô giáo dục đã được mở rộng, đa dạng ở tất cả các cấp học, ngành học. Năm 2008, toàn huyện có tổng số 100 trường học các cấp, trong đó có 30 trường mầm non, 34 trường tiểu học, 30 trường THCS và 6 trường THPT. Đến năm 2010, toàn huyện có trên 100 trường học các cấp, trong đó có 31 trường Mầm non, 34 trường Tiểu học, 30 trường Trung học cơ sở và 6 trường Trung học phổ thông, 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên 01 Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị, 01 Trung tâm dạy nghề tổng hợp ở các xã đều có Trung tâm học tập cộng đồng. (Tính đến hết năm 2012, toàn huyện có 79/101 trường đạt chuẩn Quốc gia, trong đó có 23/31 trường MN = 74,2%, 33/34 trường TH = 97,1%, 20/30 trường THCS = 66,6%, 3/6 trường THPT = 50%). Nhìn chung, với số lượng trường học trên đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của con em toàn huyện.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Pháp thuộc, y tế của huyện hầu như không được phát triển. Trong huyện không có bệnh viện khám chữa cho nhân dân, việc chữa bệnh chủ yếu nhờ vào các phương thuốc dân gian của các thầy lang.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hoạt động y tế huyện được tăng cường dưới chính quyền cách mạng. Đội ngũ vệ sinh viên tới tận các thôn xóm trong toàn huyện, trở thành lực lượng tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân giữ vệ sinh, phòng bệnh. Được sự giúp đỡ của Tỉnh ủy, huyện đã lập phòng khám chữa bệnh với một số thiết bị, dụng cụ y tế và thuốc men. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, trang thiết bị thiếu thốn, song đây cũng là một bước tiến của y tế huyện, đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của nhân dân.

Những năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ, mạng lưới y tế từ huyện xuống xã tiếp tục được xây dựng và củng cố. Từ chỗ toàn huyện chỉ có một bệnh xã nhỏ đã phát triển thành bệnh viện huyện với hơn 30 giường bệnh. Các trạm y tế ở tất cả các xã được mở rộng. Năm 1967, đã khám bệnh cho 45.355 người, chữa bệnh cho trên 13.000 người. Phong trào vệ sinh phòng bệnh được đẩy mạnh với trọng tâm là xây dựng nhà tắm, giếng nước và nhà tiêu. Năm 1975, một số trạm xá xã như Vũ Di, Lũng Hòa, Thổ Tang, Tuân Chính, Thượng Trưng…đã biết kết hợp Đông - Tây y trong điều trị bệnh có kết quả. Công tác vận động sinh đẻ có kế hoạch đạt hiệu quả, tỷ lệ tăng dân số của huyện giảm, năm 1973 là 3,7%, năm 1974 còn 3,3%.

Những năm thực hiện đường lối đổi mới, sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân của ngành y tế huyện Vĩnh Tường đã có những bước phát triển rất đáng kể, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu và nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho nhân dân.

Trang thiết bị phục vụ y tế được tăng cường đầu tư, nâng cấp. Phong trào xây dựng xã đạt Chuẩn quốc gia về y tế đã và đang phát triển. Đến năm 2008, toàn huyện đã có 100% xã được công nhân đạt Chuẩn quốc gia về y tế. Trên 93% số xã có bác sĩ.

Từ năm 2009-2010, huyện Vĩnh Tường là một trong những huyện dẫn đầu về công tác y tế của tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện tại, huyện có một Phòng y tế là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện. Bệnh viện Đa khoa huyện ngày càng được mở rộng với 200 giường bệnh được trang bị đầy đủ về trang thiết bị, có đội ngũ chuyên môn khá đáp ứng được hầu hết các nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Ngoài ra, huyện cũng xây dựng thêm hai phòng khám đa khoa khu vực và một phòng khám đa khoa tư nhân; một trung tâm y tế chuyên làm công tác y tế dự phòng, một trung tâm dân số KHHGĐ chuyên làm công tác tuyên truyền về các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân số; một Trung tâm Vệ sinh an toàn thực phẩm với chức năng chính là làm nhiệm vụ tuyên truyền về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, thanh tra, kiểm tra và thẩm định các cơ sở chế biến và kinh doanh thực phẩm đủ điều kiện thì cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm. Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình và các chương trình mục tiêu y tế Quốc gia được quan tâm thực hiện tốt.

Cơ sở vật chất của các trạm y tế được nâng cấp khang trang, trang thiết bị được đầu tư. Các cán bộ y tế thường xuyên được cử đi học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từ huyện đến xã. Tính đến năm 2009, 100% trạm y tế các xã, thị trấn có bác sỹ, đủ cán bộ theo cơ cấu.

Tổng số cán bộ y tế trong toàn huyện hiện nay là 370 cán bộ, trong đó có 55 bác sỹ (không tính số bác sỹ đã nghỉ hưu và bác sỹ tư nhân), bình quân 1 bác sỹ/3,5 nghìn dân (đạt tỷ lệ cao nhất trong toàn tỉnh và cả nước). 100% các thôn đều có nhân viên y tế và cộng tác viên dân số.

Công tác khám chữa bệnh ngày càng được chú trọng. Bình quân mỗi người dân được khám bệnh 2 lần/năm. Công tác khám và điều trị y học dân tộc với y học hiện đại luôn được kết hợp. Hiện nay, 100% các xã, thị trấn có vườn thuốc nam mẫu. Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt 100%; Tỷ lệ trẻ em 6-36 tháng tuổi dược uống Vitamin A đạt 100%; Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 13,5%; Tỷ lệ bà mẹ mang thai được tiêm AT đầy đủ 100%; Số cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai đạt từ 85- 87%. Trong các năm từ 2003 đến 2011, tỷ lệ sinh ở huyện Vĩnh Tường luôn duy trì ở mức ổn định, năm 2003 ở mức 1.74% đến năm 2011 là 1,73%; tỷ lệ tử là 0,51; tỷ lệ phát triển dân số là l,27%; Tuổi thọ trung bình đạt: 73 tuổi; Tỷ lệ sử dụng nước hợp, tỷ lệ này giảm mạnh ở các năm 2004, 2005 (cả hai năm đều đạt 1.66%); tỷ lệ công trình vệ sinh đạt 100%, trong đó tự hoại là 40% còn lại là hai ngăn.

Kinh tế Vĩnh Tường qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ Pháp thuộc, nền kinh tế Vĩnh Tường phát triển chậm, nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Hơn nữa, do Vĩnh Tường là nơi lắm thóc, đông dân của tỉnh Vĩnh Yên nên thực dân Pháp càng đẩy mạnh quá trình vơ vét. Chúng thực hiện chính sách trưng thu, tăng thuế…làm cho đời sống của người dân đã cơ cực càng thêm điêu đứng.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, nền kinh tế Vĩnh Tường phát triển chậm, nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Hơn nữa, do Vĩnh Tường là nơi lắm thóc, đông dân của tỉnh Vĩnh Yên nên thực dân Pháp càng đẩy mạnh quá trình vơ vét. Chúng thực hiện chính sách trưng thu, tăng thuế…làm cho đời sống của người dân đã cơ cực càng thêm điêu đứng.

Các ngành nghề thủ công: dệt vải, rèn sắt... còn tồn tại thưa thớt ở một vài hộ gia đình; các chợ buôn bán mọc lên lẻ tẻ với quy mô nhỏ hẹp trong từng thôn, làng.

Cách mạng tháng Tám thành công, thực hiện Chỉ thị kháng chiến, kiến quốc của Đảng và Chính phủ, Vĩnh Tường đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Nhiều xã đã vận động thực hiện giảm tô 25%, tiến hành điều chỉnh lại ruộng đất công cho những gia đình có ruộng và lập quỹ đất để mở trại tăng gia, sản xuất, lập ra các đội tuần tra ở nhiều xã ven sông Hồng, chỉ đạo nhân dân khắc phục hậu quả lũ lụt, sửa chữa mương máng, tưới tiêu, cải tạo đồng ruộng. Công tác đắp đê, phòng lụt được quan tâm, đời sống nhân dân được cải thiện…

Nhiều ngành nghề thủ công vẫn được duy trì, cung cấp những mặt hàng thiết yếu cho kháng chiến và đời sống. Hàng trăm lò ép mía nấu mật ở xã Vĩnh Thịnh được phục hồi, nghề mộc ở Bích Chu, nghề rèn ở Thùng Mạch, Lý Nhân phát triển.

Các chợ vẫn được mở để phục vụ cho nhu cầu mua bán trao đổi của nhân dân như: Chợ Giang ở Thổ Tang, chợ Rưng ở Tứ Trưng...

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, huyện Vĩnh Tường đứng trước nhiều khó khăn. Chiến tranh đã tàn phá mảnh đất này rất nặng nề. Trên toàn huyện có tới 70% nhà cửa bị đốt phá, một số xã như Bình Dương, Ngũ Kiên, Đại Đồng... bị tàn phá tới 90%, hơn 3.000 mẫu ruộng bị bỏ hoang, trong đó có hơn 1.000 mẫu là vành đai trắng, nhiều nơi còn có bom, mìn. Hệ thống kênh mương bị phá hoại, gây khó khăn cho cấy trồng, hàng nghìn con trâu, bò bị giết. Xóm làng xơ xác, điêu tàn.

Nhân dân Vĩnh Tường đã từng bước khắc phục khó khăn, vượt qua gian khổ, vững bước đi lên trong thời kỳ mới.

Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đến tháng 12- 1954, hơn 500 mẫu ruộng hoang hóa ở xã Kim Xá được đưa vào sản xuất; nhân dân Tuân Chính, Minh Đức (nay là xã Thượng Trưng), Ngũ Kiên đưa hơn 1.000 mẫu ruộng vào cày cấy. Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), ngành nông nghiệp huyện Vĩnh Tường có những nét khởi sắc. Nhiều mô hình điển hình tiên tiến về sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh như phong trào làm phân xanh (làm bèo hoa dâu) ở Phù Lập (xã Tam Phúc); phong trào năng suất lúa 5 tấn ở xã Tuân Chính. Kết quả, vụ chiêm xuân năm 1962 đạt 39.047 mẫu, vượt kế hoạch 1,7%, tăng 2,1% so với năm 1961. Ngày 25- 11- 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Hợp tác xã Lạc Trung, xã Bình Dương, điển hình tiên tiến của phong trào trồng cây toàn tỉnh.

Từ năm 1973 đến năm 1975, nhân dân Vĩnh Tường phát triển sản xuất, đẩy mạnh phát triển kinh tế. Năm 1973, tổng diện tích gieo trồng toàn huyện đạt 18.12 ha, năng suất lúa đạt 6.292 kg/ha, tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 43.063 tấn.

Thời kỳ xây dựng đất nước (1975 -2010), diện tích cây trồng luôn duy trì sản xuất ổn định trên 20 nghìn ha. Năng suất cây trồng không ngừng tăng. Đặc biệt cây lúa, năng suất từ 34,65 tạ/ha (1996) tăng lên 58,42 tạ/ha (2005).

Năm 2010, năng suất lúa đạt 60,46 tạ/ha, tăng 25,81 tạ/ha so năm 1996. Tổng sản lượng lương thực năm 2010 đạt 96.820 tấn, tăng 35.861 tấn so năm 1996. Bên cạnh đó năng suất các cây trồng khác không ngừng tăng. Nguyên nhân đó chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

Về phong trào HTX nông nghiệp, các HTX NN trên địa bàn huyện được xây dựng và phát triển từ những năm 1960. Cả huyện có hơn 100 HTX được xây dựng theo quy mô thôn, làng, khu vực. Các HTX NN thời kỳ 1960-1975, đã có nhiều đóng góp về sức người, sức của để góp phần vào thắng lợi của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ những năm 1974-1975, các HTX NN theo mô hình thôn, làng, khu vực đã được sát nhập để thành lập theo quy mô toàn xã theo chính sách của Đảng và nhà nước. Tuy nhiên, đến thời kỳ từ năm 1986-1988, thực hiện Nghị Quyết 10 của BCH TW Đảng (Khóa VI), nhiều HTX NN đã chia tách từ quy mô toàn xã thành các HTX NN theo quy mô thôn, làng, khu vực. Từ năm 1997 đến nay, thực hiện luật HTX NN trên địa bàn huyện đã chuyển đổi về mô hình và phương thức để hoạt động theo luật. Thẹo đó, hướng hoạt động chủ yếu là làm các dịch vụ theo yêu cầu của hộ gia đình xã viên. Hiện tại, trên địa bàn huyện có 38 HTX NN (Trong đó: Có 11 HTX quy mô toàn xã và 27 HTX NN quy mô thôn).

Trên lĩnh vực CN- TTCN- XD:

Sau năm 1954, huyện Vĩnh Tường tiến hành cải tạo công - thương nghiệp, xây dựng các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp nghề mộc, nghề rèn... Giai đoạn 1965 - 1968, sản xuất thủ công nghiệp có bước phát triển nhanh, mạnh. Một số cơ sở như xưởng cơ khí, xí nghiệp nước chấm, xí nghiệp vôi, bánh kẹo... được xây dựng và phát triển quy mô, sản xuất ra nhiều sản phẩm phục vụ cho sản xuất và đời sống. Các hợp tác xã sản xuất gạch ngói với sản lượng 20 triệu viên mỗi năm. Nhiều hợp tác xã có tổ rèn, mộc, cơ khí. Đến năm 1968, giá trị sản lượng của thủ công nghiệp trong các hợp tác xã tăng gấp tám lần, giá trị sán lượng của thủ công nghiệp huyện tăng gấp bốn lần so với năm 1966.

Nhiều hợp tác xã mua bán được xây dựng. Cuối năm 1958 có 16.389 xã viên tham gia hợp tác xã mua bán với 18.203 cổ phần. Nhiều mặt hàng tiêu dùng: vải vóc, dầu, muối; mặt hàng quý: xe đạp, phích nước...được buôn bán. Hoạt động của các hợp tác xã mua bán đã thu hút 26.850 xã viên với 79.000 đồng vốn cổ phần, có 28 cửa hàng ở các xã, một số hợp tác xã mua bán điển hình như: Việt Xuân, Bồ Sao, Yên Bình…

Công việc sửa chữa đường giao thông được chú trọng. Các trục đường chính từ huyện đi các xã Tân Cương, Cao Đại, Tứ Trưng được sửa chữa thuận tiện cho Ô tô đi lại. Các cầu cống như: cầu Hương, cầu Quan cũng được tu bổ...

Tổng số cơ sở sản xuất CN - TTCN toàn huyện là 2.567 cơ sở, trong đó tập thể có 19 cơ sở, tư nhân có 24 cơ sở, cá thể 2.523 cơ sở và có 1 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài. Các mặt hàng chủ yếu bao gồm: Chế biến nông sản, thực phẩm, may mặc, vật liệu xây dựng, nông cụ cầm tay, nông sản, sản phẩm của nghề mộc. ..

Giai đoạn từ 2000-2010 được coi là thời kỳ mang tính đột phá trong thực hiện mục tiêu KT- XH của huyện Vĩnh Tường. Giá trị sản xuất năm 2010 ước đạt 2.300 tỷ đồng, tăng gấp 5,5 lần so với năm 2000. Đặc biệt, từ năm 2006, Vĩnh Tường khai  thác tốt các tiềm năng nội lực, tạo mức tăng trưởng kinh tế bình quân 23,7%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 5,2 triệu đồng năm 2005 lên 15,6 triệu đồng năm 2010. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994) từ 133.365 triệu đồng (năm 2006) tăng lên 839.014 triệu đồng (năm 2010), tăng 705.649 triệu đồng; trong đó: Công nghiệp khai thác mỏ (khai thác cát, sỏi): từ 676 triệu đồng (năm 2006) tăng lên 8.452 triệu đồng (năm 2010); Công nghiệp chế biến (Chế biến thực phẩm, đồ uống, sản xuất tơ tằm, chế biến và sản xuất từ tre nứa, gạch ngói, phế liệu sắt thép, bao bì đựng hàng...): tăng từ 132.689 triệu đồng (năm 2006) lên 818.563 triệu đồng (năm 2010).

Các làng nghề truyền thống tiếp tục được duy trì và ngày càng phát triển: Đến nay, huyện có 07 làng nghề (làng nghề rèn Bàn Mạch, mộc Vân Giang, mộc Văn Hà của xã Lý Nhân; làng nghề mộc Bịch Chế móc Thủ Độ xã An Tường; làng nghề rắn xã Vĩnh Sơn; làng nghề cơ khí, vận tải biệt An xã Việt Xuân) và có 07 Nghệ nhân(trong đó có 02 nghệ nhân cấp quốc gia) và 41 thợ giỏi đã được UBND tỉnh Vĩnh Phúc công nhận.

Lĩnh vực Thương mại - Dịch vụ: Trong 5 năm (2005-2010), tốc độ tăng trưởng của ngành thương mại - dịch vụ đạt 32,7% (đứng thứ 2 về tốc độ tăng trưởng sau công nghiệp - xây dựng), đã làm thay đổi đáng kể cơ cấu tỷ trọng các ngành kinh tế; Điểm nhấn quan trọng nhất trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ là thị trấn Thổ Tang, đây được coi là điểm sáng" của cả nước về hoạt động buôn bán, giao lưu trao đổi hàng hóa, nhất là về mặt hàng nông sản. Đến nay, dự án xây dựng Chợ đầu mối nông sản thực phẩm, hệ thống kho vận Vĩnh Tường đã được quy hoạch. Năm 2010, Chi hội Doanh nghiệp Vĩnh Tường được thành lập với mục tiêu, nhiệm vụ gắn kết giữa các doanh nghiệp phát triển trong hợp tác kinh doanh, làm cầu nối giữa Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học và người dân để có những định hướng phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy việc phát triển kinh tế chung của huyện.

Về phát triên giao thông:

Huyện có mạng lưới giao thông đường bộ tương đối hoàn chỉnh, trong đó có các tuyến như: quốc lộ 2A, quốc lộ 2C; tỉnh lộ 304, 309; đường sắt thành phố Hà Nội - Lào Cai chạy qua. Điều này thuận tiện cho việc lưu thông tiêu thụ nông sản, hàng hoá của huyện. Bên cạnh đó, hệ thống của các sông Hồng, sông Đáy, sông Lô cũng góp phần làm cho việc giao thông đường thuỷ thêm thuận tiện.

Thực hiện công cuộc đổi mới, Vĩnh Tường luôn chú trọng xây dựng các công trình hạ tầng quan trọng. Hệ thống đường bộ được phân bổ tương đối phù hợp đường Ô tô đến được tất cả các xã, thị trấn. Tổng số chiều dài đường bộ là 1.209,44 km, đường giao thông nông thôn (GTNT) chiếm 88% với 1.066,74 km, trong đó đường xã là 86,07 km, đường thôn là 192,5 km, đường xóm là 287,97 km, đường giao thông nội đồng là 500,2 km.

Được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, phong trào làm đường GTNT giai đoạn 2007-2010 đạt 49% giá trị đề án, đưa tổng số đường GTNT được xây dựng cứng hóa giai đoạn 2007-2010 là 174,84 km. Trong đó, đường xã cứng hóa 100%, đường thôn cứng hoá 92%, đường xóm ngõ cứng hóa 96%, đường nội đồng cứng hóa đạt 22%. Xây dựng GTNT đã góp phần quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH, khắc phục được tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển KT-XH, đời sống văn hóa ở nông thôn, từng bước nâng cao cuộc sống của người dân.

Cùng với những thành tích đã đạt được trong phong trào xây dựng GTNT, từ năm 2007 đến nay, huyện Vĩnh Tường là đơn vị có thành tích xuất sắc và được tặng cờ thi đua của Chính phủ (năm 2006 và năm 2008),Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (năm 2009), Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc (năm 2007), Cờ thi đua xuất sắc của UBND tỉnh (năm 2010). Vĩnh Tường luôn được đánh giá là huyện dẫn đầu về đầu tư xây dựng, phát triển giao thông trên địa bàn tỉnh.

Hiện nay, huyện đang tiếp tục triển khai việc quy hoạch cụm công nghiệp, các cụm kinh tế xã hội để góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng.

Giới thiệu tuyến du lịch huyện Vĩnh Tường[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyến du lịch Vĩnh Yên - Đầm Rưng - Mộc Bích Chu - Rèn Lý Nhân - Đình Thổ Tang - Làng rắn Vĩnh Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thủ đô Hà Nội đi khoảng 1giờ 30 phút đồng hồ là tới trung tâm Thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc. Từ đây du khách đi chừng 20 km dọc theo quốc lộ 2A rẽ trái theo đường 305 đường tỉnh lộ Vĩnh Yên – Vĩnh Tường để đi thăm các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá, làng nghề truyền thống của huyện Vĩnh Tường.

1. Đầm Rưng

Đầm Rưng – Tứ Trưng – Vĩnh Tường

Nằm cách thị trấn Vĩnh Tường khoảng 2 km về phía Tây Bắc, cách trung tâm Thành phố Vĩnh Yên khoảng 22 km về phía Tây Nam. Đầm Rưng là do dòng sông Kỳ Giang đổi dòng tạo nên. Đầm rộng khoảng 330 mẫu, là nơi cung cấp nguồn thuỷ sản cho cả vùng, có tác dụng điều hoà không khí. Xung quanh có nhiều cây xanh, giữa đầm là một hòn đảo nhỏ. Đứng trên đảo khi chiều đến, mặt trời dần tắt bóng để lại những vệt đỏ trên mặt nước gợn sóng, từng đàn chim gọi nhau về tổ, những con cò trắng về trú ngụ trên những bụi tre ven đầm tạo nên một cảnh quan du lịch khá hấp dẫn. Du khách có thể bơi thuyền du ngoạn trên mặt đầm. Ở đây du khách ghé thăm đền Đức Ông, một danh Tướng dưới thời Lý Cao Tông, có công đánh giặc Ai Lao giữ gìn biên ải bình định non sông, được Vua ban cho nhiều ấn tín và nhân dân lập đền thờ.  

2. Làng Mộc Bích Chu

Nằm ở vùng đất bãi bên bờ sông Hồng thuộc xã An Tường - Vĩnh Tường, là làng nghề đã tồn tại cách ngày nay khoảng 300 năm. Nằm cách trung tâm thị trấn Vĩnh Tường khoảng 4 km dọc theo quốc lộ 2C. Bích Chu như một nét nhấn trong bức tranh tổng thể của làng quê Vĩnh Phúc. Từ rất lâu, Bích Chu nổi tiếng về kỹ thuật làm đồ gỗ với những nét chạm trổ, đục đẽo tinh xảo, làm ra những sản phẩm đồ gỗ dân dụng như tủ, giường, bàn ghế, sập gụ tủ chè…và những đồ gỗ có giá trị mỹ thuật cao gồm các tượng bày ở điện thờ, đình miếu, những bức đại tự sơn son thiếp vàng…Đây có thể coi là một làng nghề truyền thống tiêu biểu mang đậm nét đặc trưng văn hoá truyền thống thu hút được sự quan tâm, mến mộ của du khách.

Mộc Bích Chu

3. Rèn Lý Nhân

Rời làng mộc Bích Chu đi khoảng gần 2 km theo đường đê bao Sông Hồng xin mời du khách tới tham quan nghề rèn Lý Nhân. Nghề rèn thuộc xã Lý Nhân – Vĩnh Tường. Ở Lý Nhân hầu như nhà nào cũng gắn liền với nghề rèn. Làng rèn Lý Nhân xưa có tên là làng Thùng Mạch nay là Bàn Mạch. Chợ thùng mạch là nơi buôn bán tấp nập, khách hàng nhiều nơi đã tới đây mua buôn các sản phẩm của làng.

Rèn Lý Nhân

 Rèn Lý Nhân là một làng nghề tồn tại từ lâu đời ở Vĩnh Phúc. Tương truyền xưa kia làng Lý Nhân là một làng ăn chơi có tiếng, những ngày nông nhàn người dân không biết làm gì chỉ tụ tập rượu chè, cờ bạc. Có một lần Quan Quận Công về làng, trông thấy làng sóm sơ xác tiêu điều, ông đã trực tiếp mở lò rèn và đón thợ giỏi về dạy cho nhân dân biết cách rèn dao, quốc, xẻng…. Làng rèn Lý Nhân có từ đó và tồn tại cho đến ngày nay. Dụng cụ sản xuất là bễ lò rèn, búa, kìm, dao gọt sắt… sản phẩm của làng rèn Lý Nhân là búa, liềm, dao, kìm…đã được đem đi bán ở nhiều nơi trong và ngoài tỉnh.

4. Đình Thổ Tang

Sau khi tham quan làng rèn Lý Nhân, tiếp tục đi theo đường đê bao Sông Hồng khoảng 4 km, qua Phú Đại, Tân Cương là đến Đình Thổ Tang. Đình ở làng Thổ Tang, xã Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường. Đình thờ Lân Hổ Đô Thống Đại Vương, một vị tướng có công đánh giặc Nguyên Mông thời nhà Trần. Đình được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII theo kiểu chữ đinh, gồm một phần hậu cung và một toà 5 gian. Hậu cung đã bị hư hỏng nhưng mới được tu sửa lại. Toà đại đình còn tương đối nguyên vẹn với 60 chiếc cột. Nền dài 25,8m, rộng 14,2m, bó đá xanh chung quanh.

Đình Thổ Tang có dáng dấp cổ nhất trong các ngôi đình hiện còn ở Vĩnh Phúc và cũng là ngôi đình đậm đà tính dân tộc trong chạm trổ trên gỗ. Đình hiện còn 21 bức chạm, trong đó có nhiều bức có giá trị cao về nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật biểu hiện. Tiêu biểu là bức “ngày hội xuống đồng” chạm trên một kẻ nghé  ở hè đình ngay sau cửa ra vào, dài 1,5m, rộng 0,70m, 25 nhân vật trên tác phẩm đều được chạm bong sinh động, phản ánh ngày hội xuống đồng đầu năm của nhân dân ta thủa trước.

Đình Thổ Tang Vĩnh Tường

Thể hiện nhiều đề tài hiện thực, các nghệ sỹ điêu khắc dân gian đã tỏ nỗi cảm thông sâu sắc với tình cảnh của nhân dân, đả kích xã hội phong kiến một cách tế nhị. Bức “cảnh đánh ghen” diễn tả thân phận phụ nữ xưa một cách sinh động: một người đàn ông đang bá vai một người đàn bà, một chị khác săm săm bước tới đấm vào gáy người đàn bà kia. Những cảnh đi cày, chăn trâu, khiêng cá, nghỉ ngơi sau buổi làm đồng…phản ánh các mặt sinh hoạt bình dị, tươi vui của nhân dân. Những cảnh bắn hổ, đấu vật, đá cầu thế hiện tinh thần thượng võ của dân tộc.

Với kỹ thuật tinh vi và điêu luyện, chạm khắc ở đình Thổ Tang đã miêu tả khái quát được phần nào cuộc sống làm ăn và sinh hoạt của nhân dân ta, vừa có giá trị về mỹ thuật lại vừa có giá trị về nội dung phản ánh có tính tư tưởng cao.

Đình Thổ Tang đã được Bộ Văn hoá Thông tin ghi vào Danh mục di tích lịch sử văn hoá ngày 13/1/1964 và cấp bằng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia ngày 17/2/1990.

5. Làng rắn Vĩnh Sơn

Từ Đình Thổ Tang, du khách đi qua ngã ba chợ Thổ Tang rồi rẽ trái, khoảng 2 km là đến làng rắn Vĩnh Sơn

 

Rắn Vĩnh Sơn – Vĩnh Tường

Xã Vĩnh Sơn năm ở trung tâm thị trấn Vĩnh Tường, cách Quốc lộ 2 khoảng 3 km về phía nam, diện tích tự nhiên khoảng trên 327ha, có 14 dòng họ sinh sống  với 1078 hộ và khoảng trên 5000 nhân khẩu. Có dòng sông Phan nằm ở phía Tây Nam xã, chảy theo hướng Tây Đông nằm trong vùng văn minh lúa nước Sông Hồng.

Vĩnh Sơn xưa có tên gọi là Sơn Tang và theo dân gian truyền lại còn có tên Hai Nước. Người dân Vĩnh Sơn chủ yếu sinh sống bằng nghề làm ruộng và chăn nuôi rắn. Đây là nghề truyền thống của xã từ bao đời nay. Nếu như con rắn đối với đa số mọi người là nỗi sợ hãi thì ở đây chúng như những người bạn của mỗi gia đình. Trong các thư tịch cổ đã nhắc tới Sơn Tang là một làng săn bắt rắn lớn nhất Bắc Bộ.

Ngày xưa từ việc Săn bắt rắn, người dân Vĩnh Sơn đã biết chăn nuôi thuần dưỡng các loại rắn độc và chế biến các sản phẩm từ rắn như: nuôi rắn để làm thịt, chế biến rượu rắn, cao rắn…, kinh nghiệm đó được duy trì và truyền lại cho đến ngày nay. Có thể nói con rắn đối với người dân Vĩnh Sơn rất quan trọng, bởi vì ngoài giá trị làm vị thuốc để chữa bệnh và bồi bổ sức khoẻ rắn còn có giá trị về kinh tế đem lại nguồn thu cao, tạo công ăn việc làm cho người dân của xã.

Ngày 24/11/2006 Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc ký quyết định số3120/QĐ-UBND về công nhận làng nghề rắn Vĩnh Sơn đạt tiêu chuẩn làng nghề truyền thống.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Cổng thông tin điện tử Huyện Vĩnh Tường