Tam Đảo (huyện)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Tam Đảo

Huyện
Emblem of Tamdao District.png
Logo huyện Tam Đảo
Phong cảnh Tam Đảo.JPG
Khu du lịch Tam Đảo nằm ở thị trấn Tam Đảo
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Hồng
TỉnhVĩnh Phúc
Huyện lỵthị trấn Hợp Châu
Phân chia hành chính3 thị trấn, 6 xã. Tam Đảo có kế hoạch lên Thị Xã vào năm 2025
Thành lập2003
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDLưu Đức Long
Chủ tịch HĐNDTrần Thái Sơn
Bí thư Huyện ủyPhó Văn Chiến
Địa lý
Tọa độ: 21°23′37″B 105°37′0″Đ / 21,39361°B 105,61667°Đ / 21.39361; 105.61667Tọa độ: 21°23′37″B 105°37′0″Đ / 21,39361°B 105,61667°Đ / 21.39361; 105.61667
Diện tích234,76 km2[1]
Dân số (1/4/2019)
Tổng cộng83.931 người[1]
Mật độ355 người/km²
Khác
Websitetamdao.vinhphuc.gov.vn

Tam Đảohuyện cực bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Một góc thị trấn Tam Đảo

Huyện Tam Đảo nằm ở phía bắc tỉnh Vĩnh Phúc, gần ngã ba ranh giới của tỉnh Vĩnh Phúc với hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên. Địa giới hành chính huyện Tam Đảo:

Bản đồ huyện chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam, dọc theo dãy núi Tam Đảo. Huyện Tam Đảo là một huyện miền núi, nằm trên phần chính, phía tây bắc của dãy núi Tam Đảo, nơi bắt nguồn của sông Cà Lồ (sông này nối với sông Hồngsông Cầu). Trên địa bàn huyện có ngọn núi Tam Đảo cao 1.310 m, nằm ở xã Hồ Sơn. Diện tích tự nhiên của huyện là 23.641,60 ha (236,42 km²), trong đó có hơn 120 km² là thuộc vườn quốc gia Tam Đảo.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010 dân số của toàn huyện Tam Đảo là 71.528 người, mật độ dân số trung bình là 303 người/km², trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 41,9%. So với các huyện, thành phố khác trong tỉnh Vĩnh Phúc, Tam Đảo là một trong các huyện có mật độ dân số thấp. Mật độ dân số không đều giữa các xã trong huyện, tập trung cao ở các xã vùng thấp và thưa thớt tại vùng thị trấn Tam Đảo, các thôn, xóm vùng ven núi của các xã vùng đồng bằng.

Tính đến ngày 1/4/2019 dân số của huyện là 83.931 người, mật độ dân số trung bình là 355 người/km².

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Tam Đảo có 9 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 3 thị trấn: thị trấn Hợp Châu (huyện lỵ), Đại Đình, Tam Đảo và 6 xã: Bồ Lý, Đạo Trù, Hồ Sơn, Minh Quang, Tam Quan, Yên Dương.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 15 năm tái lập, các chỉ tiêu kinh tế xã hội của huyện đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tích cực đúng hướng, năm 2004 tỉ trọng Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ lần lượt là 70% - 9% - 21%, năm 2013 cơ cấu chuyển dịch là 45,05% - 22,51 - 32,44%.Tốc độ tăng trưởng bình quân sau 10 năm tái lập đạt 18,5%/năm. Tổng thu ngân sách đạt 40,1 tỷ (năm 2004) tăng lên 413 tỷ (năm 2013). Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 124,8 tỷ (2004) tăng lên trên 1.000 tỷ đồng năm 2013. Giá trị sản xuất ngành du lịch đạt 70,4 tỷ (2004) tăng lên 724,6 tỷ đồng năm 2013. Chú trọng sản xuất các loại rau quả có lợi thế như rau su su, măng tre, bí ngô, công nghiệp chú trọng các ngành công nghiệp ít gây ô nhiễm. Độ che phủ rừng đạt 60% năm 2004 tăng lên trên 90% năm 2018.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khu du lịch Tam Đảo ở thị trấn Tam Đảo

Huyện Tam Đảo cũ được thành lập theo Quyết định số 178-CP ngày 5 tháng 7 năm 1977 của Hội đồng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất huyện Lập Thạch với huyện Tam Dương. Riêng 2 xã Định Trung và Khai Quang của huyện Tam Dương sáp nhập vào thị xã Vĩnh Yên.

Ngày 26 tháng 2 năm 1979, tái lập huyện Lập Thạch; đồng thời tiếp nhận 14 xã, 1 thị trấn (vốn thuộc huyện Bình Xuyên cũ) của huyện Mê Linh cắt sang.

Khi đó huyện Tam Đảo trực thuộc tỉnh Vĩnh Phú, gồm thị trấn nông trường Tam Đảo và 31 xã: An Hòa, Bá Hiến, Đại Đình, Đạo Đức, Đạo Tú, Đồng Tĩnh, Duy Phiên, Gia Khánh, Hồ Sơn, Hoàng Đan, Hoàng Hoa, Hoàng Lâu, Hợp Châu, Hợp Hòa, Hợp Thịnh, Hướng Đạo, Hương Sơn, Kim Long, Minh Quang, Phú Xuân, Quất Lưu, Sơn Lôi, Tam Canh, Tam Hợp, Tam Quan, Tân Phong, Thanh Lãng, Thanh Vân, Thiện Kế, Trung Mỹ, Vân Hội.

Ngày 11 tháng 1 năm 1996, giải thể xã Tam Canh để thành lập thị trấn Hương Canh; giải thể thị trấn nông trường Tam Đảo, địa bàn nhập vào các xã Trung Mỹ, Minh Quang; thành lập thị trấn Tam Dương trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các xã Hợp Thịnh và Vân Hội.

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập từ tỉnh Vĩnh Phú cũ, huyện Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.

Đến cuối năm 1997, huyện Tam Đảo có 2 thị trấn: Hương Canh, Tam Dương và 30 xã: An Hòa, Bá Hiến, Đại Đình, Đạo Đức, Đạo Tú, Đồng Tĩnh, Duy Phiên, Gia Khánh, Hồ Sơn, Hoàng Đan, Hoàng Hoa, Hoàng Lâu, Hợp Châu, Hợp Hòa, Hợp Thịnh, Hướng Đạo, Hương Sơn, Kim Long, Minh Quang, Phú Xuân, Quất Lưu, Sơn Lôi, Tam Hợp, Tam Quan, Tân Phong, Thanh Lãng, Thanh Vân, Thiện Kế, Trung Mỹ, Vân Hội.

Ngày 9 tháng 6 năm 1998, huyện Tam Đảo tách trở lại thành 2 huyện Tam Dương và Bình Xuyên. Như vậy đến thời điểm này, huyện Tam Đảo cũ không còn tồn tại.

Huyện Tam Đảo mới thành lập theo Nghị định số 153/2003/NĐ-CP ngày 9 tháng 12 năm 2003 của chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở tách 3 xã: Yên Dương, Đạo Trù, Bồ Lý của huyện Lập Thạch; 4 xã: Đại Đình, Tam Quan, Hồ Sơn, Hợp Châu của huyện Tam Dương; xã Minh Quang của huyện Bình Xuyên và thị trấn Tam Đảo của thị xã Vĩnh Yên.[2] Huyện lỵ đặt tại xã Hợp Châu.

Ngày 10 tháng 1 năm 2020, chuyển 2 xã Hợp Châu và Đại Đình thành 2 thị trấn có tên tương ứng.[3]

Huyện Tam Đảo có 3 thị trấn và 6 xã như hiện nay.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

1. Thiên nhiên đa dạng và thơ mộng[sửa | sửa mã nguồn]

Cách đây khoảng 230 triệu năm, vào giữa kỷ Trias,  hoạt động núi lửa phun trào các lớp nham thạch chồng lấn nhau đã hình thành nên dãy Tam Đảo với các loại đá tạo núi chủ yếu là Riolit pocfia, penzit và các tuf của chúng. Trên Tam Đảo có nhiều suối và thác nước, trong đó nổi tiếng là Thác Bạc có độ cao chừng 50m, ngay cả vào mùa khô vẫn ào ào tung bọt trắng. Địa hình dốc, nên hệ thực vật ở đây khá đa dạng và rất nhanh thay đổi theo độ cao.

Càng lên cao, các loài cây thuộc họ lá kim càng nhiều, cảnh rừng chuyển dần sang xen lẫn các mảng sắc màu đỏ, vàng của những cây rừng ôn đới đang mùa thay lá. Từ trên cao, cảnh sắc thiên nhiên cho du khách chợt cảm về một cảnh quê nơi miền ôn đới nào đó. Ở Tam Đảo cũng có rất nhiều loại rau, quả, củ của miền khí hậu lạnh. Chúng được trồng không những cho nhu cầu tiêu thụ tại chỗ mà còn  là nguồn cung cấp chính cho thành phố Vĩnh Phúc và Hà Nội.

Mật độ dân số trung bình ở Tam Đảo là khoảng 303 người/km2, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 41,9%. chủ yếu là Sán Dìu, Tày Nùng, Cao Lan… Phân bố dân cư không đều giữa các vùng, tập trung đông đúc ở vùng đồng băng thấp và thưa thớt tại vùng núi cao.

Từ lâu, Tam Đảo đã là một địa danh quen thuộc và là một điểm đến hấp dẫn của khách du lịch trong và ngoài nước với khu nghỉ mát thanh lịch, đậm nét Châu Âu giữa vùng Bắc Bộ.  Bao quanh thị trấn Tam Đảo là  rừng nguyên sinh, có khí hậu trong sạch, mát mẻ, nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 18 °C, có phong cảnh núi non hùng vĩ, bao quát cả một vùng đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn là điều kiện rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái.

Khu nghỉ dưỡng Tam Đảo đã được người Pháp tìm ra và xây dựng từ 1902-1906, đến năm 1940, Tam Ðảo đã là một “đô thị” trên núi cao với 145 tòa nhà, biệt thự cao cấp, lộng lẫy; trong số này có tới 60 biệt thự với kiến trúc theo nhiều kiểu cách khác nhau. Nay, nhiều biệt thự xưa không còn, song cũng đã có thêm nhiều công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, khách sạn, nhà nghỉ, khu vui chơi mới được xây dựng gần đây.

Mỗi năm, Tam Đảo đón hàng trăm ngàn lượt khách trong nước và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng, nghiên cứu… Ở Tam Đảo còn có khu vườn Quốc Gia, là tài sản quý của cả nước, có nhiều lợi ích cho cộng đồng cư dân trong vùng.

Vườn được che phủ bởi một lớp thảm thực vật dày đặc, nhiều tầng và đa dạng về loài, đa dạng về quần xã sinh học và hệ sinh thái. Số liệu điều tra của Viện sinh thái tài nguyên sinh vật, Đại học quốc gia Hà Nội; Đại học Lâm nghiệp và một số cơ quan, tổ chức khác cho thấy ở Tam Đảo có 904 cây có ích, thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành dương xỉ, hạt trần và hạt kín. Các loài cây này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau. Trong các loài thực vật, có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn và bảo vệ như: Hoàng thảo Tam Đảo (Dendrobium daoensis), trà hoa dài (Camellia longicaudata), trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii), hoa tiên (Asarum petelotii), chuỳ hoa leo (Molas tamdaoensis), trọng lâu kim tiền (Parisdelavayi)...

Về khu hệ động vật, có 840 loài động vật, trong đó có 39 loài đặc hữu. 8 loài đang nguy cấp, 17 loài sẽ nguy cấp, 13 loài hiếm có và 18 loài đang bị đe dọa. Vườn còn đem lại giá trị to lớn trong việc bảo vệ môi trường,  điều tiết và cung cấp nước, phục vụ nghiên cứu khoa học và  phục vụ cho du lịch và nghỉ dưỡng, cung cấp lâm sản, dược liệu... Đây là khu vực có tính đa dạng sinh học cao, là kho dự trữ các nguồn gen động thực vật quý hiếm của nước ta. Nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá này cần được bảo vệ để góp phần làm phong phú tính đa dạng sinh học của Việt Nam và thế giới.

Tam Đảo cũng là nơi có nhiều di tích văn hóa nổi tiếng như chùa Tây Thiên và đền Tây Thiên (còn gọi Đền Mẫu). Nhà thờ Đá ở Tam Đảo cũng là điểm thu hút khách du lích, đặc là người nước ngoài. Đầu thế kỷ 20, người Pháp đã lên Tam Đảo và xây dựng một thị trấn ở đây làm nơi nghỉ mát cho các quan chức của chính quyền đô hộ. Tổng cộng có 163 ngôi biệt thự kiến trúc châu Âu đã được xây dựng, tuy ngày nay, một số đã đổ nát. Song, cũng đang có nhiều nhà nghỉ và khách sạn mới được xây dựng thêm. Không những nổi tiếng là khu du lịch nghỉ mát,Tam Đảo còn tự hào có một sự đa dạng về bản sắc văn hóa của  đồng bào các dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn như người Kinh, Sán Dìu, Tày, Nùng, Cao Lan..vv.

2. Huyền bí và linh thiêng[sửa | sửa mã nguồn]

Tam Đảo tự hào không những là một điểm nghỉ mát được đông đảo du khách trong và ngoài nước biết đến. Tam Đảo cũng tự hào là nơi gìn giữ những di sản văn hóa thiêng liêng gắn với đời sống tinh thần của bao thế hệ cha ôngi, đó là khu di tích Lịch sử văn hóa và danh thắng  Tây Thiên. Nơi, truyền thuyết kể rằng có đền thờ nữ chúa Tam Đảo Lăng Thị Tiêu. Bà là người đã có công giúp vua trong buổi đầu dựng nước và giữ nước nhà nước Văn Lang. Bà kết duyên với vua Hùng thứ sáu (Hùng Huy Vương 1712 - 1632 TCN) và  góp phần xây dựng nhà nước Văn Lang [3,4].. Từ đó, liên tiếp các triều đại phong kiến sau này đều có sắc phong suy tôn bà là "Tây Thiên Quốc Mẫu, Thượng đẳng phúc thần” hiệu là “Tam Đảo sơn trụ Quốc Mẫu”.

Trong Từ điển Bộ Lễ nhà Lê, bà được xếp thứ hai sau Tản Viên Sơn Thánh, được vinh phong là: “Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Tối Linh Đại Vương”. Đền thờ bà tọa lạc trên núi Thạch Bàn cùng với chùa Tây Thiên, nên cũng còn được gọi là đền Thượng Tây Thiên. Hiện nay, trải qua nhiều lần xếp hạng, đến năm 2015, khu di tích này đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia đặc biệt.

Theo nhà nghiên cứu Lê Kim Thuyên, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện có 54 ngôi đền, đình thờ Bà. Chỉ riêng tại xã Đại Đình, huyện Tam Đảo đã có tới 8 ngôi đền lớn thờ Quốc Mẫu gắn với câu chuyện lịch sử về sự sinh ra và hóa thân của Bà [3]. Trong đó, có một só di tích tiêu biểu như:

Đền Mẫu Sinh. Đền thuộc thôn Đông Lộ xã Đại Đình huyện Tam Đảo, với khuôn viên trên diện tích khoảng 2 316 m2. Trước đó, tài liệu năm 1763 có ghi là đình thôn Đông Lộ (thuộc xã Đại Điền, huyện Tam Dương, trấn Sơn Tây). Song, do biến động xã hội, đình này bị phá hủy. Sau này, khi việc thờ cúng Quốc mẫu được phục hồi, nhân dân địa phương đã xây dựng thành ngôi đền thờ Quốc Mẫu và thân phụ, thân mẫu của bà. Tương truyền đây là nơi sinh ra Quốc Mẫu Tây Thiên với tục danh là Lăng Thị Tiêu.

Đền Mẫu Hóa. Đền thuộc thôn Sơn Phong xã Đại Đình, có khuôn viên diện tích khoảng 9 040 m2 . Trước đây đền có tên gọi là Đình Tổng (thuộc Tổng Đông Lộ). Tương truyền nơi đây là nơi hóa thân của Quốc Mẫu  Tây Thiên. Cạnh cổng Đền còn có giếng Mộc dục là nơi Quốc Mẫu tắm gội trước khi hóa thân về trời. Theo các cụ bô lão trong làng giếng nước không bao giờ cạn kể cả những năm hạn hán, trước đây giếng được kè bằng đá cuội, đến năm 1997 các cụ phụ lão trong làng huy động nhân dân xây dựng lại để bảo vệ. Trong Đền còn có long ngai bài vị ghi bằng chữ hán “ Tam Đảo sơn trụ Quốc Mẫu đại vương”

Đền Ngò. Ngôi đền nằm dưới tán những cây gỗ lim xanh cổ thụ,thuộc thôn Sơn Đình xã Đại Đình, với khuôn viên diện tích chừng 2 804m2. Tương truyền đây là nơi Quốc Mẫu Tây Thiên đã tổ chức tuyển quân và huấn luyện dân binh để giúp vua Hùng đánh đuổi giặc Thục Hán. Hiện nay, trong Đền vẫn còn lưu giữ tấm bia đá “Tạo lập bi ký”  niên hiệu Chính Hòa thứ 22. Nội dung bia ghi: “Sắc chỉ cho xã Sơn Đình giữ phận sự tạo lệ (trông nom phục dịch) Chùa Tây Thiên, Phù Nghì trên núi Tam Đảo”. Hằng năm vào ngày 15 tháng 2 âm lịch, đây cũng là nơi khởi hành rước kiệu Bát Cống về Đền Thỏng trong ngày chính hội Lễ hội Tây Thiên [5].

Đền Thỏng. Trong "Tự điển Bộ Lễ" triều Lê năm 1763, ngôi đền này đã từng được biết đến với tên gọi là đình của xã Sơn Khổn, huyện Tam Dương, trấn Sơn Tây. Hiện nay, đền thuộc thôn Đồng Thỏng, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo. Ngoài ra, do nằm ngay dưới chân núi, nên đền này còn có tên là Đền Trình, với ý là khách hành hương trước khi đăng sơn lên Đền Thượng, nơi thờ chính của Quốc Mẫu Tây Thiên, cần phải vào trình báo tại đây.

Phía trước sân đền còn có một tấm bia đá bốn mặt đề “ Tam Đảo Linh sơn” lập năm Bảo Thái thứ 5 (1724) và hai cây Đại cổ kính có tuổi ước tính hàng trăm năm. Trong đền, trên cung cấm có tượng Quốc Mẫu ngồi trên long ngai. Đây cũng là nơi diễn ra các sự kiện chính của phần Lễ trong Lễ hội Tây Thiên hàng năm với Lễ dâng hương, Lễ khai hội, Lễ tế của các đoàn tế vào ngày 15 tháng 2 âm lịch hàng năm. Dưới sân Đền Thỏng còn có một cây đa cổ thụ, một biểu tượng rất đặc trưng của Khu danh thắng Tây Thiên. Để giữ cho cây đa có thể tồn tại trước sự tàn phá mãnh liệt của thiên nhiên, núi rừng, ban quản lý đã tạo hình các rễ giả làm cột chống, nhờ vậy vừa không làm mất mỹ quan di tích vừa giúp cho cây Đa này đứng vững, hiên ngang tồn tại để lớp con cháu hậu thế có cơ hội được chiêm ngưỡng [5].

Đền Thượng. Là ngôi đền quan trọng nhất trong hệ thống các đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, đền Thượng được coi là nơi ở và là nơi thờ chính của bà với thần hiệu “ Tam Đảo sơn Trụ Quốc Mẫu”.  Khu đền nằm ngay trên sườn núi Thạch Bàn. Trước đây ngôi đền này có kết cấu 5 gian, hai trái giống như những ngôi nhà của người Việt ở đồng bằng, một bên thờ Phật và một bên thờ Quốc Mẫu. Song do sự tàn phá của tự nhiên và qua bao thăng trầm của lịch sử ngôi đền xưa, bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 2003, khi trùng tu người ta đã xây dựng Chùa và Đền thành hai đơn nguyên tách biệt. Chùa mới có tên là Thiên Phúc Tự hiện do các Ni cô tại tịnh thất Tây Thiên trông nom [5].

Đền Thượng được xây dựng lại và đưa vào phục vụ khách thăm quan vào tháng 10 năm 2009. Hiện nay, quần thể khu Đền Thượng đã được quy hoạch xây dựng khang trang hơn rất nhiều, trên diện tích quy hoạch khoảng 2,865ha, với các công trình kiến trúc chủ đạo như: Đền Thượng, Đền Tam Tòa Thánh Mẫu, Đền Cô Chín, Đền Mẫu Hoàng Thiên cùng với các công trình phụ trợ khác; nhà Tả mạc, Hữu mạc, nhà công quán, nhà thường trực của Ban quản lý, khu ki ốt dịch vụ...

Ngoài những ngôi đền nổi tiếng kể trên, trong khu danh thắng Tây Thiên, còn có những ngôi đền khác, tuy không có quy mô và nổi tiếng bằng. Song, cũng nhiều bí ẩn và linh thiêng như: Đền Cậu, Đền Cô…Theo tuyến đường du lịch, qua Đền Thõng khoảng 1,5 km, du khách sẽ tới Đền Cậu, đường đi đã được lát đá và kè bậc khá thuận lợi, hai bên đường là những hàng cây rợp bóng che mát. Khách hành hương đến Đền Cậu, ngoài cầu tài, cầu phúc, lộc, thọ, còn để cầu duyên. Đền Cậu được dựng theo cách thờ Cô, thờ Cậu của tín ngưỡng Tứ phủ. Trong điện thờ có hai pho tượng đứng, được đặt trong khám, gồm một nam, một nữ. Tượng nam đội khăn cuốn màu vàng, hai bên tai có hai bông hoa rũ xuống, mình mặc áo chẽn thắt đai vàng. Tượng nữ đội khăn cuốn màu xanh, hai bên tai cũng có hoa rũ xuống, mình mặc áo chẽn màu xanh, ngoài khoác áo choàng xanh [4].  Họ tạo thành một cặp xứng đôi, trong tư duy lưỡng hợp.

Đền Cô cách Đền Cậu khoảng 2 km, đền thờ Cô Bé (Cô thứ mười hai trong tín ngưỡng thờ Tứ Phủ). Đền này đã có từ rất lâu và hiện là nơi thờ Tứ Phủ Thánh Cô. Nhờ nằm trong khu vực rừng cấm quốc gia, nên khung cảnh thiên nhiên ở đây còn giữ được những nét đẹp hoang sơ và huyền ảo. Bao quanh khu đền là rừng nguyên sinh với những quần thể động thực vật đa dạng, phong phú, không khí trong lành, thanh nhã, thoáng đãng, yên bình. Ngay cạnh đền có dòng suối Giải Oan và một chiếc giếng cổ, nhiều khách hành hương đến đây đã thừa nhận rằng suối này rất linh thiêng. Nếu được uống nước lễ lấy từ suối hoặc giếng này thì sẽ cảm thấy tịnh tâm và thanh thản. Nhờ vậy, đền Cô Bé thu hút được rất nhiều du khách gần xa.

Ngoài ra, ngay tại trung tâm thị trấn Tam Đảo, những địa danh Nhà thờ Đá, Đền bà Chúa Thượng ngàn, Am Vua  Bà… cũng là những nơi  tâm linh, thu hút đông đảo, du khách đến thăm quan và hành lễ tâm linh.

Trong khu di tích danh thắng Tây Thiên, còn địa danh gần đây đã rất quen thuộc với đông đảo đồng bào Phật tử, đó là Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên. Thiền viện này, tuy mới được xây dựng khoảng năm 2004, song thực tế là đã được kế thừa trên nền của một ngôi chùa cổ có từ rất lâu đời. Theo Thượng tọa Thích Kiến Nguyệt, viện chủ trụ trì Thiền viện, thì Thiền viện này đã được xây dựng trên nền một ngôi Chùa cổ có tên là Thiên Ân Thiền Tự.

Chùa được xây dựng ở cao độ khoảng 250m so với mực nước biển, mặt bằng tương đối rộng rãi. Trong quá trình làm nền móng làm còn thấy những kè đá xếp tương đối nguyên vẹn, những bậc đường đi lên xuống là những khối đá to bằng phẳng, do Sư Tổ ngày xưa khéo chọn xếp.

Tương truyền, đó là một trong ba ngôi chùa cổ có từ thời Hùng Vương, gồm: Thiên Ân Thiền Tự, Thiên Quang Thiền Tự và Hoa Long Thiền Tự.

Hiện tại, chúng tôi vẫn chưa có dịp khảo sát kỹ các cổ tự này, song ở Tây Thiên vẫn còn lưu giữ được ba ngôi mộ cổ ghi danh hiệu ba vị thiền sư là: Giác Linh Ngã, Võng Sơn Thiền Sư, Cúc Khê Thiền sư. Giải mã về các hiệu danh này, bước đầu đã cho thấy: Ba chữ “Giác Linh Ngã” nghĩa là sự khẳng định. Ta là người hiểu rõ (hay giác ngộ) được sự thiêng liêng. Phải chăng, ngài là người đắc đạo đầu tiên ở Tây Thiên Còn hai vị thiền sư sau, một vị là lấy hiệu “Núi”, một vị lấy hiệu là “Khe”, đều là những đặc trưng tiêu biểu của cảnh trí trí tự nhiên trong khu vực . Phải chăng, các vị đã dựa theo đó mà đặt ra hiệu danh, tưởng tượng cho sự thiêng liêng giác ngộ: có Núi, có Khe (Nước), có Dương và có Âm.

Ngày nay, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên đã trở thành là một trong 3 thiền viện lớn nhất của Việt Nam và là nơi đào tạo về Phật giáo một cách có hệ thống. Tạo điều kiện để Phật giáo Việt Nam phát triển và giao lưu với thế giới.

Một điểm đáng chú ý nữa ở Tây Thiên là các dấu tích di sản văn hóa và danh thắng thường kết hợp hòa quyện nhau như là một quần thể di tích - danh thắng tổng hợp. Ở đó, chúng ta thấy có đủ các loại hình di tích lịch sử - văn hóa, như: Di tích khảo cổ (Đồng Cổ, Thiên Ân, Cự thạch), di tích lịch sử (Văn bia, Đồng Ma, Ao Dứa), di tích kiến trúc nghệ thuật (đền Thượng), danh lam thắng cảnh (suối Vàng, thác Bạc). Các loại hình di tích này đan xen, hòa quyện với nhau, rất khó có thể phân định rạch ròi, tạo nên một hệ thống di tích - danh thắng liên hoàn, đa dạng, bí hiểm và linh thiêng. Nơi đây hội tụ cả 3 yếu tố: Tâm linh -  Tín ngưỡng - Thiên nhiên. Do vậy, không chỉ trong mùa lễ hội, mà quanh năm đều thấy du khách thập phương đến Tây Thiên. Ngoài ra còn có hàng đoàn học sinh, sinh viên đến học tập, nghiên cứu,  leo núi , khám phá cảnh rừng nguyên sinh.

3. Danh thắng và tâm linh[sửa | sửa mã nguồn]

Khách hành hương đến Tây Thiên lần đầu, thường cảm thấy ngỡ ngàng bởi sự đa dạng và đan xen của yếu tố tâm linh và danh thắng. Sự đa dạng đó còn thể hiện ở tính chất phức hợp trong thờ tự và tín ngưỡng với sự hội tụ cả đạo Phật (chùa), đạo Lão (am), và đạo Nho (đền). Điều này, đã góp phần làm cho Tây Thiên thơ mộng trở nên huyền bí và linh thiêng hơn.

Ngày nay, đa phần chúng ta đều hiểu "Tây Thiên" là gắn với địa danh của Phật giáo, song bắt đầu từ bao giờ vẫn còn là câu hỏi. Truyền thuyết dân gian vùng Tam Đảo nói rằng, ngay từ thế kỷ thứ IV trước Công nguyên, tại núi Thạch Bàn, đã có các đệ tử của Đức Phật tìm đến và làm nơi trụ trì tu hành. Nhiều khả năng, các nhà sư đầu tiên đó đến từ Ấn Độ (Tây Thiên). Từ đó, vùng núi này mang tên "Tây Thiên" với nghĩa là “nơi các nhà sư Ấn Độ tu hành”. Đó cũng là cách để các đệ tử đời sau, ghi nhớ các nhà sư đầu tiên mang đạo Phật vào Việt Nam. Dần về sau, với các phật tử Việt Nam, "Tây Thiên" đã trở thành là tên của thế giới cực lạc, thế giới mà Đức Phật và các đệ tử ưu tú của Ngài ở. Tây Thiên đã được coi là một trong những nơi xuất phát của Phật giáo Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, trong hệ thống các huyền thoại về thời kỳ dựng nước, ba ngọn núi "Tam Đảo - Ba Vì - Nghĩa Lĩnh" luôn được coi là vùng đất linh thiêng, là "ba cột trụ đỡ trời” của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc mà trung tâm là đồng bằng châu thổ sông Hồng. Do vậy theo ý, này thì Tây Thiên chính là bầu trời phía tây của vùng đồng bằng Bắc Bộ và cũng là nơi các thần tiên trên trời thường lui xuống, tụ hội, vân du. Chính truyền thuyết về vua Hùng lên núi cầu tiên rồi cưới nàng Lăng Thị Tiêu đã phần nào phản ánh quan niệm này.

Sau này, khi hệ thống huyền thoại về cội nguồn dân tộc hình thành, thì ba ngọn núi thiêng trên cũng đã sớm được tích hợp vào hệ thống các huyền thoại thời các vua Hùng dựng nước. Cũng rất tương đồng, khi ở cột trụ phía đông bên kia, Sơn Tinh Tản Viên, kết duyên với con gái vua Hùng và trở thành vị tướng phò vua diệt Thục, thì ở cột trụ phía tây này, Hùng Chiêu Vương cưới nàng Lăng Thị Tiêu là người tiên và cùng giúp vua đánh quân Thục. Các huyền thoại này đã góp phần giải mã về quá trình hình thành Nhà nước sơ khai thời xa xưa tại vùng Tam Đảo.  Xu hướng tích hợp tín ngưỡng - văn hóa thờ thần núi (Tản Viên, Tam Đảo, Nghĩa Lĩnh) vào hệ thống huyền thoại Hùng Vương dựng nước đã là yếu tố quan trọng thúc đẩy, dẫn tới sự nhân thần hóa việc thờ thần núi ở Bắc Bộ, mà trước tiên là hai ngọn núi thiêng Tam Đảo (Núi Mẹ) và Ba Vì (Núi Cha).

Sau này, việc xây dựng biểu tượng núi thiêng bảo trợ cho quốc gia và kinh thành Thăng Long còn được tiếp tục, củng cố và hiện thực hóa bằng việc phong thần của các triều đại, Lý, Trần, Lê…cũng như tổ chức các nghi lễ thờ cúng mang tính quốc gia đối với hai vị thần núi này. Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, đây chính là lần "tăng quyền” thứ nhất cho các vị thần núi. Các vị thần núi từ là "nhiên thần" mà đã trở thành những "nhân thần" có sức mạnh, công trạng gắn bó với lịch sử thời kỳ lập quốc cũng như củng cố, bảo trợ quốc gia tự chủ của dân tộc Việt.

Cùng với việc nhân thần hóa và nam tính hóa thần núi Tản Viên thành nam thần thì việc nhân thần hóa và nữ tính hóa thần núi Tam Đảo thành nữ thần cũng là lẽ tự nhiên và phù hợp với tâm thức dân gian. Tương truyền, ngọn núi Tam Đảo là nơi các thần tiên trên trời thường xuống ngao du, đàn hát, là nơi các đạo sĩ lui tới tu tiên. Truyền thuyết về vua Hùng Chiêu Vương thứ 7 đi tuần du ở núi Tam Đảo, để cầu Phật và cầu Tiên, chắc cũng không nằm ngoài mạch suy luận dân gian này.

Biểu tượng Quốc Mẫu Tây Thiên không chỉ được "tăng quyền” do quá trình hội nhập vào hệ thống huyền thoại hình thành quốc gia dân tộc và còn được tiếp tục  "tăng quyền” nhờ sự hội nhập tôn giáo - tín ngưỡng. Đó là sự hội nhập việc thờ nữ thần núi với Phật giáo và Đạo giáo dân gian (Mẫu Tam phủ, Tứ phủ). Quốc Mẫu Tây Thiên đã trở thành là một trong hai Quốc Mẫu có từ thời dựng nước, với điểm thờ quan trọng nhất là ngôi đền Thượng nằm trên núi Thạch Bàn, nơi ấy trong tâm thức người Việt là nơi đất Mẹ - đất Mẫu, nơi “nước trong nguồn chảy ra”.

Tại Tây Thiên, tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật hòa quyện vào nhau, tạo thành một bầu không khí thanh tịnh, linh thiêng ít nơi nào có được. Vì vậy, những người hành hương tới đây, luôn tin rằng những nguyện ước của mình sẽ được chứng tâm và thành hiện thực. Thật may mắn khi được đến Tây Thiên trong một ngày đầu xuân và khám phá những điều huyền bí và linh thiêng của vùng đất này cũng như thỏa những ước nguyện về một cuộc sống an lành và hạnh phúc.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đường quốc lộ 2B nối thị trấn Tam Đảo (khu du lịch Tam Đảo) với thành phố Vĩnh Yên, chạy theo hướng bắc nam, ngoài ra còn có TL 302, TL 309, đường liên huyện, liên xã được đầu tư mới, mở rộng cùng hệ thống điện chiếu sáng đáp ứng nhu cầu giao thương, đi lại của người dân và du khách đến với Tam Đảo.

Địa danh nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khu du lịch Tam Đảo nằm trên địa bàn thị trấn Tam Đảo
  • Quần thể khu danh thắng đền Tây Thiên là di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt thuộc thị trấn Đại Đình
  • Danh thắng Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên thuộc thị trấn Đại Đình
  • Thiền viện trúc lâm An Tâm - thị trấn Đại Đình.
  • Bảo tháp Mandala Tây Thiên.
  • Tịnh thất tây thiên.
  • Một phần của Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trên địa bàn huyện.
  • Ngoài ra trên địa bàn còn có nhiều điểm đến ấn tượng như Hồ Xạ Hương, Hồ Làng Hà, Hồ Vĩnh Thành, Hồ Đồng Mỏ, Tịnh viện Vân Sơn.

Lễ hội Tây Thiện - Tục thờ Mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội Tây Thiên: Giao lưu và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Từ xa xưa, miền đất Tổ Vĩnh Phúc vốn được coi là một trong những trung tâm hội tụ và lan tỏa tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện rất sớm ở Tây Thiên. Theo ngọc phả thời Hùng Vương, Mẫu Tây Thiên họ Lăng, tên chữ là Ngọc Tiêu, người thôn Đông Lộ, xã Đại Đình ngày nay. Bà đã có nhân duyên cùng vua Hùng thứ VII là Chiêu Vương khi nhà vua cầu “Tiên tử” ở núi Tam Đảo và được tuyển làm Hoàng phi. Từ đó, đã mở ra một triều đại mới với 7 đời vương kế tiếp nhau, ở ngôi tới 200 năm, là thời kỳ thiên hạ thái bình, xã hội ổn định. Trong Từ điển Bộ Lễ nhà Lê, bà được xếp thứ hai sau Tản Viên Sơn Thánh, được vinh phong là: “Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Tối Linh Đại Vương”.

Trên núi Thạch Bàn, đền thờ bà tọa lạc cùng với chùa Tây Thiên, nên còn được gọi là đền Thượng Tây Thiên. Đền thờ Bà nằm trong khu vực núi rừng có cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ, nguyên sơ, quanh năm mây vờn, thông reo, chim hót...Nơi đó, đã trở thành vùng "Địa linh" lớn của cả nước, nơi đây không chỉ có đền thờ Quốc mẫu có mà còn có những dấu tích rất sớm của Phật giáo. Nhiều tài liệu phật giáo đã coi Tây Thiên là một trong những nơi phát tích đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Khu di tích danh thắng Tây Thiên với hệ thống các đền thờ có tuổi hàng nghìn năm tại tỉnh Vĩnh Phúc được lập để tưởng nhớ công ơn của bà. Quốc Mẫu Tây Thiên vừa là con người của huyền sử, vừa là con người thật với lai lịch rõ ràng. Tưởng nhớ công đức của Bà, bao đời nay, các triều đại nhà nước Việt Nam từ Đinh, Lý, Trần, Lê đều sắc phong Bà là: Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Tối Linh Đại Vương, hàng năm cử các quan đại thần lên cúng tế. Nhân dân khắp nơi trong vùng, không kể khác biệt về dân tộc hay tín ngưỡng cũng đều nô nức tham gia. Lễ hội Quốc Mẫu Tây Thiên cũng chính là dịp thể hiện rõ ràng nhất những nét văn hóa độc đáo và đặc sắc đó.

Trong lễ hội Tây Thiên, chúng ta dễ dàng bắt gặp sắc áo của người dân tộc Sán Dìu hòa với màu áo của người Kinh cùng tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ và trò chơi dân gian. Lễ hội Tây Thiên diễn ra hàng năm vào ngày rằm tháng 2 âm lịch. Vào ngày này, hàng vạn người dân trong vùng, du khách thập phương nô nức kéo về, trước là để thắp hương tưởng nhớ Quốc Mẫu, sau là xem các hội diễn cổ, leo núi thưởng ngoạn danh thắng...

Lễ hội được tổ chức ba ngày với phần tế lễ và nhiều trò chơi dân gian như thi hát dân ca của người dân tộc thiểu số Sán Dìu, thi nấu cơm, thi hú đáo, làm bánh chưng, bánh dày, kéo co, chọi gà...Những trò chơi mang đậm bản sắc miền bán sơn địa, của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước gắn với văn hoá phồn thực, như: bịt mắt bắt dê, đu tiên...; các làn điệu dân ca của người Việt; khúc hát Sọong-cô của người Sán Dìu định cư ở chân núi Tam Đảo hay các môn thể thao như: bóng chuyền, vật dân tộc, chọi gà, cờ tướng, kéo co cùng các cuộc thi làm bánh chưng bánh dày và cắm trại của các xã, thị trấn lân cận. Tới Tây Thiên, ngoài tham dự lễ hội, du khách cũng có dịp thưởng thức các món ẩm thực địa phương tại nơi đây.

Dọc con đường trảy hội từ Đền Thỏng lên đến Đền Thượng, khách du lịch sẽ thấy có rất nhiều sản vật do người dân địa phương tự tay làm ra, bày bán. Tùy theo mùa, về rau quả có su su, diếp cá, măng vầu, măng sặt, măng dang, quả dọc, quả bứa, tai chua, trám (đen, trắng), dọc mùng, quả đậu kem, măng ớt, mía, gần đây có thêm rau sắng; Về củ thì có củ từ, khoai môn, khoai lang, sắn dây; Về động vật thì có dê núi, gà ri, vịt cỏ, bò, trâu, lợn lửng... Rau, củ ở đây không bán theo cân mà tính theo mớ, theo bó để khách tùy ý chọn lựa với giá cả phải chăng

Du khách có thể thưởng thức những món ăn ngay tại chỗ, theo những công thức nấu riêng của người dân địa phương hoặc mua về làm quà dưới dạng tươi sống. Những người bán hàng đều là nhà nông bản địa còn các loại rau củ đều được trồng và khai thác từ rừng, từ vườn nên tươi ngon và an toàn. chắc chắn du khách sẽ không thể quên được vị tươi ngọt, đậm đã của các món rau, món măng hay món gà ri thịt chắc và thơm ngon. Ngoài ra, còn có các loại cây thuốc dùng để chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, hay bài thuốc tắm làm tinh thần sảng khoái, thân thể thêm dẻo dai đã được đúc kết từ nhiều năm từ dân tộc Dao.

Tục thờ Mẫu ở Tây Thiên: Bản địa , hội nhập và lan tỏa[sửa | sửa mã nguồn]

Tín ngưỡng thờ Mẫu đã có nguồn gốc từ rất lâu và là hiện tượng phổ biến trong xã hội Việt Nam. Khởi nguồn từ sự biết ơn người đàn bà – Người mẹ cộng đồng, trong nhận thức thuở hoang sơ của con người. Từ thuở nguyên sơ đến nay, người Việt có chung một tín ngưỡng thờ Mẹ (Mẫu). Mọi vinh quang, trách nhiệm đều quy về người Mẹ. Mẹ quê hương (ai đi xa đều hướng về quê Mẹ), đất Mẹ, Mẹ Tổ quốc, Mẹ Việt Nam anh hùng; trách nhiệm của Mẹ (Cái) cũng rất nặng nề: Con dại cái mang, con hư tại mẹ; những vai trò quan trọng thuộc cũng về mẹ, như: Sông cái, đường cái, con cái; khi ốm đau, gian khổ cũng kêu tên Mẹ…Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và tôn vinh và thờ phụng những vị Nữ thần gắn liền với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ được người đời cho rằng có quyền năng sáng tạo, sinh ra, bảo trợ và che chở cho cuộc sống của con người như: trời, đất, sông, nước, rừng núi …Ngoài ra, cũng là kế thừa tục thờ mẫu này, nhân dân ta còn thờ những Thái hậu, Hoàng hậu, Công chúa, những người mẹ khi còn sống tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mất về phù hộ cho người an, vật thịnh ..

Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt không chỉ là sự tôn thờ người mẹ có công lao sinh ra, nuôi dưỡng và che chở cho con mà còn là khát vọng, niềm tin mãnh liệt vào quyền năng thiêng liêng che chở cuộc sống bình yên, mùa màng tốt tươi, thoát khỏi thiên tai, địch hoạ….Tín ngưỡng Mẫu là tín ngưỡng cội nguồn, đích thực của Việt Nam, trường tồn với dân tộc [8]. Đây là tín ngưỡng có được lòng tin cao cả, có quy mô lớn cả về tâm linh và lượng tín đồ trong cả nước. Người Việt Nam ta có câu: “Phúc đức tại mẫu” để khuyên các bà mẹ ăn ở phúc đức, không làm điều ác và điều không hay cho cộng đồng. Như vậy, sau này con cháu sẽ được những điều tốt lành, để phước cho đời sau. Và các con cháu cũng sẽ làm theo bà, theo mẹ mà nhắc nhau những điều khuyến thiện trừ ác. Đức tính tốt đẹp này có từ cái thời xa xưa và được truyền lại cho đời sau bằng những lời truyền miệng, ca dao, bài hát… Và trong tâm thức sâu thẳm của mọi người. Mẫu (mẹ) là tất cả, là cội nguồn của sinh - diệt. Từ mẹ, người ta được sinh ra, đến khi chết, lại trở về đất mẹ.

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tây Thiên cũng đã trải qua các nấc thang khác nhau, từ nữ thần núi đến Mẫu thần và Mẫu Tam phủ. Ở giai đoạn sơ khai, việc thờ một vị thần núi, kể cả dưới dạng nữ tính nữa thì cũng là hiện tượng phổ biến của tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Bởi vì, có thể là các bộ lạc sinh sống thời tiền sử ở đây tuân theo chế độ mẫu hệ, thì thần núi của họ là nữ thần, cũng là điều thường tình.

Tuy nhiên, như nói ở trên, núi Tam Đảo không phải là các ngọn núi bình thường như các ngọn núi khác, nó là ngọn núi thiêng của quốc gia cổ đại Văn Lang - Âu Lạc. Trong tâm thức dân gian, cùng với Tản Viên và núi tổ Nghĩa Lĩnh, đó là  "ba trụ đỡ trời ” của quốc gia cổ đại này. Do vậy, các vị thần núi này sớm được nhân thần hóa và trở thành những thần điện của vương quốc, và núi Tam Đảo hiện thân là vị tiên đã kết hôn với Vua Hùng và trở thành "Quốc Mẫu”, tức là một thứ bậc cao hơn nhiều so với các vị nữ thần bình thường. Vị trí "Tam Đảo Trụ Quốc Mẫu” và được triều đình từ thời Lê thờ phụng như một thượng đẳng tối linh thần [6, 7]. Tuy nhiên, như đã thấy hiện nay, quá trình biến đổi từ nữ thần đến Mẫu thần không chỉ dừng lại ở đó, mà trong lịch sử, không rõ bắt đầu từ lúc nào đã diễn ra quá trình hội nhập giữa thờ Mẫu thần Tam Đảo với hệ thống Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ đã hình thành và phát triển từ vùng hạ lưu sông Hồng từ thế kỷ XVI-XVII ngược dòng trở lên trung du và vùng núi.

Sự gặp gỡ và hội nhập giữa hai hình thức thờ Mẫu này, một từ miền núi xuống, một từ vùng đồng bằng ven biển dội lên đã tạo cho việc thờ Mẫu ở Tây Thiên mang đặc thù địa phương rõ rệt, đó là tục thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, chỉ tồn tại ở Vĩnh Phúc, tạo thành một vùng thờ Mẫu độc đáo này. Sự hội nhập này thể hiện trước nhất là ở điện thần. Trong các ngôi đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên ta thấy có sự lồng ghép ở những mức độ khác nhau giữa việc thờ Mẫu tam phủ và thờ Quốc Mẫu Tam Đảo. Vị thần chủ trong các ngôi dền này đều là Quốc Mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu được đặt ở vị trí trung tâm và cao nhất của điện thần Đạo Mẫu Tam phủ.

Chẳng hạn, ở đền Thỏng, trên ban thờ cao nhất đặt trên sàn gỗ là tượng Quốc Mẫu Tây Thiên, còn các tượng phối thờ ở tầng trệt là tượng Mẫu Thoải, Mẫu Thượng ngàn ở hai bên, phía tường sau tầng trệt là thờ Ngũ Dinh (Ngũ hổ), hai bên là thờ Cô và Cậu đều là các vị thánh của điện thần Tứ phủ. Còn ở các đền Mẫu Hóa, Mẫu Sinh ở xã Đông Lộ (Tam Đảo) thì tượng Quốc Mẫu đặt ở vị trí trên cùng, còn phía dưới là điện thần Đạo Mẫu Tam phủ, như Tam tòa Thánh Mẫu, các Chầu, các Quan lớn, Các Ông Hoàng, các Cô và Cậu…

Trong các đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, người ta có thể hầu đồng, trang phục, nghi lễ cũng giống như hầu đồng của Đạo Mẫu Tam phủ. Cũng theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, đã có lần ông được các bà đồng ở đây cho biết là khi Lên đồng, Quốc mẫu có giáng đồng với tư cách là Mẫu đệ nhất thượng thiên [7, 8]. Và như vậy, ở đây đã có sự đồng nhất giữa Mẫu thượng Thiên của đạo Mẫu Tam phủ, mà Bà Liễu Hạnh Thánh mẫu là hiện thân với Quốc Mẫu Tây Thiên. Sự hội nhập này khiến cho một lần nữa Quốc Mẫu Tây Thiên được "tăng quyền” và mở rộng phạm vi, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay. Hiện nay, trong các ngôi đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, thường thấy có diễn ra nghi lễ Lên đồng, có khi cùng lúc mỗi đền có tới 3-4 ban hầu thánh. Những ông đồng, bà đồng này thường là người địa phương Vĩnh Phúc, nhưng có không ít các ông đồng, bà đồng từ các nơi khác tới, nhất là từ các đô thị lớn, như Hà Nội, Hải Phòng, thậm chí cả từ thành phố Hồ Chí Minh ra. Cho thấy rằng, đã và đang diễn ra mạnh mẽ quá trình Mẫu tam phủ, tứ phủ hóa trong tín ngưỡng thờ Quốc Mẫu Tây Thiên. Hơn nữa, cũng giống như các điện phủ thờ Mẫu khác, ngày kỵ Quốc mẫu là vào mùa xuân, tháng 2, 3 âm lịch.

Ngoài ra, cũng có một bản sắc văn hóa rất độc đáo khác nữa trong tục thờ Mẫu thần ở Tây Thiên là đã và đang diễn ra quá trình hội nhập Phật – Mẫu. Nhiều nghiên cứu về Phật học đã cho thấy, Tây Thiên là nơi Phật giáo du nhập và phát triển từ rất sớm. Ngay trong khu danh thắng Tây Thiên chỉ với chiều dài khoảng 11 km, chiều ngang khoảng 1 km đã có tới 8 ngôi chùa, trong đó có Chùa Đồng cổ ở chân núi Thạch Bàn, nơi các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các di tích kiến trúc thuộc thời Lý - Trần. Như vậy có thể nói ở Tây Thiên, chùa thờ Phật và đền thờ Quốc Mẫu luôn luôn cặp đôi với nhau, nói cách khác, nơi nào có đền Mẫu thì có chùa và ngược lại.

Tàii liệu nghiên cứu trong vùng cũng cho rằng, các ngôi chùa ở Tây Thiên không chỉ là chùa làng, mà chắc rằng trong lịch sử, nơi đây đã từng là một trong các trung tâm Phật giáo lớn của nước ta. Ngay cái tên Tây Thiên đã gợi nên ý niệm về cõi Phật, giống như Tây Trúc ở Ấn Độ. Ngày nay, ngoài các ngôi chùa cổ, ở Tây Thiên đã có thêm Thiền Viện Trúc lâm Tây Thiên, đó là một trung tâm tu hành, nghiên cứu và giảng dạy Đạo Phật của nước ta. Chính sự du nhập và kết hợp Mẫu - Phật, Phật - Mẫu này đã không chỉ nâng tầm cho việc thờ Mẫu Tây Thiên mà còn tạo điều kiện quảng bá rộng hơn cho Phật giáo.

Điều này đáp ứng tâm thức và ước nguyện của nhân dân. Người ta hướng về với Phật là hướng về cái thiện, tu nhân tích đức để hưởng phúc kiếp sau, còn đến với Mẫu - Mẹ với ước vọng Mẫu mang lại sức khỏe, may mắn và tài, lộc cho đời sống hiện tại. Việc tỉnh Vĩnh Phúc chủ trương bảo tồn và nâng cấp Lễ Hội Tây Thiên hiện nay với ý tưởng "Về với Phật, đến với Mẫu” là thể hiện và đáp ứng tâm thức ấy.

Việc thờ Quốc Mẫu Tây Thiên còn thể hiện sự tích hợp văn hóa liên tộc người. Hiện tại, trên địa bàn các nơi thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, đặc biệt ở các ngôi đền Mẫu Hóa, Mẫu Sinh đều là làng của người Sán Dìu. Họ không chỉ là chủ nhân thờ phụng Mẫu ở các ngôi đền chính này, mà còn tích cực tham gia các lễ hội hàng năm vào các dịp ngày đản và ngày kỵ Quốc Mẫu. Khi chúng tôi phỏng vấn các cụ người Sán Dìu thì họ đều khẳng định Quốc Mẫu Tây Thiên chính là vị Mẫu thần của dân tộc họ và họ tham gia lễ hội với tư cách là chủ nhân văn hóa. Mặc dù, như chúng ta biết, người Sán Dìu (Sơn Nhân) là tộc người thiểu số ở nam Trung Quốc di cư vào nước ta khoảng trên dưới 00-500 năm nay.

Có thể giải thích hiện tượng này từ cơ sở tương đồng văn hóa. Rất có thể ngay từ quê hương xưa, họ đã từng tôn thờ vị nữ thần núi, nên khi đến Việt Nam, họ đã sớm hòa nhập vào việc tôn thờ Quốc Mẫu Tây Thiên và coi đó như là văn hóa tín ngưỡng của chính mình. Sự hội nhập văn hóa này khiến cho mối quan hệ giữa người Việt và người Sán Dìu trong vùng càng trở nên gắn bó và đoàn kết hơn. Đó cũng là nét độc đáo của truyền thống văn hóa của nhân dân vùng Tây Thiên Vĩnh Phúc.

Tục thờ Mẫu ở Tây Thiên đã là yếu tố cốt lõi tạo nên một không gian văn hóa tâm linh với vẻ đẹp thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, ở đó các di tích kiến trúc thờ cúng đã có tuổi lâu đời, ít nhất cũng từ thời Lý, Trần, mà tiêu biểu là ngôi chùa đồng. Cũng cần nói thêm rằng, các kiến trúc đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên đều đi liền và gắn kết với các ngôi chùa cổ kính, tạo nên thế liên kết Phật - Mẫu, Mẫu - Phật rất độc đáo. Đó còn là không gian lưu truyền các huyền thoại, truyền thuyết về Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, dù đó là cô gái có công giúp Vua Hùng diệt giặc hay chính là nguyên phi của vua Hùng Chiêu Vương. Từ các huyền thoại, truyền thuyết và các di tích đền, chùa như vậy chính là không gian thiêng diễn ra các nghi lễ, phong tục và lễ hội hàng năm, nơi thu hút các đoàn hành hương từ muôn nơi đỏ về với tâm thức "Về với Phật, đến với Mẫu”. Về với Phật là về với thế giới vĩnh hằng, nơi Tây Thiên cực lạc, còn đến với Mẫu là đến với ước vọng cầu mong Mẫu mang lại cho ta sức khỏe, tài, lộc của thế giới trần thế hiện tồn.

Tam Đảo - Cội nguồn tin ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tín ngưỡng thờ Mẫu đã trở thành mạch nguồn không thể thiếu trong tổng thể nền văn hoá chung, thể hiện khát vọng về sự che chở, bao bọc và yêu thương vô bờ bến về tình mẫu tử của người Việt. Người dân Đại Việt xưa đều thờ: Tam toà Thánh Mẫu. Tục thờ Mẫu của người Việt ra đời trên cơ sở tục thờ nữ Thần; các vị được thờ trong các đền, chùa, miếu, điện, đặc biệt có vị được thờ trong một loại hình kiến trúc riêng (Phủ) như việc thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Trải qua chiều dài lịch sử lâu đời ở nước ta, tín ngưỡng thờ Mẫu đã phát triển trở thành hệ thống Tam Phủ, Tứ Phủ. Từ xa xưa, trong các làng xã và đô thị ở miền Bắc đều thấy có hệ thống Tam Phủ, Tứ Phủ, trong đó đều thờ các Thánh Mẫu rất tôn nghiêm. Mẫu Thượng Thiên (còn gọi là Mẫu Đệ Nhất) cai quản miền trời và làm chủ mây mưa, sấm chớp; trong điện thờ thường được đặt ở chính giữa, mặc áo màu đỏ hoặc hồng. Mẫu Thượng Ngàn (còn gọi là Mẫu Đệ Nhị) cai quản miền rừng núi, cây cối; trong điện thờ thường đặt ở bên trái, mặc áo màu xanh. Mẫu Thoải (còn gọi là Mẫu Thủy, gọi chệch là Mẫu Thoại – Mẫu Đệ Tam) cai quản miền sông nước; trong điện thờ thường đặt ở bên phải Mẫu Thượng Thiên, mặc áo màu trắng.

Trong tâm thức dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, theo xu hướng nhân thần hóa tự nhiên đã luôn coi núi Tam Đảo là núi Mẹ và Ba Vì là núi Cha. Việc thờ thần núi Tam Đảo đã diễn ra quá trình tích hợp văn hóa lâu dài. Vốn là việc thờ thần tự nhiên, núi sông, mang lưỡng tính, thần núi Tam Đảo được nhân thần hóa, nữ tính hóa, thành vị nữ thần. Một cách đối sánh tương đồng, khi mà ở phía bên kia, núi Tản Viên là nam thần, đó cũng là sự phù hợp với tâm thức dân gian. Quá trình nhân thần hóa này có lẽ diễn ra từ thời Lê, thế kỷ XV, với việc phong thần "Trụ Mẫu Quốc”. Việc thờ thần núi Tam Đảo là nữ thần nó có cơ sở tự nhiên và văn hóa của nó. Thứ nhất, đây là ngọn núi phía tây, mà phương tây là biểu tượng của âm tính, tương truyền là ngọn núi có quần Tiên trên trời xuống ngao du, đàn hát, là nơi tu tiên của các đạo sỹ, theo kiểu : Ai người tu tiên đắc đạo, Lên Tây Thiên Tam Đảo mà tu [7, 8].

Không có gì khó khăn lắm khi chúng ta đi tìm khởi nguồn của tín ngưỡng thờ Quốc Mẫu Tây Thiên ở tục thờ núi, mà thường biểu tượng của nó là thờ đá thiêng. Các dấu tích về tín thờ hòn đá dựng - Lập Thạch, một thứ văn hóa Cự thạch nguyên thủy, rồi tục thờ Tam Triệt Thạch, gọi là Đá ba roi. Tương truyền, một thày phù thủy dùng phù phép quất roi vào hòn đá, khiến nó phải "mở miệng” ra ngậm láy các phép thuật của thày Phù thủy vì không muôn truyền cho ai, sau đó quất roi tiếp để đá ngậm miệng lại.

Cũng chính tại địa phận thôn Đông Hội, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc, đầu tháng 5/2009, cán bộ Viện Khảo cổ học Việt Nam và Đại học Văn hóa Hà Nội đã phát hiện được 1 di tích cự thạch ở mạn tây nam chân núi Tam Đảo.

Di tích này nằm trong một thung lũng rộng, trải dài theo hướng tây - đông, hiện đang canh tác trồng lúa. Cách di tích khoảng hơn 100m về phía nam là dòng suối lớn chảy dọc thung lũng. Di tích gồm một tấm đá phiến (gọi là tấm trần), có hình khối giống một con thuyền, với hai bề mặt khá phẳng, chiều dài từ 3,1m - 3,15m, rộng từ 1,05m - 1,10m, dày từ 0,40m- 0,45m, được đặt nằm trên bốn hòn kê và hướng theo trục bắc – nam.

Mặc dù, trên bề mặt và ở các rìa cạnh của tấm đá đã bị lớp phong hóa bao phủ rất dày, nhưng hình dáng của hai đầu tấm đá với đầu phía bắc thu nhỏ hình mũi thuyền và đầu phía nam khá phẳng như đuôi thuyền cho thấy chúng đã được gia công tạo dáng có chủ đích. Ở mỗi một đầu tấm đá được kê cao trên 2 tảng đá to, hình nêm chôn rất sâu trong lòng đất. Cả 4 tảng đá kê phía dưới có cùng chất liệu với tấm trần bên trên. Hiện tại, tấm đá lớn được kê cao hơn mặt đất là 0,5m. Theo bà con địa phương cho biết, còn có một di tích tương tự như vậy nhưng kích thước lớn hơn, cùng nằm trong thung lũng cách đó gần 800m về phía đông, trong một khu đồng trũng. Hiện di tích thứ hai này đã bị bùn lấp phủ.

Kết quả điều tra dân tộc học quanh vùng cho thấy đồng bào dân tộc Sán Dìu ở đây đã có lịch sử cư trú hơn 600 năm. Họ có tục thờ thần đá ở trên ngọn núi lớn gần đó, nhưng tuyệt nhiên không hay biết gì về những di tích cự thạch trên. Cũng không có truyền thuyết dân gian nào liên quan đến di tích trên. Qua khảo sát và điều tra dân tộc học tại địa phương, đoàn khảo sát cho rằng đây chính là loại hình di tích Dolmel, một trong những loại hình của văn hóa Cự thạch...Nhiều nguồn tài liệu cho rằng, đó thường là chỗ tưởng nhớ những nhân vật lỗi lạc, là mộ của thủ lĩnh cộng đồng, hoặc có thể là khu đất thiêng, thần thánh của thị tộc hay bộ lạc, hoặc là chỗ tưởng niệm, thờ cúng tổ tiên. Theo các nhà nghiên cứu cho biết, di tích cự thạch Tam Đảo, Vĩnh Phúc có thể là bằng chứng về tục thờ Thần đá của các cư dân tiền sử nơi đây. So sánh các di tích đồng loại trong khu vực, các nhà nghiên cứu xác định di tích cự thạch Vĩnh Phúc có niên đại khoảng đầu Công nguyên, cách nay gần 2.000 năm. Tương tự, chúng ta còn thấy tục thờ ở một số nơi khác quanh quanh vùng Tam Đảo, Như tục thờ ba hòn đá trắng (Bạch Thạch) ở Tam Dương, được xem như là dấu tích hóa của ba vị đại vương : Cả Nhạc, hai Nhạc, Ba Nhạc thời Triệu Đà…Di tích cự thạch ở Thiện Kế, di tích cự Thạch ở Đồng Dò, ở Sóc Sơn…

Theo sách Việt Điện U linh. trước khi được nhân thần hóa và nữ tính hóa, thần núi Tam Đảo đã được gọi với cái tên là “Thanh Sơn Đại Vương” (Đại Vương thần núi xanh), Thời vua Trần Nhân Tông (1279-1293) đã có tục cầu đảo - cầu mưa ở núi Tam Đảo. thời Lê Nhân Tông (1451) cũng đã lặp lại tục cầu đảo này. Cũng từ thời Lê trở đi, triều đình phong cho thần núi Tam Đảo là Trụ Quốc Mẫu. Như vậy, từ vị thần đá, thần rừng lưỡng tính, một nhiên thần, từ thời Lê trở đi vị thần núi Tam Đảo đã vừa được nhân hóa, vừa nữ tính hóa. Chính truyền thuyết dân gian nêu trên là dấu vết của quá trình chuyển hóa này. Trong không gian của đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, hai ngọn núi ở tả hữu trục sông Hồng là Tam Đảo và Ba Vì ở thời lập quốc Văn Lang - Âu Lạc cũng như sau này kinh đô rời về Thăng Long, có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của dân chúng và triều đình. Trước nhất, về địa lý học, đó là hai ngọn núi cao nhất nằm ngay hai rìa của tam giác châu thổ Bắc Bộ, ngày trời quang mây tạnh, không chỉ ở Phong Châu mà cả Thăng Long - Hà Nội nữa đều nhìn thấy. Theo quan điểm sơn thủy, dù ở Phong Châu hay Thăng Long - Hà Nội thì đó là hai ngọn núi trấn giữ bên tả và hữu, "tả Thanh Long hữu Bạch Hổ”, trở thành hai ngọn núi bảo trợ cho kinh thành. Vì vậy, nhanh chóng vị thàn núi Tam Đảo và núi Ba Vì sớm gia nhập vào hàng thượng đẳng thần trong hệ thống điện thần Việt. Việc từ thời Nhà Trần đến nhà Lê sau này đều có nghi lễ cầu đảo - cầu mưa trên hai ngọn núi này là những chỉ báo.

Như vậy, với quan niệm "vạn vạt hữu linh"  từ tục thờ cúng các nhiên thần, như: thần núi, thần rừng, thần sông... trải qua quá trình nhân thần hóa, nữ tính hóa cùng quá trình hội nhập vào hệ thống huyền thoại hình thành quốc gia, dân tộc và hội nhập tôn giáo tín ngưỡng đã dần hình thành nên tin ngưỡng thờ Mẫu với những nét văn hóa bản địa đặc trưng, như là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và tôn vinh và thờ phụng những vị Nữ thần gắn liền với các hiện tượng thiên nhiên, được người đời cho rằng có chức năng sáng tạo, sinh ra, bảo trợ và che chở cho cuộc sống của con người như: trời, đất, sông, nước, rừng núi …Ngoài ra, nhân dân ta còn thờ những Thái hậu, Hoàng hậu, Công chúa, những người mẹ khi còn sống tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mất về phù hộ cho người an, vật thịnh. Như vây, với sự hiện diện của các di tích văn hóa Cự thạch, tục thờ đá núi, thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, chúng ta có thể hiểu rằng Tam Đảo (Tây Thiên) cũng là một nơi khởi nguồn của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam.

Làng nghề[sửa | sửa mã nguồn]

Là huyện chuyển tiếp giữa vùng núi và đồng bằng các ngành nghề không nhiều và phân tán, quy mô và hiệu quả chưa nổi bật như: nghề mây tre đan ở một số ít hộ tại xã Minh Quang, Hợp Châu. Nuôi thú đặc sản ở một số nơi chân dãy núi. Một số hộ làm và bán đồ lưu niệm Đại Đình, thị trấn Tam Đảo. Sản xuất nông nghiệp gắn liền với thế mạnh của cây su su...

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]